Đánh giá nhận thức của người dân về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi trường nước và đa dạng sinh học của huyện trùng khánh, tỉnh cao bằng - Pdf 30



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐOÀN HỒNG SẮC Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ ẢNH
HƯỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TỚI MÔI TRƯỜNG
NƯỚC VÀ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA HUYỆN TRÙNG
KHÁNH, TỈNH CAO BẰNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Liên thông chính quy
Chuyên ngành : Khoa học môi trường
Khoa : Môi Trường
Khóa học : 2013 – 2015
Giảng viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Chí Hiểu

Thái Nguyên, năm 2014

DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Lượng mưa mùa và năm tỉnh Cao Bằng 12
Bảng 2.2. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt tại tỉnh Cao Bằng 13
Bảng 4.1. Tình hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện Trùng Khánh giai
đoạn 2000 – 2010 22
Bảng 4.2. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ năm 1994 đến năm 2013 28
Bảng 4.3. Tổng lượng mưa hàng năm từ năm 1994 đến 2013 30
Bảng 4.4. Cấu trúc thành phần hệ thực vật 36
Bảng 4.5. Số loài thực vật quý hiếm trong khu bảo tồn 37
Bảng 4.6. Cấu trúc thành phần loài thú 38
Bảng 4.7. Các nguồn gen nông nghiệp đặc sản tại huyện Trùng Khánh 38
Bảng 4.8. Tóm tắt tác động của BĐKH tới ĐDSH 39
Bảng 4.9. Kết quả điều tra tỷ lệ người dân đã nghe nói đến BĐKH 41
Bảng 4.10. BĐKH theo ý hiểu của người dân 42
Bảng 4.11. Nguyên nhân làm cho nhiệt độ tăng 43
Bảng 4.12. Thời tiết hiện giờ và trước đây có thay đổi không 44
Bảng 4.13. Thời tiết thay đổi thất thường có ảnh hưởng đến cây trồng và vật nuôi 45
Bảng 4.14. Lĩnh vực chịu tác động mạnh nhất của BĐKH 45
Bảng 4.15. BĐKH là tốt hay xấu 46
Bảng 4.16. Nhu cầu được đào tạo kiến thức về BĐKH của người dân 46
Bảng 4.17. Nội dung mà người dân mong muốn được đào tạo 47


BĐKH Biến đổi khí hậu
BTNMT Bộ Tài nguyên và Môi trường
ĐDSH Đa dạng sinh học
FFI Tổ chức bảo tồn động vật hoang dã quốc tế
GDP Tổng sản phẩm nội địa
HST Hệ sinh thái
IPCC Ban liên chính phủ về BĐKH
TNN Tài nguyên nước
TTCN Tỷ trọng công nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
MỤC LỤC
Trang

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Lý do chọn đề tài 1
1.2. Mục đích nghiên cứu 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài: 2
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2: TỔNG QUAN CHUNG CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở lý luận 4
2.1.1. Một vài khái niệm cơ bản 4
2.1.2. Cơ sở pháp lí 5

4.2.3. Biện pháp phòng ngừa, ứng phó và thích ứng với BĐKH đối với môi
trường nước trên địa bàn huyện Trùng Khánh. 34
4.3. Ảnh hưởng của BĐKH tới đa dạng sinh học 34
4.3.1. Hiện trạng đa dạng sinh học của tỉnh Cao Bằng và huyện Trùng Khánh
34
4.3.2. Ảnh hưởng của BĐKH tới đa dạng sinh học 39
4.3.3. Các biện pháp phòng ngừa và ứng phó với BĐKH đối với đa dạng
sinh học 41
4.4. Đánh giá chung ảnh hưởng của BĐKH đến môi trường và đa dạng sinh
học theo kết quả điều tra 41
4.5. Đề xuất một số biện pháp bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quả môi
trường nước và ĐDSH thích ứng khi BĐKH 50
4.5.1. Đề xuất một số biện pháp bảo vệ, quản lý và sử có hiệu quả môi trường
nước thích ứng khi BĐKH 50
4.5.2. Đề xuất một số biện pháp bảo vệ, quản lý ĐDSH khi BĐKH 51
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 53
5.1. Kết luận 53
5.2. Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56

1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những thách thức lớn nhất đối
với nhân loại. Biến đổi khí hậu đã và đang tác động nghiêm trọng đến sản
xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới. Nhiệt độ tăng, mực
nước biển dâng gây ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến
nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với công nghiệp và hệ thống kinh tế - xã hội

của BĐKH đã biểu hiện rõ rệt, đó là lượng mưa trung bình năm có xu hướng
suy giảm nhưng số ngày mưa lớn trung bình tháng đã có sự dịch chuyển rõ rệt
từ tháng 7 sang tháng 8 trong vài năm gần đây; tần xuất và cường độ các trận
lũ gia tăng; các hiện tượng cực đoan của thời tiết diễn biến bất thường, đặc
biệt là số lượng và cường độ các đợt rét.
Cùng với những tác động do thiên tai, ngoài đặc điểm khó khăn về điều
kiện phát triển kinh tế nêu trên huyện Trùng Khánh còn là nơi sinh sống của
dân tộc thiểu số (Tày, Nùng) . Số hộ nghèo chiếm tỉ lệ cao, trình độ văn hóa
và nhận thức của người dân đối với các hiện tượng tiêu cực của thời tiết còn
thấp, nên vẫn chưa có những biện pháp phòng ngừa và ứng phó kịp thời với
các hiện tượng bất thường của thời tiết. BĐKH cũng gây ảnh hưởng tiêu cực
đến môi trường nước và đa dạng sinh học của huyện.
Xuất phát từ những lý do đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá
nhận thức của người dân về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi
trường nước và đa dạng sinh học của huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao
Bằng”.
1.2. Mục đích nghiên cứu
+ Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường nước và đa dạng sinh học; Xu
thế biến đổi khí hậu của huyện Trùng Khánh.
+ Đánh giá nhận thức của người dân về mức độ tác động của biến đổi
khí hậu tới môi trường nước và đa dạng sinh học của huyện Trùng Khánh.
+ Đưa ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu và thích ứng với các ảnh
hưởng tiêu cực của BĐKH tới môi trường nước và đa dạng sinh học trên địa
bàn huyện.
1.3. Ý nghĩa của đề tài:
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã được học tập và nghiên cứu.
- Nâng cao nhận thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho
công tác sau này.
- Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.

4

PHẦN 2
TỔNG QUAN CHUNG CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một vài khái niệm cơ bản
2.1.1.1. Thời tiết
Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một điểm nhất định, được xác định
bằng tổ hợp các yếu tố như: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, mưa. Các
hiện tượng nắng, mưa, mây, gió, nóng, lạnh… thường thay đổi nhanh chóng
qua từng ngày, từng tháng, từng năm. Thời tiết có thể được dự báo hàng ngày,
hàng giờ hay dài hơn đến một tuần.
2.1.1.2. Khí hậu
Khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nào đó. Ví
dụ như: Trong phạm vi một tỉnh, một nước, một châu lục hoặc trên toàn cầu
trên cơ sở của một chuỗi dữ liệu dài (khoảng 30 năm trở lên).
2.1.1.3. Biến đổi khí hậu
BĐKH là “sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao
động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài, thường là từ vài thập kỷ hoặc
dài hơn”.
Theo công ước chung của Liên hiệp Quốc về BĐKH: “BĐKH là những
ảnh hưởng có hại của BĐKH, là những biến đổi trong môi trường vật lý hoặc
sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể đến thành phần, khả năng phục

triển tồn tại trên trái đất. Hiệu ứng này giống như hiệu ứng giữ nhiệt của mái
nhà kính.
2.1.1.6. Các hiện tượng thời tiết cực đoan
Là các hiện tượng trong đó các yếu tố khí tượng nằm ở hai phía, thậm trí
vượt ra ngoài cực trị của dao động thời tiết…(các hiện tượng thời tiết dị
thường như thiên tai, mưa lớn và không có mưa dài ngày, hạn hán và lũ lụt,
nắng nóng, rét hại,…) các hiện tượng thời tiết cực đoan thực chất là
những thiên tai xảy ra bất thường, gây ra các tổn hại lớn cho tự nhiên và
đời sống xã hội
2.1.1.7. Thích ứng với BĐKH
Thích ứng là một khái niệm rất rộng, là một quá trình qua đó con người
làm giảm những tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe và đời sống và tận
dụng những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. Thích ứng
có nghĩa là điều chỉnh, hoặc thụ động hoặc phản ứng tích cực hoặc có
phòng bị trước được đưa ra với ý nghĩa giảm thiểu và cải thiện những hậu quả
có hại của BĐKH. Thích ứng còn có nghĩa là tất cả những phản ứng đối với
BĐKH nhằm làm giảm tính dễ bị tổn thương. Cây cối, động vật, và con người
không thể tồn tại một cách đơn giản như trước khi có BĐKH nhưng hoàn
toàn có thể thay đổi các hành vi của mình để thích ứng và giảm thiểu các rủi ro
từ những thay đổi đó.
2.1.2. Cơ sở pháp lí
- Công ước Khung của Liên Hiệp Quốc (LHQ) về BĐKH đã được chính
phủ Việt Nam phê chuẩn ngày 16 tháng 11 năm 1994.
- Nghị định thư Kyoto được phê chuẩn ngày 25 tháng 9 năm 2002.

6
- Luật BVMT năm 2005 kỳ họp thứ 8 được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 và có hiệu lực
thi hành từ ngày 01/07/2006.
- Nghị quyết số 41/2004/NQ/TW ngày 15/11/2004 của bộ Chính trị về

7
- Đại dương tích lũy phần lớn năng lượng trong hệ thống khí hậu và
nóng lên. Đại dương chiếm hơn 90% năng lượng tích lũy giữa các năm 1971
và 2100 . Chắc chắn rằng phần nước mặt của đại dương (từ 0-700m sâu) ấm
lên trong giai đoạn 1971-2010, và có khả năng nó đã bắt đầu ấm từ giai đoạn
1870 và 1971.
- Tốc độ nước biển dâng từ thế kỷ 19 lớn hơn so với tốc độ nước biển
dâng trung bình trong hai nghìn năm trước đó. Trong hơn 100 năm từ 1901
đến 2010, mực nước biển trung bình toàn cầu tăng 0,19m (0,17-0,21).
- Nồng độ của carbon dioxide, methane và nitrous oxide trong không khí
đã tăng lên mức chưa từng thấy trong ít nhất là 800.000 năm qua. Nồng độ
carbon dioxide đã tăng 40% kể từ thời tiền công nghiệp, chủ yếu là phát thải
từ đốt nhiên liệu hóa thạch và kế đến là rừng bị tàn phá để lấy đất dùng vào
việc khác. Các đại dương đã hấp thụ khoảng 30% lượng khí carbon dioxide
do con người thải ra, gây ra hiện tượng axit hóa đại dương.
2.1.1.2. Xu thế BĐKH
- Nhiệt độ bề mặt trái đất có thể vượt quá 1,5

C-2

C vào cuối thế kỷ 21,
so với trung bình giai đoạn 1850-1900.
- Sự ấm lên sẽ tiếp tục sau năm 2100, sự ấm lên sẽ tiếp tục xuất hiện với
sự khác biệt từ nhiều năm đến hàng thập và sẽ không thống nhất trong khu
vực.
- Thay đổi chu kỳ nước toàn cầu do sự nóng lên trong thế kỷ 21 sẽ không
được đồng nhất. Sự tương phản về lượng mưa giữa các vùng ẩm ướt, vùng
khô và giữa mùa mưa, mùa khô sẽ tăng.
- Nồng độ khí Ozone, khí CH
4

Lượng mưa tăng đột biến vào mùa mưa. Lượng mưa vào mùa khô giảm
dần, số ngày mưa phùn giảm dần. Mưa trái mùa và mưa lớn dị thường xảy ra
nhiều hơn, đặc biệt là đợt mưa vào tháng 11 ở Hà Nội năm 2008, các hiện
tượng thời tiết cực đoan xảy ra như hiện tượng băng tuyết ở Sapa ngày
16/3/2011.[13]
Lũ lụt với cường độ lớn xảy ra thường xuyên vào mùa mưa gây thiệt hại
nặng nề về người và của, chủ yếu xảy ra ở miền Trung và miền Nam.
Hạn hán xảy ra hàng năm ở hầu hết các khu vực trong cả nước
vào mùa khô.
Đường đi của các cơn bão diễn ra phức tạp, khó khăn trong việc dự đoán
hướng đi của bão để có kế hoạch giảm nhẹ hậu quả của bão, hướng đi của bão
đang có xu thế hướng về phía Nam và mùa mưa bão đang dịch chuyển về các
tháng cuối năm.

9
Tần suất hoạt động của các đợt không khí lạnh đang giảm dần nhưng lại
tăng về cường độ và thời gian.
Số ngày nắng nóng tăng lên đặc biệt là ở khu vực Trung Bộ và Nam Bộ.
Những đợt nắng nóng kéo dài với nền nhiệt cao.
Hiện tượng El Nino và La Nina ảnh hưởng đến nước ta mạnh mẽ hơn
trong vài thập kỷ gần đây, gây ra nhiều kỷ lục có tính dị thường về thời tiết
như nhiệt độ cực đại, nắng nóng và hạn hán gay gắt trên diện rộng, cháy rừng
khi có El Nino, điển hình là năm 1997 - 1998; mưa lớn, lũ lụt và rét hại khi có
La Nina như năm 2007.[3]
2.2.2.2. Xu thế và tác động của BĐKH ở Việt Nam
Theo các kịch bản biến đổi khí hậu, ở Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm
sẽ tăng thêm 2
0
C vào năm 2050 và 2,5
0

1”.[7]
“Theo thống kê ngành nông nghiệp huyện Giang Thành, đến nay có hơn
4700ha lúa hè thu tại địa phương bị ngập lũ, phần lớn trong thời điểm thu
hoạch. Giá cắt lúa chạy lũ lên đến 600000-700000đồng/công (1000m
2
) nhưng
vẫn không đủ lao động đáp ứng nhu cầu của người dân. Nhiều diện tích lúa bị
ngập nước, khi thu hoạch đã bị lên mộng. Theo thống kê sơ bộ, đến nay, tỉnh
An Giang có khoảng 13000 ha lúa thu đông ở các huyện Thoại Sơn, Châu
Thành, Châu Phú…. bị ngập úng do mưa lũ”.[7]
Các ngành công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ… đều chịu những
tác động tiêu cực từ hiện tượng biến đổi khí hậu gây ra. Các khu công nghiệp
thường được xây dựng nhiều ở các vùng đồng bằng, nơi có điều kiện giao
thông thuận lợi, sẽ phải đối mặt nhiều hơn với nguy cơ ngập lụt và thách thức
trong thoát nước do lũ từ sông và nước biển dâng. Các điều kiện khí hậu cực
đoan và thiên tai gia tăng cũng gây khó khăn trong việc cung cấp nguyên, vật
liệu cho các ngành công nghiệp, đồng thời làm giảm tuổi thọ của các công
trình, linh kiện, máy móc, thiết bị.
Lượng mưa thất thường và luôn biến đổi. Nhiệt độ tăng cao hơn, tình
hình thời tiết khốc liệt hơn. Các dịch bệnh xuất hiện và tràn lan Tình trạng
thiếu hụt nước tăng cao. Diện tích rừng ngập mặn cũng bị tác động. Phân bố
rừng nguyên sinh, thứ sinh có thể dịch chuyển. Nguy cơ tuyệt chủng các loài
động thực vật gia tăng. Nguy cơ cháy rừng, phát tán dịch bệnh ngày càng hiển
hiện. Nguồn thủy, hải sản bị suy giảm.
Riêng việc nước biển dâng cao có thể khiến 22 triệu người Việt Nam mất
nhà. Một phần lớn diện tích của đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long có
thể bị ngập lụt do nước biển dâng, các chuyên gia cảnh báo.

dao động trong khoảng 1,6-4%.
- Lượng mưa mùa thu thời kỳ gần đây giảm ở tất cả các trạm, khoảng 11-
22%. Ngược lại, lượng mưa mùa thu đông thời kỳ gần đây lại tăng ở tất cả các
trạm, khoảng 10-31%. Còn lượng mưa các mùa xuân, hè vào thời kỳ gần đây
có nơi tăng, có nơi giảm khoảng 1-17%. Như Vậy, có thể thấy mức độ khô
hạn ngày càng gia tăng vào mùa thu, thời kỳ thịnh hành thời tiết khô hanh của
Cao Bằng, nhưng lại được cải thiện đôi chút vào mùa đông.

12
Bảng 2.1. Lượng mưa mùa và năm tỉnh Cao Bằng
Trạm Thời kỳ
Lượng mưa(mm)
Mùa
đông
(XII-
II)
Mùa
xuân
(III-V)
Mùa

(VI-
VIII)
Mùa
thu
(IX-XI)

Năm
Bảo Lạc
1962-1987 60,6 287,3 670,7 243,4 1261,9

(1,5%)

-33,7
(11,1%)

-40,3
(2,4%)

Nguyên Bình
1962-1987 109,7 335,8 903,5 397,6 1746,5

1988-2013 121,4 393,7 937,7 327,0 1781,8

Biến động
+11,7
(10,7%)

+59,7
(17,2%)

+36,2
(4,0%)

-70,5
(17,7%)

+35,3
(2,0%)

Cao Bằng

ngày mưa đá của thời kỳ trước đây ở những vùng thấp của tỉnh; tuy nhiên lại
giảm khá nhiều tới 50-78% số ngày mưa đá của thời kỳ trước đây ở vùng núi
của tỉnh.
Bảng 2.2. Các hiện tượng thời tiết đặc biệt tại tỉnh Cao Bằng
Trạm Thời kỳ
Số ngày xuất hiện các thời tiết đặc biệt trung bình
năm
Dông
Mưa
đá
Sương
muối
Mưa
phùn
Khô
nóng
Sương

Bảo
Lạc
1962-1987 - 0,3 0,1 5,9 37,5 65,5
1988-2013 56,2 0,29 0,00 0,04 53,3 53,1
Cao
Bằng
1962-1987 92,1 0,4 0,9 20,3 15,8 68,1
1988-2013 81,3 0,26 0,22 3,18 19,3 69,0
Nguyên
Bình
1962-1987 - 0,3 3,8 30,6 - 8,7
1988-2013 78,8 0,15 0,37 17,0 - 7,6

đá giảm rõ rệt ở vùng núi. Như vậy, có khả năng vào thời kỳ đông xuân mức
độ khô hạn gia tăng [10].
- Theo kịch bản BĐKH phát thải trung bình, đến năm 2020 nhiệt độ
trung bình năm của Cao Bằng tăng 0,5
0
C, đến năm 2030 tăng lên 0,7
0
C so với
thời kỳ 1980-1999. Như vậy, với mức giảm trung bình của nhiệt độ trung bình
năm khoảng 0,5-0,6
0
C/100m theo độ cao, đai nhiệt đới có khả năng nâng lên
cao hơn hiện nay, còn đai á nhiệt đới sẽ bị thu hẹp lên độ cao hơn. Còn lượng
mưa năm tăng khoảng 1,1% vào năm 2020, tăng 1,6% vào năm 2030; lượng
mưa của ba mùa (hè, thu và đông) có xu hướng tăng, còn lượng mưa mùa
xuân lại có xu hướng giảm [9].
- BĐKH ở tỉnh Cao Bằng đã, đang và sẽ diễn ra được thể hiện thông qua
xu thế gia tăng nhiệt độ, biến đổi lượng mưa với xu thế giảm của lượng mưa
mùa xuân, cùng với sự giảm đáng kể của số ngày mưa phùn, tăng số ngày khô
nóng, tăng mức khô hạn của mùa khô,…có khả năng sẽ tác động đến diễn
biến đa dạng sinh học trong tương lai theo xu thế suy giảm thành phần loài á
nhiệt đới, ôn đới, gia tăng loài chịu hạn, chống chịu được tác động của các
hiện tượng thời tiết cực đoan.

15
PHẦN 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu ảnh hưởng của BĐKH tới:

* Phương pháp thống kê: Thu thập và xử lý các số liệu về điều kiện khí
tượng, thủy văn, kinh tế xã hội của huyện Trùng Khánh; Các số liệu về hiện
trạng môi trường nước và đa dạng sinh học.
* Phương pháp điều tra xã hội học :
- Đối tượng lựa chọn điều tra là lựa chọn ngẫu nhiên các hộ gia đình của
các xã Phong Nậm, Ngọc Côn, Ngọc Khê. Tổng số phiếu điều tra là 90 phiếu.
- Nội dung phiếu điều tra gồm:
+ Họ tên chủ hộ, địa chỉ, số nhân khẩu,… của người cung cấp thông tin.
+ Nhận thức của người dân về BĐKH.
+ Ảnh hưởng của BĐKH tới môi trường nước.
+ Ảnh hưởng của BĐKH tới ĐDSH.
+ Biện pháp thích ứng của người dân địa phương với các hiện tượng bất
thường của thời tiết .
* Phương pháp chuyên gia: tham khảo các ý kiến chuyên gia trong các
lĩnh vực môi trường, môi trường nước, sinh thái và biến đổi khí hậu… để
đánh giá các tác động cũng như đưa ra những biện pháp giảm thiểu, phòng
ngừa và thích ứng khi biến đổi khí hậu xảy ra.
- Kế thừa các số liệu về môi trường nước và đa dạng sinh học của các đề
tài đã nghiên cứu trước, những số liệu kế thừa được thể hiện dưới dạng bảng
biểu, biểu đồ, qua đó đánh giá được các tác động của BĐKH đối với môi
trường nước và ĐDSH, đề xuất các biện pháp giảm thiểu, phòng ngừa và
thích ứng.
* Phương pháp xử lý số liệu:
Các kết quả thu thập được thống kê thành các bảng, sơ đồ, hiệu chỉnh
hợp lý và đưa vào báo cáo chủ yếu sử dụng 2 phần mềm Microsoft Word để
soạn thảo báo cáo và Microsoft Excel để xử lý số liệu và vẽ đồ thị.


18
4.1.1.2.Đặc điểm địa hình, địa mạo
Huyện Trùng Khánh là huyện miền núi, địa hình có đặc điểm là vùng núi
vừa, trong đó tiểu vùng núi đá có độ dốc lớn, phần tiếp theo là núi thấp, đồi và
vùng thung lũng thấp nằm xen kẽ. Độ cao trung bình của huyện từ 500m đến
800m, thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có 3 dạng địa hình đó là:
- Địa hình núi đá vôi.
- Địa hình dạng đồi.
- Địa hình thung lũng.
4.1.1.3.Đặc điểm khí hậu
Trùng Khánh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới gió mùa.
Phân thành 2 mùa rõ rệt là mùa nóng và mùa lạnh.
- Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, mùa này khí hậu nóng ẩm mưa
nhiều, chịu ảnh hưởng của gió Đông Nam, nhiệt độ thấp nhất là 24,2
0
C, nhiệt
độ cao nhất là 36,3
0
C.[11]
- Mùa lạnh kéo dài từ tháng 10 đến tháng 4 năm sau, khí hậu lạnh, có
mưa nhỏ, mưa phùn, sương muối, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc,
nhiệt độ trung bình là 17
0
C trong đó tháng 1 có nhiệt độ trung bình dưới
11,6
0
C; nhiệt độ thấp tuyệt đối là - 3
0
C.
Biên độ nhiệt độ giữa các tháng trong năm chênh lệch trung bình 7,5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status