Thành phần loài bọ rùa bắt mồi (coleoptera: Coccinellidae); một số đặc điểm sinh học, sinh thái của một số loài bọ rùa trên rau ở vùng đông anh, hà nội - Pdf 22

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA SINH HỌC

NGUYỄN VĂN CƯỜNG
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SỸ
TÊN ĐỀ TÀI:
THÀNH PHẦN LOÀI BỌ RÙA BẮT MỒI (COLEOPTERA:
COCCINELLIDAE); MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC,
SINH THÁI CỦA MỘT SỐ LOÀI BỌ RÙA TRÊN RAU Ở
VÙNG ĐÔNG ANH, HÀ NỘI
Chuyên ngành: Động vật học
Giáo viên hướng dẫn: TS. Bùi Minh Hồng
HÀ NỘI - 2012
Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong đời sống hằng ngày của con người, rau xanh là một thực phẩm
không thể thiếu trong các bữa ăn hằng ngày của con người. Rau cung cấp
các chất dinh dưỡng hết sức cần thiết cho quá trình sống của con người như:
protein, chất xơ, axit a min, vitamin và các khoáng chất cho cơ thể. Một số
loài rau được sử dụng rộng rãi trong đời sống hằng ngày của con người như
rau muống, rau đay, mùng tơi, đậu đỗ và đặc biệt là các loại rau như là bắp
cải, súp lơ, cải xanh, cải ngọt, xu hào,…
Theo dự báo của tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
(FAO) thì nhu cầu tiêu thụ rau của thế giới tăng bình quân 3,6%/ năm trong
khi sản lượng rau quả chỉ tăng 2,6%/ năm. Ở Việt Nam, cùng với các chính
sách của nhà nước về việc dồn điền đổi thửa thì diện tích tròng rau tăng lên
nhanh chóng cùng với nó là sản lượng rau cũng tăng lên từ 3,2 triệu tấn
( năm 1991) lên xấp xỉ 8.9 triệu tấn (năm 2004) nhưng cũng chỉ đáp ứng
được khoảng 70% nhu cầu của người tiêu dùng.
Với diện tích ngày càng tăng thì việc phòng trừ các loài sâu bệnh có
hại nói chung đặc biệt là các loài rệp nói riêng trên các loại rau là một việc

+ Một số đặc điểm hình thái của các pha của một số loài bọ rùa
+ Xác định thời gian phát dục các pha và vòng đời của một số loài bọ
rùa họ Coccinellidae bộ Coleoptera.
+ Xác định khả năng ăn các loài rệp muội khác nhau của sâu non và
trưởng thành của một số loài bọ rùa họ Coccinellidae bộ Coleoptera.
+ Sức đẻ trứng và tỷ lệ trứng nở và nhịp điệu đẻ trứng của một số loài
bọ rùa họ Coccinellidae bộ Coleoptera
+ Bước đầu đề xuất quá trình nhân nuôi một số loài bọ rùa
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các loài bọ rùa thuộc họ Coccinellidae bộ Coleoptera. Tập trung
nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của loài bọ rùa 6 vằn, 8
chấm, bọ rùa đỏ.
- Các loài rệp muội Aphididae.
- Các loại rau tiến hành quan sát như rau cải xanh, cải ngọt, su hào, cải
bắp
- Các loại cây trồng như: cao lương, ngô, lạc,…
3.2.Phạm vi nghiên cứu
- Đi sâu nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, sinh học, sinh thái của
một số loài bọ rùa và bước đầu đề xuất quy trình nhân nuôi.
Phần 2: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG I: NGHIÊN CỨU VỀ BỌ RÙA VÀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
HUYỆN ĐÔNG ANH
1.1. Vị trí trong hệ thống phân loại và phân bố của Bọ rùa
Ngành: Chân khớp (Arthropoda)
Lớp: Sâu bọ (Insecta)
Bộ: Cánh cứng ( Coleoptera)
Họ: Bọ rùa (Coccinellidae)
Phân bố: Bọ rùa xuất hiện ở các vùng trồng rau họ Hoa thập: cải xanh,
súp lơ, bắp cải, cải xanh,… từ miền Bắc tới miền Nam, các vùng đồng bằng

Coccidulinae, Novinae, Epilachninae. Bọ rùa là bọ cánh cứng hình tròn, nhỏ
được nhiều người biết đến. Màu sắc từ vàng tới đen, cơ thể thường có 3 màu
hoặc có chấm. Trưởng thành và ấu trùng của chúng chiếm ưu thế ở các vườn
trồng như là những loài ăn thịt rệp, ve, bét và những côn trùng nhỏ khác. Bọ rùa
phát triển rất nhanh, ấu trùng xuất hiện sau khi trứng đẻ từ 5-10 ngày, ấu trùng
thành thục sau khoảng 2 tuần.
Ở châu Âu những nghiên cứu về bọ rùa Coccinellidae đã được tiến hành
từ rất lâu. Bọ rùa lôi cuốn sự chú ý của các nhà sinh học trong việc nghiên cứu
phân loại khu hệ Korschefsky (1933) Dobzhansky (1941). Đây là một họ phổ
biến nhất thế giới. Đây là một họ phổ biến khắp thế giới, 36 loài đầu tiên thuộc
họ bọ rùa đã được Linne mô tả năm 1758 và xếp chúng vào giống Coccinella. Số
lượng loài được phát hiện ngày càng nhiều. Sau gần 2 thế kỷ số loài đã lên tới
vài nghìn: 2500 rồi 3500 hiện nay có khoảng 4000- 5000 loài. Ở nửa đầu thế kỷ
19, với mục đích khai thác, bóc lột các nước thuộc địa, nhiều nước ở châu Âu
như Anh, Pháp, Bỉ, Hà Lan, … đã tổ chức nhiều đoàn nghiên cứu thực địa. Họ
đã thu được nhiều bộ sưu tập phong phú. Những chuyên khảo về bọ rùa đã lần
lượt xuất hiện.
Rotheray G.E (1989) đã đưa ra danh sách các nhóm côn trùng ăn rệp. Trong
đó loài bọ rùa đã được nhắc đến với vai trò tiêu diệt rệp cả ở giai đoạn ấu trùng
và trưởng thành. Trivedi(1988) đã phát hiện 3 loài bọ rùa Menochilus
sexmaculatus, Coccinella septempunctara, Harmonia octomaculata ăn rệp đào
Myzus persicae hại khoai tây. Rao(1985) đã tìm thấy bọ rùa Menochilus
sexmaculatus ăn rệp đào. Murat Aslan M. (2005) đã xác định thành phần loài bọ
rùa ăn rệp ở Kahramanmaras thuộc Thổ Nhĩ Kỳ. Tại các điểm nghiên cứu của
tác giả đã xác định được 33 loài bọ rùa ăn rệp và tương ứng có 59 loài rệp là vật
ăn mồi của chúng.
Châu Á gồm phần lớn các quốc gia có nền nông nghiệp phát triển mạnh, vì
vậy các nghiên cứu về côn trùng nông nghiệp đặc biệt côn trùng có ích trong
nông nghiệp được quan tâm nhiều. Bọ rùa là 1 trong những nhóm côn trùng có
ích, kẻ thù tự nhiên của nhiều loại sâu hại đã được quan tâm và có nhiều ứng

mồi (BRBM)
Hoheisel G.A et all (2007), Hazzard R. & Ferro D. (1991) Dreistad S. et
all (1966), Elliot N. et all (2002) dã nghiên cứu mối quan hệ giữu bọ rùa, rệp và
phấn hoa trên nhiều loại cây trồng biến đổi gen và có tính chống chịu. Những
nghiên cứu về bọ rùa ở đây không nhằm mục đích phân loại học mà bọ rùa được
sử dụng như một tác nhân kìm hãm số lượng rệp hại.
Khi cây trồng được trồng đa dạng trong hệ sinh thái nông nghiệp, trong đó
thuốc trừ sâu và quần thể vật mồi là các yếu tố thay đổi, điều này có ảnh hưởng
trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự biến động quần thể bọ rùa. Khi sử dụng thuốc trừ
sâu, có thể làm tăng mật độ quần thể rệp bởi sự di chuyển đi nơi khác của kẻ thù
tự nhiên là bọ rùa hoặc cũng có thể số lượng quần thể rệp bị giảm bởi ảnh hưởng
trực tiếp của thuốc trừ sâu hóa học ( Pilcher, 1977: Riddick,1998).
Đối với phần lớn các loài bọ rùa, rệp là yếu tố cần thiết cho sự phát triển
và khả năng đẻ trứng của chúng ( Baumgaertner at all, 1981; Kalaskar and Eván,
2001). Loài bọ rùa Coccinella maculata phát triển nhanh hơn khi chúng tiêu thụ
một lượng rệp lớn hơn ( Chedester, 1979). Cùng với rệp. bọ rùa còn ăn thêm
phấn hoa để tăng thêm nguồn Protein ( Hagen K.S, 1974). Đối với một số loài,
trứng của loài ăn thịt giảm xuống khi phấn của cây ngô ngọt có giá trị như nguồn
thức ăn thay thế ( Pfannenstiel and Yeargan, 2002).
Dixon A.F.G (2002) đã xác định, khi thức ăn là rệp thì sự phát triển của
bọ rùa diễn ra nhanh hơn, đẻ trứng nhanh hơn , nhiều hơn, chuyển động nhanh
hơn và sống lâu hơn. Khi thức ăn là các con côn trùng hại khác thì quá trình phát
triển cũng như sự đẻ trứng, tuổi thọ của bọ rùa diễn ra kém hơn so với thức ăn là
rệp. Da Silva P.G. et all (1992) đã quan sát phản ứng chức năng của loài bọ rùa
Curinuss coeruleus (Mulsant) với loài rệp Heteropsylla cubana Crawford trong
điều kiện nhân tạo và bán nhân tạo. Tác giả đã nhận thấy , phản ứng chức năng
của bọ rùa trưởng thành với rệp trên giấy lọc và trên lá của các loài cây chủ khác
nhau trong điều kiện nuôi bán tự nhiên có ảnh hưởng đến sự tiêu thụ vật mồi của
bọ rùa.
` Husein M.Y et all (1991) đã nuôi thử nghiệm loài bọ rùa Hippodamia

Coccinellini và Hippodamini, một năm có một thế hệ là phổ biến, điều này cũng
xảy ra đói với một số loài bọ rùa ăn rệp và bọ rùa ăn nấm. Hai thế hệ trong một
năm thuộc một số ít loài trong tộc Coccinellini và Hippodamini. Hai thế hệ có
khoảng thời gian nghỉ diễn ra ở một số loài bọ rùa ăn rệp thuộc hai tộc
Coccinellini và Hippodamini. Nhiều thế hệ trong năm với ít nhất là 3 thê hệ mỗi
năm là thông thường đối với tất cả loài bọ rùa ăn rệp( Coccidae) thuộc tộc
Chlocorini. Ở châu Âu số thế hệ thể hiện ở tất cả các dạng (1 thế hệ, 2 thế hệ
hoặc nhiều hơn 3 thế hệ). Một thế hệ thường diễn ra thường xuyên vào mùa
xuân. Trường hợp nhiều thế hệ trong năm ( ít nhất là 3 thế hệ) thường diễn ra
vào mùa xuân, hè và thu. Sự sinh sản diễn ra phần lớn vào màu hè khi nhiệt độ
cao.
Zaslavskii V.A et all (1998) xác định, thức ăn như một nhân tố tín hiệu
kiểm soát hiện tượng đình dục ở loài bọ rùa Harmonia secdecimnotata. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, sự thiếu hụt thức ăn là nhân tố gây ra hiện tượng đình dục
với loại bọ rùa này. Hiện tượng đình dục có thể kéo dài cả tháng, nhưng nó có
thể chấm dứt ngay lập tức tại bất kỳ thời gian nào khi nguồn thức ăn là rệp được
phục hồi mạnh trở lại.
Để trả lời cho câu hỏi “ Tại sao bọ rùa lại ăn thịt đồng loại” Agarwala B.K
(1991) đã đặt thí nghiệm nuôi bọ rùa loài Adalia bipunctat với thức ăn là trứng
của loài bọ rùa Harmonia axyridis Pallas và loài rệp Acyrthosiphon pisum
(Harris) hại cây họ đậu Vicia faba ( đậu răng ngựa) trong nhà kính ở điều kiện
20
0
C với chu kỳ sáng là 16h. Kết quả thu được cho thấy hiện tượng ăn trứng của
bọ rùa vẫn diễn ra khi mật độ rệp phong phú, nhưng khi mật độ rệp thấp, đặc biệt
khi rệp khan hiếm, thì khả năng ăn trứng của bọ rùa được thể hiện rõ rệt. Khi
thức ăn là trứng, khả năng sống sót của bọ rùa cao hơn so với thức ăn là rệp.
Yukie Kajita et all (2000) đã tìm hiểu ảnh hưởng của 2 loài bọ rùa bản địa
Coccinella septempunctata và loài Harmonia axyridis đến khả năng sống sót của
bọ rùa nhập nội Adalia bipunctata trong mối quan hệ với mật độ vật ăn thịt. Kết

khả năng đẻ trứng của bọ rùa cái. Vaghina N.P (2004) đã theo dõi ảnh hưởng của
thức ăn đến quá trình sinh sản ở loài bọ rùa nhiệt đới Harmonia sedecimnotata.
Kết quả nghiên cứu cho thấy , sự thiếu thức ăn làm chậm quá trình chín noãn bào
trong buồng trứng của bọ rùa cái. Hiện tượng dừng dinh dưỡng là nguyên nhân
của sự dừng tạo trứng ở giai đoạn chín túi noãn. Hiện tượng này có thể xảy ra
ngay khi hiện tượng thiếu thức ăn giàu Protein diễn ra. Sự tái kích hoạt trở lạicó
thể được cải thiện nếu bổ sung loại thức ăn giàu Protein.
Mahfuj Ara Begum et all (2002) đã xác định khả năng sinh sản của bọ rùa
đỏ Micraspis discolor ăn rầy nâu Nilaparvata lugens trong phòng thí nghiệm.
Kết quả cho thấy mỗi cá thể cái đẻ trứng trung bình 117.7 quả trứng trong giai
đoạn sinh sản là 25,1 ngày. Cả ở giai đoạn ấu trùng và trưởng thành của loài bọ
rùa này đều ưa thích ăn rầy nâu ở tuổi 2 và 3.
Semyanov V.P (2007) đã cung cấp những thông tin rút ra từ thực tiễn và
đưa ra những kinh nghiệm cho việc nhân nuôi bọ rùa trong phòng thí nghiệm:
(1) điều kiện nuôi bọ rùa phải thuận lợi, (2) phương pháp nuôi sử dụng 2 loại
thức ăn là rệp hoặc trứng loài Stitotroga cereallella, (3) phương pháp giữ sống
hoặc làm mẫu cho việc sử dụng chúng khi cần thiết.
Bằng việc nuôi 20 loài bọ rùa trên thức ăn là rệp đào Hsieh (1985) đã tìm
ra hệ số thức ăn hiệu quả nhất của số lượng bọ rùa Coccinelldae và rệp đào
Myzus persicae là 1:200. Dharpure (1987) đã xác định một đời C.
septempunctatus có thể ăn hết 1538 con rệp đào.
Osawa et all (1989, 1991) đã nghiên cứu tỷ lệ chết của nhộng loài bọ rùa
Harmonia axyyridis Palls bởi hiện tượng ăn thịt lẫn nhau ở giai đoạn trước khi
vào nhộng và nhộng bị chết do bị ký sinh. Tác giả đã xác định được tỉ lệ chết bởi
hiện tượng ăn thịt lẫn nhau ở giai đoạn trước khi vào nhộng cao hơn khi vị trí
phát triển của nhộng nằm gần với tập đoàn rệp. Còn khả năng nhộng bị chết sẽ
thấp hơn do bị kí sinh, khi vị trí phát triển của nhộng nằm xa vị trí vật mồi trên
một cây chủ. Osawa (1992) cũng đã đưa ra kết quả nghiên cứu về bảng sống của
loài bọ rùa Harmonia axyridis Pallas liên quan tới độ phong phú của quần thể
rệp. Bảng sống của loài bọ rùa này được xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu

liên quan đến lịch sử phát triển của sự sống cá thể ( Dingle, 1981; Tallamy &
Denno, 1981) nhiều nghiên cứu đã cho thấy kích thước tối ưu nhất của một tổ
trứng sẽ cải thiện thế hệ con cái trong điều kiện nguồn thức ăn có giới hạn.
Takahashi (1984) đã nghiên cứu loài bọ rùa Coccinella septempunctata
brucki Mulsant, đây là một kẻ thù tự nhiên quan trọng của loài rệp hại cỏ linh
lăng. Takahashi (1989) cho rằng sự xuất hiện nhiều hay ít của nhộng bọ rùa ăn
thịt chịu ảnh hưởng của điều kiện thức ăn. Trái lại Vinson (1976) cho rằng, sự
xuất hiện của nhộng bọ rùa ăn thịt, chịu ảnh hưởng của vị trí ưa thích của loài –kí
sinh trên nhộng.
Takahashi (1993) đã nghiên cứu tập tính hằng ngày của loài bọ rùa
Coccinella septempunctata brucki Mulsant trên cỏ linh lăng . Ở 10
0
C, bọ rùa chỉ
hoạt động ban ngày , khi ánh sáng cao hơn 0,2 MJ/ m
2
/0,5hr và độ gió kém hơn
10m/s. Sự ăn thịt, đẻ trứng và giao phối được theo dõi liên tục trong một ngày .
Sau khi mặt trời lặn bọ rùa còn ở nguyên vị trí cũng trên cây cỏ linh lăng. Mật độ
quần thể rệp cũng ảnh hưởng mạnh tới hoạt động của bọ rùa: mật độ rệp thấp thì
bọ rùa hoạt động tích cực hơn.
Theo Sukuratani (1986) bức xạ nhiệt vào mùa đông có ý nghĩa vô cùng
quan trọng cho các hoạt động đối với loài bọ rùa.
Ofuyya T.I (1991) đã đưa ra kết luận: mật độ rệp đậu đen (Aphis
craccivora) trong tự nhiên bị khống chế bởi một số kẻ thù tự nhiên, trong đó có
loài bọ rùa Cheilomenes lunata. Mora (1993) đã xác định cả đời mỗi loài bọ rùa
đực và cái loài Coelophora inaequalis có thể ăn hết từ 2821 dến 3509 rệp đậu
đen.
Freier et all (1996) đã nuôi liên tục nhiều thế hệ bọ rùa Harmonia axyridis
dễ dàng mà không cung cấp rệp. Tác giả cho rằng đây là một hy vọng dùng bọ
rùa ăn thịt này như một nhân tố phòng trừ sinh học. Trong tương lai cần sử dụng

rệp và phấn hoa đã thu được kết quả đáng chú ý: Đối với các ruộng phong phú
về chủng loại cây ( ngô, hạt tiêu, cây họ cúc, cỏ linh lăng…) sẽ thúc đẩy mạnh sự
đa dạng của vật mồi và đồng thời hiệu lực của quần thể nhóm ăn thịt cũng tăng
lên rõ rệt( Artokhin K.S., 1981; Sakuratani et all, 1984).
Theo Iperti G. (1999) vai trò tiên phong trong biện pháp phòng trừ sâu
hại đã được đưa ra đối với bọ rùa. Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn và có giá trị
khoa học. Khoảng 90%, tương đương với 4200 loài bọ rùa được coi là có ích vì
hành động ăn thịt của chúng. Thức ăn chủ yếu của bọ rùa là côn trùng cánh
giống ( Homoptera) và ve bét. Bọ rùa sống ở tất cả các hệ sinh thái trên cạn:
rừng, bãi cỏ, hệ sinh thái nông nghiệp và từ đồng bằng đến vùng núi cao. Lịch sử
sự sống của bọ rùa được biết đến thông qua những nghiên cứu về sinh học, sinh
thái học của chúng. Bọ rùa có tính chống chịu từ hẹp đến rộng. Đây là các sinh
vật tạp dưỡng, các cá thế trưởng thành có xu hướng thích ăn nhiều loại vật mồi
( nhiều loài rệp và ở các giai đoạn phát triển khác nhau,…) hơn chỉ là một loại
thức ăn. Phần lớn các loài bọ rùa ăn rệp có 1 thế hệ trong một năm, chúng có
phản ứng với điều kiện môi trường không thuận lợi bằng cách di cư. Tuy nhiên,
phần lớn các con trưởng thành vẫn cam chịu sự thay đổi bất lợi của môi trường
bằng cách ngủ đông tạm thời, ngủ đông, ngủ hè, hoặc qua hè.Mặc dù những tập
tính thích nghi này, song bọ rùa vẫn rất dễ gặp nguy hiểm từ những nhân tố giới
hạn, như kẻ thù tự nhiên và những tác động của con người. Vì vậy cần có những
biện pháp bảo vệ chúng. Sự thay đổi mùa vụ có ảnh hưởng đến sự xuất hiện và
bùng phát rệp phá hoại thực vật và tập tính của bọ rùa. Các loài bọ rùa được phát
hiện ở các vùng khác nhau có thể coi là một chỉ thị sinh học mới cho vùng địa lí
khí hậu. Trong phòng trừ sinh học hiện nay, bọ rùa là nhân tố quan trọng để hạn
chế số lượng của rệp sáp, rệp muội và ve bét. Tập tính tập trung của bọ rùa còn
được gải thích cho hiện tượng thích nghi khí hậu của loài ở những vũng lãnh thổ
mới. Nghiên cứu trong tương lai về di truyền, sinh lí học và tập tính của bọ rùa
kết hợp với nghiên cứu về động lực bay của chúng và các tác động đến hệ sinh
thái nông nghiệp sẽ được cải tiến một cách chắc chắn hơn trong chương trình sử
dụng bọ rùa làm cơ sở phòng trừ rệp hại.

bông của Trung Quốc, Zhang (1992) đã phát hiện thấy 48 loài là kẻ thù tự nhiên
của rệp bông, trong đó nhóm bọ rùa đóng vai trò quan trọng. Một con bọ rùa
Scymnus hoffmanni có khả năng ăn 25 rệp bông một ngày.
Những thí nghiệm của Artokhin (1981) đã cho thấy sâu non ăn bọ rùa
Coccinella septempunctata L. có thể tiêu diệt 300 rệp Rhopalosiphum padi trong
một ngày. Toàn bộ sâu non có thể tiêu thụ tới 1000 rệp non và rệp trưởng thành.
Theo Ghanim (1984) các loài ăn rệp quan trọng trên lúa mỳ vào mùa
đông ở Mansoura Ai Cập là Coccinella undecimpunctata và một số côn trùng ăn
thịt thuộc các họ khác đã tích cực kìm hãm sự bùng phát dịch rệp muội. Butani et
all (1984) sau khi theo dõi và quan sát mối quan hệ giữa quần thể rệp đậu màu
đen A. craccivora trên lạc và kẻ thù tự nhiên của chúng, đã đưa ra kết luận, sử
dụng thuốc trừ sâu là không cần thiết nếu bọ rùa có mặt trên lạc vào vụ hè.
Lezhneva et all (1996) ở Volgagrad ( Nga) đã nuôi một số bọ rùa để trừ rệp bông
hại dưa hấu Aphis gossypii Glover và rệp hại khoai tây Myzus persicae, rệp
Aphis masturtii trên dưa chuột và hạt tiêu trong nhà lưới.
1.3 Tình hình nghiên cứu bọ rùa Coccinellidae ở Việt Nam
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu sâu về các biện pháp phòng
trừ sâu sinh học ở cây trồng thực sự phát triển từ năm 1970 trở đi. Những
nghiên cứu về côn trùng học được tiến hành nhiều năm. Năm 1965, nghành
Côn trùng học Việt Nam tiến hành định loại các mẫu vật côn trùng ở miền
Bắc và điều tra côn trùng ở toàn miền Bắc (1967-1968) các tỉnh miền Nam
và Tây Nguyên ( 1977-1978)
Theo kết quả điều tra năm 1967- 1968 ( Viện Bảo vệ thực vật) thành
phần côn trùng bắt mồi gồm có 75 loài thuộc họ Bọ xít ăn sâu (Raduvidae),
67 loài thuộc họ Chân chạy (Carabidae), 20 loài thuộc họ Hổ trùng
(Cicindelidae), Họ Chuồn chuồn cỏ (Chrysopidae), họ Ruồi ăn rệp
(Syrphidae), họ Bọ ngựa (Mantodae), Họ Kiến (Formicidae). Riêng Bọ rùa
được nghiên cứu chi tiết, trong số 63 loài được ghi nhận ở Việt Nam thì có
48 loài có ích. Hệ Bọ rùa ở Việt Nam được đánh giá đa dạng và có tỉ lệ đặc
hữu cao.

phòng thí nghiệm chưa nhiều.
1.4. Điều kiện tự nhiên của Đông Anh, Hà Nội
Đông Anh là một trong năm huyện ngoại thành của thủ đô Hà Nội,
được thành lập ngày 31 tháng 5 năm 1961 theo quyết định của Hội đồng
Chính phủ. Đông Anh có một thị trấn và 23 xã, huyện lỵ Đông Anh đặt tại
thị trấn Đông Anh, cách Hà Nội 22km theo quốc lộ 3.
1.4.1 Vị trí địa lý
Đông Anh là huyện nằm phía Đông – Bắc thủ đô Hà Nội. Hệ thống
sông Hồng và sông Đuống là ranh giới hành chính của huyện với nội thành,
diện tích tự nhiên là 18230 ha. Đông Anh là huyện lớn thứ hai của Hà Nội
sau Sóc Sơn. Về địa giới hành chính của huyện Đông Anh như sau:
Phía Bắc giáp với huyện Sóc Sơn, Hà Nội
Phía Đông, Đông Bắc giáp tỉnh Bắc Ninh
Phía Đông Nam giáp huyện Gia Lâm
Phía Nam giáp sông Hồng
Phía Tây giáp tỉnh Vĩnh Phúc
Ngoài sông Hồng và sông Đuống ở phía Nam của huyện, phía Bắc
còn có sông Cà Lồ. Trên địa bàn huyện có hai tuyến đường sắt chạy qua:
tuyến Hà Nội – Yên Bái, tuyến Hà Nội – Thái Nguyên. Cảng hàng không
quốc tế Nội Bài được nối với nội thành Hà Nội bằng đường quốc lộ 3 và
đường cao tốc Thăng Long – Nội Bài, đoạn chạy qua huyện Đông Anh
dài 7.5km. Có thế thấy, Đông Anh là huyện có lợi thế lớn về giao thông.
Đây là điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu giữa Hà Nội và các tỉnh Đông
Bắc và là cửa ngõ giao lưu quốc tế của đất nước. Đây cũng là tiến đề thúc
đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của huyện.
Với vị trí địa lý thuận lợi và quỹ đất cho phép, Đông Anh đã và đang
thu hút sự quan tâm của các nhà dầu tư trong và ngoài nước. Trên địa bàn
huyện hiện có trên 100 doanh nghiệp trung ương, thành phố và hiện, trong
đó có 4 liên doanh với nước ngoài đã đi vào hoạt động. Trong thời gian tới,
các dự án đầu tư còn tiếp tục gia tăng. Đây là một thế mạnh của Đông Anh

Nhìn chung địa hình của Đông Anh tương đối bằng phẳng, có hướng
thoải dần từ hướng Tây Bắc xuống Đông Nam. Các xã phía Tây Bắc của
huyện như Bắc Hồng, Nam Hồng, Nguyên Khê có địa hình tương đối cao,
phần lớn diện tích là đất vàn và vàn cao. Còn các xã Đông Nam như Vân
Hà, Liên Hà, Dục Tú, Cổ Loa, Mai Lâm có địa hình tương đối thấp, hấu hết
diện tích có địa hình thấp và trũng nên thường xuyên bị ngập úng. Tỷ lệ đất
cao chiếm 13,4% diện tích toàn huyện, đất vàn chiếm 56,2% còn đất trũng
chiếm 30,4%. Địa hình chỗ cao nhất là 14m, chỗ thấp nhất là 3.5m, trung
bình là cao 8m so với mực nước biển.
Đặc điểm của địa hình của huyện là một yếu tố cần được chú ý khi
xác định cơ cấu cây trồng, vật nuôi và quy hoạch vùng chuyên canh sản
xuất: Vùng đất cao lên trồng cây ăn quả, vùng đất vàn trồng hoa, rau, cây
công nghiệp, vùng đất trũng cải tạo để nuôi thủy sản.
1.4.4. Đặc điểm đất đai
Biểu 1.1: Phân bố sử dụng đất trong toàn huyện
TT Loại đất Diện tích (ha) Tỷ lệ chiếm đất (%)
1 Đất nông nghiệp 10.015 54,79
1.1 Đất trồng cây hàng năm 9.366 0,51
1.2 Đất trồng cây lâu năm 153 0,027
1.3 Đất ao hồ thủy sản 496 9,7
2 Đất chuyên dụng 3.744,15 20,72
2.1 Đất xây dựng 869 4,87
2.2 Đất giao thông 1.163 6,32
2.3 Đất thủy lợi 1.281 6,49
2.4 Đất di tích LSVH 47 0,245
2.5 Đất vật liệu xây dựng 83 0,0043
2.6 Đất an ninh, quốc phòng 94 0,52
2.7 Đất nghĩa địa 156,15 0,87
2.8 Đất chuyên dụng khác 93 0,007
3 Đất ở 2.049 11,34

- Đất phù sa không được bồi hằng năm có diện tích 5117,5 ha tập
trung ở khu vực trong đê, đất này được phát triển trên đất phù sa cổ. Đặc
điểm của nhóm đất này là tầng canh tác trung bình, có thành phần cơ giới
nhẹ và tung bình, hàm lượng dinh dưỡng từ trung bình đến khá.
- Đất phù sa úng nước, có 355 ha phân bố ở địa hình trung thuộc các
xã Việt Hùng, Liên Hà, Vân Hà, Dục Tú, Thụy Vân,… loại đất này bị biến
đổi do thời gian bị ngập lâu, đất chua đến rất chua.
- Đất xám bạc màu, có diện tích 315,9 ha phân bố ở các xã Nam
Hồng, Bắc Hồng , Vân Nội, Uy Nỗ, Tiên Dương, Xuân Nộn,… loại đất này
có tầng canh tác nông, thành phần cơ giới nhẹ, kết cấu rời rạc, giữu phân,
giữ nước kém, chất chua và nghéo dinh dưỡng.
- Đất nâu chua, diện tích 298,6 ha, phân bố trên địa hình cao, đất
nghèo dinh dưỡng, thành phần cơ giới trung bình.
Với những điều kiện phát triển kinh tế mới, xu hướng chung của
huyện trong việc sử dụng đất là giảm tỉ trong đất nông nghiệp, tăng quỹ đất
cho giao thông, công nghiệp và đô thị. Do đó, đặt ra cần nghiên cứu kỹ tình
trạng đất đai để có quy hoạch sử dụng hợp lý.
1.4.5. Thủy văn và nguồn nước
Mưa là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho hoạt động sản xuất và đời
sống trên địa bàn Đông Anh. Lượng mưa trung bình hằng năm từ 1600 –
1800 mm. Lượng mưa phân bố không đều trong năm. Mùa mưa kéo dài từ
thắng 5 đến tháng 10 tập trung 85% lượng mưa cả năm. Vào mùa này
thường gây hiện tượng ngập úng cho các vùng trũng.
Mưa phùn cũng là nét đặc trưng của vùng này. Mặc dù không có ý
nghĩa về mặt cung cấp nước nhưng lại làm tăng độ ẩm của đất và không khí.
Mưa phùn thường xuất hiện và mùa xuân nhất là tháng 2,3. Đối với nông
nghiệp, mưa phùn thích hợp cho sự phát tiển của cây nhưng cũng là điều
kiện cho sâu bọ, nấm mốc phát triển.
Mạng lưới sông, hồ, đầm, trong nội huyện: không có sông lớn chảy
qua, các sông nằm ở ranh giới phía Bắc và phía Nam của huyện.

trồng rau thuộc Đông Anh, Hà Nội.
- Địa điểm nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh thái một số loài bọ
rùa được tiến hành ở Bộ môn Động vật học, khoa Sinh học, Đại học Sư
phạm Hà Nội.
2.1.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ năm 2012 đến năm 2013
2.2. Vật liệu nghiên cứu
Các loài bọ rùa họ Coccinellidae bộ Coleoptera.
Rệp muội Aphididae Rệp xám (Lipaphis erysimi Kaltenbach), rệp đào
(Myzus persicae Sulzer), rệp bông (Aphis gossypii Glover), rệp đậu
(Schizaphis graminum Rondani), rệp xám (Brevicoryne brassicae Linnaeus),
rệp ngô (Rhopalosiphum maidis Fitch).
Các loại rau tiến hành điều tra, quan sát như: cải bắp (Brassica
oleracea var. capitata), su hào (Brassica oleracea var. gongylodes), cải
xanh (Brassica chinensis L), súp lơ (Brassica oleracea var. botrytis L).
2.3. Dụng cụ nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status