Nghiên cứu đa dạng thành phần loài, dạng sống thực vật ở một số quần xã tại xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ - Pdf 20

MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Chúng ta đang sống trong một thời đại văn minh tiên tiến, do đó vấn đề tìm hiểu
về thế giới xung quanh không chỉ giới hạn ở việc tìm tòi, khám phá nó mà còn nhận
một nhiệm vụ hết sức quan trọng là đảm bảo sự tồn tại, phát triển của văn minh nhân
loại nói riêng và Trái đất xinh đẹp nói chung. Trong đó, vấn đề nghiên cứu thực vật
mặc dù đã được các thế hệ đi trước thực hiện từ rất sớm, nhưng đứng trước vấn nạn ô
nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học trên toàn cầu thì đến nay công tác đó vẫn
đóng một vai trò quan trọng và cần tiếp tục được nghiên cứu.
Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên rừng có vai trò hết sức quan trọng đối với
đời sống con người. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế - xã hội mà còn
giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng: rừng tham gia vào quá trình điều hoà khí
hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì
tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất,
làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nước mặt, nước
ngầm, làm giảm đến mức tối đa ô nhiễm không khí và nước.
Đất nước Việt Nam trải dài trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa
dạng, hơn 2/3 lãnh thổ là đồi núi, lại có khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam,
đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc, đã tạo nên sự đa dạng về hệ sinh thái tự nhiên
và sự phong phú về các loài sinh vật. Những hệ sinh thái đó bao gồm nhiều loại rừng
như rừng cây lá rộng thường xanh, rừng nửa rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá
vôi, rừng hỗn giao lá rộng và lá kim, rừng lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng
tràm, rừng ngập nước ngọt,... Nước ta hiện có tới 10.386 loài thuộc 2.257 chi và 305
họ thực vật bậc cao có mạch, chiếm 4% tổng số loài, 15% tổng số chi và 57% tổng số
họ của toàn thế giới. Điều đáng lo ngại là do quá trình quản lý rừng chưa hợp lí nên
độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sút đến mức báo động, chất lượng của rừng
tự nhiên còn lại đã bị giảm sút đáng kể. Từ một nước có độ che phủ rừng lớn trên thế
giới, đến thời điểm này Việt Nam chỉ còn giữ được một diện tích nhỏ rừng nguyên
sinh. Chỉ trong vòng hơn 50 năm qua, diện tích rừng tự nhiên nước ta đã suy giảm
nghiêm trọng. Năm 1945, nước ta có 14,3 triệu ha rừng tự nhiên, đến năm 2008 diện
tích rừng tự nhiên chỉ còn 10,34 triệu ha (theo nguồn của Bộ Nông nghiệp và Phát

3. Nội dung nghiên cứu
- Xác định số lượng loài thực vật bậc cao có mạch tại thời điểm hiện tại ở xã
Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
- Thành lập danh lục các loài thực vật được sắp xếp theo vần ABC (theo tên
khoa học).
2
- Xác định các nhóm dạng sống và tỉ lệ phần trăm (%) của chúng (nhóm cây
thân gỗ, nhóm cây thân bụi, nhóm cây thân thảo, nhóm cây thân leo).
- Xác định được một số loài thực vật có nguy cơ bị tuyệt chủng theo Sách đỏ
Việt Nam (2007) và Danh lục đỏ IUCN (2001).
- Đề xuất một số biện pháp nhằm bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên thực vật
ở địa phương.
4. Giới hạn và địa điểm nghiên cứu
Do điều kiện thời gian và kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên đề tài chỉ tập
trung điều tra sự đa dạng về thành phần loài, dạng sống thực vật ở 3 quần xã: rừng
phục hồi tự nhiên (15 năm tuổi), rừng trồng Keo tai tượng (7 năm tuổi) và thảm cây
bụi (3 – 4 năm tuổi) thuộc 4 xóm của xã Xuân Sơn: Xóm Dù, xóm Lấp, xóm Lạng,
xóm Cỏi nằm trong vùng đệm của Vườn Quốc gia Xuân Sơn.
3
Chương 1.
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu về hệ thực vật, thảm thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Những nghiên cứu về hệ thực vật trên thế giới và ở Việt Nam
Trên thế giới, tổng số loài thực vật hiện nay có nhiều biến động và chưa cụ thể,
tuỳ từng tác giả do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ. Các nhà thực vật học
dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500.000 - 600.000
loài [28].
Năm 1965, Al. A. Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng: 300.000 loài
thực vật hạt kín; 5.000 - 7.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 - 10.000 loài quyết thực
vật; 14.000 - 18.000 loài rêu; 19.000 - 40.000 loài tảo; 15.000 - 20.000 loài địa y;

và núi cao [13].
J. Beard (1938) đưa ra hệ thống phân loại gồm 3 cấp (quần hợp, quần hệ và loạt
quần hệ). Ông cho rằng rừng nhiệt đới có 5 loạt quần hệ: loạt quần hệ rừng xanh từng
mùa; loạt quần hệ khô thường xanh; loạt quần hệ miền núi; loạt quần hệ ngập từng
mùa và loạt quần hệ ngập quanh năm [28].
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực
vật Đông Dương thành 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung
gian. Đồng thời ông đã liệt kê 8 kiểu quần lạc trong các vùng đó [28].
Segova (1957) lại chia thảm thực vật theo vành đai: Vành đai ven biển bùn lầy,
vành đai núi thấp dưới 800 – 1.000 m và vành đai cao hơn [13].
Năm 1973, UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới
dựa trên nguyên tắc ngoại mạo và cấu trúc, chia thảm thực vật thế giới thành 5 lớp
quần hệ (Lớp quần hệ rừng kín, lớp quần hệ rừng thưa, lớp quần hệ cây bụi, lớp quần
hệ cây bụi lùn, lớp quần hệ cây thảo) [35].
Ở Việt Nam, những công trình nghiên cứu về thảm thực vật đến nay chưa
nhiều. Chevalier (1918) là người đầu tiên đã đưa ra một bảng phân loại thảm thực vật
rừng Bắc bộ Việt Nam (đây được xem là bảng phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới
Châu Á đầu tiên trên thế giới). Theo bảng phân loại này, rừng ở Miền bắc Việt Nam
được chia thành 10 kiểu [31].
Maurand (1943) nghiên cứu về thảm thực vật Đông Dương đã chia thảm thực
vật Đông Dương làm 3 vùng: Bắc Đông Dương, Nam Đông Dương và vùng trung
gian, đồng thời ông đã kê ra 8 kiểu quần lạc trong các vùng [13].
5
Dương Hàm Hy (1956) đã đưa ra một bảng xếp loại mới về thảm thực vật rừng
miền Bắc Việt Nam [31].
Nghiêm Xuân Tiếp (1960) cũng đưa ra một bảng phân loại những kiểu rừng
Việt Nam dựa trên cơ sở tổng hợp bảng phân loại của Maurand (1943) và Dương
Hàm Hy (1956) [31].
Trần Ngũ Phương (1970) đưa ra bảng phân loại rừng ở Miền bắc Việt Nam,
chia thành 3 đai lớn theo độ cao: đai rừng nhiệt đới mưa mùa; đai rừng á nhiệt đới

1.2. Những nghiên cứu về thành phần loài, thành phần dạng sống
1.2.1. Những nghiên cứu về thành phần loài
Những nghiên cứu về thành phần loài là một trong những nghiên cứu được tiến
hành từ lâu trên thế giới. Ở Liên Xô (cũ) có nhiều công trình nghiên cứu của
Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978)
… Nói chung theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái sẽ hình thành thảm thực vật đặc
trưng, sự khác biệt của thảm này so với thảm khác biểu thị bởi thành phần loài, thành
phần dạng sống, cấu trúc và động thái của nó. Vì vậy, việc nghiên cứu thành phần
loài, thành phần dạng sống là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại loại hình thảm thực
vật [28].
Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái
nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy
bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi
và 167 loài [27].
Ở Việt Nam, Phan Kế Lộc (1970) đã xác định hệ thực vật miền bắc Việt Nam
có 5.609 loài thuộc 1.660 chi và 240 họ [28].
Thái Văn Trừng (1970) thống kê hệ thực vật Việt Nam có 7.004 loài thực vật
bậc cao có mạch thuộc 1.850 chi, 289 họ [31].
Hoàng Chung (1980) khi nghiên cứu đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã công
bố thành phần loài thu được gồm 233 loài thuộc 54 họ và 44 bộ [6].
Phạm Hoàng Hộ (1991 – 1993) trong “Cây cỏ Việt Nam” đã thống kê số loài
hiện có của hệ thực vật là 10.500 loài [11].
Phan Nguyên Hồng (1991) lập danh mục cùng với một số chỉ tiêu khác (dạng
sống, môi trường, khu phân bố) của 75 loài thuộc 2 nhóm loài cây ngập mặn điển
hình và cây gia nhập vào rừng ngập mặn [28].
Đỗ Tất Lợi (1995) khi nghiên cứu các loài cây thuốc đã công bố 798 loài thuộc
164 họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [15].
7
Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1995) nghiên cứu thành phần loài, dạng sống
của sa van bụi và đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát hiện được 123 loài thuộc 47 họ

Đặng Kim Vui (2002), nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng sau nương rẫy ở
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên cho thấy 1 - 2 tuổi có 76 loài thuộc 36 họ, 3 - 5
tuổi có 65 loài thuộc 34 họ, 5 - 10 tuổi có 56 loài thuộc 36 họ, 11 - 15 tuổi có 57 loài
thuộc 31 họ [28].
Lê Ngọc Công (2004) nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Thái Nguyên đã thống kê các
loài thực vật bậc cao có mạch của tỉnh Thái Nguyên là 160 họ, 468 chi, 654 loài chủ
yếu là cây lá rộng thường xanh, trong đó có nhiều cây gỗ quý như: Lim, Dẻ, Trai,
Nghiến…[8].
Vũ Thị Liên (2005) khi nghiên cứu một số kiểu thảm thực vật ở Sơn La đã thu
được 452 loài thuộc 326 chi và 153 họ [28].
Thái Văn Thụy, Nguyễn Phúc Nguyên (2005) nghiên cứu về thảm thực vật
Vườn quốc gia Ba Vì đã xác định ở đây có 11 kiểu quần xã thực vật khác nhau.
Trong quần xã cây bụi thứ sinh thường xanh, lá rộng thành phần chủ yếu là cây gỗ
dạng bụi cao từ 2 - 5m [29].
1.2.2. Những nghiên cứu về thành phần dạng sống
Dạng sống của thực vật là sự biểu hiện về hình thái, cấu trúc cơ thể thực vật thích
nghi với điều kiện môi trường sống. Nó liên quan chặt chẽ với các nhân tố sinh thái của
mỗi vùng, nên đã được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ rất sớm.
Schow (1823) đã nghiên cứu về sự phân bố của thực vật và cho rằng: cách mọc
được hiểu là đặc điểm phân bố của các loài trong quần xã [13].
I. K. Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh;
thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong
thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và
phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm. G. N. Vưxôxki
(1915) chia thực vật thảo nguyên làm 2 lớp: lớp cây nhiều năm và lớp cây hàng năm
[13].
Cho đến nay, khi phân tích bản chất sinh thái của mỗi hệ thực vật, nhất là hệ
thực vật của các vùng ôn đới, người ta vẫn dùng hệ thống của Raunkiaer (1934) [4],
[7] để sắp xếp các loài của hệ thực vật nghiên cứu vào một trong các dạng sống đó.
Cơ sở phân chia dạng sống của ông là sự khác nhau về khả năng thích nghi của thực

đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng cỏ sa van, thảo
nguyên [6].
Thái Văn Trừng (1978) cũng áp dụng nguyên tắc của Raunkiaer khi phân chia
dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam [31].
Lê Trần Chấn (1990) khi nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn - tỉnh Hoà Bình cũng
phân chia hệ thực vật thành 5 nhóm dạng sống chính theo phương pháp của
10
Raunkiaer. Tuy nhiên tác giả đã dùng thêm ký hiệu để chi tiết hoá một số dạng sống
(a: ký sinh; b: bì sinh; c: dây leo; d: cây chồi trên thân thảo). Tác giả không xếp
phương thức sống ký sinh, bì sinh vào dạng sống cơ bản mà chỉ coi đây là những
dạng phụ [4].
Hoàng Chung (2006) khi nghiên cứu thực vật trong đồng cỏ vùng núi bắc Việt
Nam, đã phân chia 8 kiểu dạng sống chính là: kiểu cây gỗ, kiểu cây bụi, kiểu cây bụi
thân bò, kiểu cây bụi nhỏ, kiểu cây bụi nhỏ bò, kiểu nửa bụi, kiểu thực vật có khả
năng tạo chồi mới từ rễ, kiểu cây thảo có hệ rễ cái sống lâu năm [7].
Phan Nguyên Hồng (1991) khi nghiên cứu hình thái thảm thực vật rừng ngập mặn
Việt Nam đã chia thành 7 dạng sống cơ bản: cây gỗ (G), cây bụi (B), cây thân thảo (T),
dây leo (L), cây gỗ thấp hoặc dạng cây bụi (G/B), ký sinh (K), bì sinh (B) [28].
Đặng Kim Vui (2002) nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục hồi sau nương
rẫy ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã phân chia dạng sống thực vật dựa vào
hình thái cây: cây gỗ, cây bụi, cây leo và cây cỏ, đồng thời ông đã xác định được có
17 kiểu dạng sống, trong đó có 5 kiểu dạng cây bụi (cây bụi; cây bụi thân bò; cây bụi
nhỏ; cây bụi nhỏ thân bò; cây nửa bụi) [28].
Lê Ngọc Công (2004) khi nghiên cứu quá trình phục hồi rừng bằng khoanh nuôi
trên một số thảm thực vật ở Thái Nguyên đã phân chia thực vật thành các nhóm dạng
sống sau: cây gỗ; cây bụi; cây cỏ và dây leo [8].
Nhìn chung, những nghiên cứu về thành phần loài của các tác giả trên thế giới
và ở Việt Nam đều tập trung nghiên cứu, đánh giá thành phần loài ở một vùng và khu
vực cụ thể, phản ánh hệ thực vật đặc trưng trong mối tương quan với điều kiện địa
hình và khí hậu. Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu còn chưa nhiều, cần có

nhiệt đới bằng các loại cây bản địa để duy trì nguồn gen, tạo ra hệ sinh thái rừng hỗn
loài bền vững [2].
Như vậy, các biện pháp trồng rừng là cần thiết, nhưng các tác giả lưu ý là nên
chọn cây trồng và trồng theo mô hình hỗn loài mới đem lại hiệu quả thiết thực.
1.4. Những nghiên cứu về phục hồi rừng tự nhiên
Phục hồi rừng tự nhiên là quá trình diễn thế thứ sinh phục hồi thảm thực vật. Vì
vậy, các nhà nghiên cứu chủ yếu tập trung tìm hiểu các quy luật của quá trình tái sinh
và quá trình diễn thế. Những kết quả thu được là cơ sở khoa học để xác định các giải
pháp lâm sinh trong việc xúc tiến tái sinh phục hồi rừng.
P.W.Richards (1964) đã nhận định rằng: tất cả các quần xã thực vật sinh ra từ
rừng mưa nhiệt đới qua quá trình diễn thế thứ sinh như rừng thứ sinh, thảm cây bụi,
thảm cỏ nếu được bảo vệ không chặt phá, đốt lửa thì sau một thời gian qua các giai
đoạn trung gian chúng có thể phục hồi thành rừng cao đỉnh [13].
12
Ở nước ta, vấn đề tái sinh phục hồi rừng được đặt ra từ những năm 50 của thế kỷ
XX và lúc đó gọi bằng thuật ngữ: “Khoanh núi nuôi rừng”. Đến giữa những năm 80 thì
chuyển hướng theo thuật ngữ mới là: “Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh phục hồi rừng”.
Khoanh nuôi phục hồi rừng là quá trình lợi dụng triệt để khả năng tái sinh và
diễn thế tự nhiên với sự can thiệp hợp lý của con người để thúc đẩy quá trình tái tạo
rừng trong một thời gian xác định theo mục đích xác định.
Theo Trần Đình Lý (1995) các đối tượng khoanh nuôi phục hồi rừng là: Đất đã
mất rừng do bị khai thác cạn kiệt, nương rẫy bị bỏ hoá, còn tính chất của đất rừng,
trảng cây bụi xen cây gỗ, còn tầng đất mặt dày trên 30cm. Tác giả cũng xác định hết
thời gian khoanh nuôi, rừng phải có ít nhất 500 cây mục đích/ha, có chiều cao trung
bình 3m và độ tàn che 0,3 [16].
Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, khoanh nuôi, phục hồi rừng là
giải pháp tăng nhanh độ che phủ ở nước ta. Nhờ có những chính sách đúng đắn đó
chúng ta đã thành công bước đầu là qua 2 năm đầu của dự án 5 triệu ha rừng (1999 –
2000) thì 10 tỉnh Bắc Bộ đã khoanh nuôi tái sinh được 0,5 triệu ha rừng [13].
1.5. Những nghiên cứu về thảm thực vật và đa dạng thực vật ở khu vực nghiên cứu

định được 1.217 loài trong 180 họ, 680 chi. Trong đó có 40 loài đã được ghi trong
Sách đỏ Việt Nam, phát hiện thêm một số loài mới bổ sung cho hệ thực vật Việt
Nam. Đồng thời cũng thống kê và nghiên cứu một số nhóm cây tài nguyên quan
trọng của VQG: tài nguyên cây cho gỗ (202 loài); tài nguyên cây làm thuốc (665
loài); tài nguyên cây có hoa, làm cảnh và bóng mát (90 loài); tài nguyên cây rau và
cây có quả ăn được (123 loài),… [12].
14
Chương 2.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý, ranh giới
Xã Xuân Sơn nằm ở phía Tây Nam của huyện Tân Sơn, cách trung tâm huyện
40 km đường trải nhựa, đèo dốc.
Xã Xuân Sơn có ranh giới như sau:
+ Phía Đông giáp xã Xuân Đài (huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ).
+ Phía Tây giáp huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La) và huyện Đà Bắc (tỉnh Hòa Bình).
+ Phía Tây Bắc giáp xã Đồng Sơn, Lai Đồng, và Tân Sơn (huyện Tân Sơn, tỉnh
Phú Thọ).
+ Phía Nam giáp xã Kim Thượng (huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ) [33].
Hình 2.1. Bản đồ vị trí địa lí xã Xuân Sơn - KVNC
15
2.1.2. Địa hình và thổ nhưỡng
2.1.2.1. Địa hình địa mạo
Huyện Tân Sơn chủ yếu là đất rừng tự nhiên, núi cao, riêng vùng lõi và vùng
đệm (phòng hộ) của Vườn Quốc gia Xuân Sơn chiếm trên 15.000 ha, nằm trong một
vùng đồi núi thấp và trung bình thuộc lưu vực sông Bứa, nơi kết thúc của dãy Hoàng
Liên Sơn. Vùng đồi núi thấp này tỏa rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang đến tả ngạn
sông Đà, bao gồm cả huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Sông Bứa và các chi lưu của nó
tỏa nhiều nhánh ra gần như khắp vùng. Nhìn toàn cảnh các dãy đồi núi chỉ cao chừng

2.1.2.2. Khí hậu- thủy văn
* Khí hậu:
Xuân Sơn tuy nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới, nhưng xa đường xích
đạo nên có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh.
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình năm biến động từ 22
o
C – 23
o
C, tương
đương với tổng nhiệt năng từ 8.300
o
C – 8.500
o
C (nằm trong vành đai nhiệt đới). Mùa
lạnh từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ
trong các tháng này thường xuống dưới 20
o
C, nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất là
tháng 1. Mùa nóng, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam nên thời tiết luôn nóng
ẩm, mưa nhiều. Nhiệt độ trung bình trên 25
o
C, nóng nhất là vào tháng 6 và tháng 7
(28
o
C). Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 40,7
o
C vào tháng 6 [18].
- Chế độ mưa: Lượng mưa đạt mức trung bình từ 1.660 mm ở Xuân Sơn đến
1.826 mm ở Minh Đài. Tập trung gần 90% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10
hàng năm), hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 và tháng 9 hàng năm. Mùa

* Thổ nhưỡng
Được hình thành trong một nền địa chất phức tạp (có nhiều kiểu địa hình và
nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau) cùng với sự phân hoá khí hậu, thuỷ văn đa dạng
và phong phú… nên có nhiều loại đất được tạo thành trong khu vực này. Một số loại
đất chính có nhiều giá trị trong khu vực [18]:
- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FH): Được hình thành trong điều kiện
mát ẩm, độ dốc lớn, không có nước đọng, không có kết von và tầng mùn dày, tỷ lệ
18
mùn cao (8 – 10%). Phân bố ở độ cao từ 700 – 1.500m, tập trung ở phía Tây của khu
vực, giáp với huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình), huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La).
- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (F): Là loại đất có quá trình
feralit mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá mẹ và độ ẩm của đất.
Loại đất này phân bố dưới 700m, có thành phần cơ giới nặng, tầng đất dày, ít đá lẫn,
khá màu mỡ, thích hợp cho các loại cây rừng phát triển.
- Đất rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi): Đá vôi là loại đá cứng,
khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến
đấy, nên đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá.
- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng (DL): Là loại
đất phì nhiêu, tầng dày, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon (L). Hàng năm
được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ.
Toàn huyện Tân Sơn còn 8.897,62 ha đất chưa sử dụng, trong đó:
+ Đất bằng chưa sử dụng: 15,58 ha.
+ Đất đồi núi chưa sử dụng: 8.583,5 ha.
+ Núi đá không có rừng cây: 298,54 ha.
Từ các số liệu thống kê trên cho thấy, diện tích đất chưa sử dụng còn khá lớn,
có thể chuyển sang mục đích phát triển nông – lâm nghiệp [18].
Xã Xuân Sơn với tổng diện tích tự nhiên 6.528,7 ha, diện tích đất chưa sử dụng
là 897,04 ha (chiếm 13,74% diện tích tự nhiên). Hoàn toàn có thể chuyển sang mục
đích phát triển nông – lâm nghiệp.
Bảng 2.1: Quỹ đất phát triển nông – lâm nhiệp của xã Xuân Sơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status