Nghiên cứu đa dạng hệ thực vật, thảm thực vật tỉnh hà giang nhằm góp phần quy hoạch phát triển bền vững của địa phương - Pdf 38

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN

VŨ Anh Tài

NGHIÊN CỨU ĐA DANG HÊ THƯC VÂT, THẢM THƯC VÂT TỈNH HÀ GIANG NHẰM GÓP
PHẦN QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐIA PHƯOỈNG

HÀ NỘI2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN

LUẬN ÁN TIẾN sĩ SINH HỌC
Vũ Anh Tài

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG HỆ THựC VẬT, THẢM THựC VẬT
TỈNH HÀ GIANG NHẰM GÓP PHẦN QUY HOẠCH
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA ĐIA PHƯƠNG
Chuyên ngành: Thực vật học Mã số: 62420111

LUẬN ÁN TIẾN sĩ SINH HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TSKH. Nguyễn Nghĩa Thìn
Tôi xỉn cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của GS. TSKH. Nguyễn Nghĩa Thìn. Các
sổ liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bổ trong bất kỳ công trình nào. Các hình và ảnh

HÀ NỘI2015

tàng thiên nhiên Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
những người đã luôn chia sẻ, giúp đỡ tôi ừong chuyên môn.
Xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp tại Đại học Manitoba, Bảo tàng tự nhiên
Ottawa, Canada đã hỗ trợ chứng tôi trong các khảo sát thực địa tại các địa phương
thuộc tỉnh Hà Giang trong chương trình Evolutionary hotspot for a hyperdiversity
flowering plant clade, dự án do National Geographic Society Research and
Exploration tài trợ.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn tới những người thân trong gia đình, đã
động viên, chia sẻ, giúp đỡ tôi cả về tinh thần và vật chất để tôi yên tâm hoàn thành
luận án.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
Hà Nội, ngày 15 tháng 9 năm 2015
Tác giả luận án



CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU TRONG LUẬN ÁN
CITES Convention of International Trade of Endangered species (Công ước về buôn
bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp)
CR
Loài rất nguy cấp (Critical Endangered species)
cs
cộng sự
DD
Loài thiếu dẫn liệu (Data deficient)
ĐDSH đa dạng sinh học ĐHQGHN Đại học Quốc
gia Hà Nội ENLoài nguy cấp (Endangered species)
EW Loài bị tuyệt chửng ngoài thiên nhiên (Extinction in the wild)
HTV hệ thực vật
IA. Loài bị cấm khai thác, buôn bán theo nghị định 32/2006/NĐ-CP IIA. Loài bị hạn

Tên bảng

Trang


MỞ ĐẦU
Hà Giang nằm ở cực Bắc của Việt Nam, trên địa hình khá phức tạp, có thể chia
làm 3 vùng. Vùng cao núi đá phía bắc nằm sát chí tuyến bắc, có độ dốc khá lớn, thung
lũng và sông suối bị chia cắt nhiều, có đỉnh Tây Côn Lĩnh (2.419m) và đỉnh Kiều Liêu
Ti (2.402m) là cao nhất. Vùng cao núi đất phía tây thuộc khối núi thượng nguồn sông
Chảy, sườn núi dốc, đèo cao, thung lũng và lòng suối hẹp. Vùng thấp trong tinh gồm
vùng đồi núi, thung lũng sông Lô và thành phố Hà Giang. Khí hậu mang nhiều sắc thái
ôn đới, chia làm 2 mùa, mùa mưa và mùa khô, có nhiều khu rừng nguyên sinh,
356.926 ha rừng tự nhiên là ngôi nhà cho các động vật quý cùng nhiều loại cây gồ, cây
dược liệu quý (Cục kiểm lâm, 2014)[199]. Ngoài ra, Hà Giang còn có 28 loại khoáng
sản khác nhau, nhiều mỏ có trữ lượng lớn với hàm lượng khoáng chất cao (Cổng
TTĐT Hà Giang, 2012)[196].

về

mặt kinh tế-xã hội, tăng trưởng GDP đạt tốc độ cao, giai đoạn 2006-2010

mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng nền kinh tế tỉnh Hà Giang đã phát triển ổn định với
tốc độ tăng trưởng cao hom trước, thu hẹp dần khoảng cách so với trung bình của cả
nước. Tuy nhiên với diện tích 7.884,3 km 2, mật độ dân số của Hà Giang chỉ là 95
người/km2, Hà Giang vẫn là một tỉnh nghèo của Việt Nam, hiện đang có nhiều chủ
trưomg, chính sách của Quốc gia và địa phưomg nhằm thúc đẩy, phát triển kinh tế xã
hội, nâng cao đời sống (Cổng TTĐT Hà Giang, 2012)[196].
Song song với nhiệm vụ phát triển kinh tế trong giai đoạn hiện nay, cần phải đặc
biệt quan tâm đến vấn đề môi trường, cần xây dựng cơ cấu, chiến lược phát triển kinh

Góp phần đánh giá sự phân bố của các quần xã, quần hệ thảm thực vật ở địa
phương.
Lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng, hoạch định các chính sách, kế hoạch
phát triển kinh tế-xã hội bền vững cho tinh Hà Giang.
Bên cạnh đó, những điểm mới của luận án gồm:
Luận án xây dựng được danh lục các loài thực vật có mạch cho tỉnh Hà Giang
gồm 2.890 loài, trong đó 280 loài được thu mẫu và 744 loài được quan sát, bổ sung
vùng phân bố là tỉnh Hà Giang cho 331 loài so với Danh lục thực vật Việt Nam
(2005).
Bổ sung vùng phân bố Hà Giang cho 88 loài thực vật trong Sách Đỏ Việt Nam
(2007).
Đánh giá và mô tả các quần xã thực vật trong sinh khí hậu ấm-ướt và mát-ướt
(Kiểu rừng kín thường xanh mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng; Kiểu phụ rừng thứ sinh
thường xanh mưa ướt nhiệt đới cây lá rộng; Kiểu phụ rừng thứ sinh thường xanh mưa


ướt nhiệt đới cây lá rộng hỗn giao tre nứa; Kiểu phụ rừng thứ sinh mưa ướt nhiệt đới
tre nứa; Kiểu phụ trảng cây bụi, trảng cỏ thứ sinh mưa ướt nhiệt đới).
Luận án thành lập bản đồ thảm thực vật ưên quan điểm sinh thái phát sinh (tỉ lệ
1:100.000) có thể ứng dụng thực tiễn trong công tác quản lý, quy hoạch và bảo tồn tài
nguyên thực vật, phát triển kinh tế nông lâm nghiệp của địa phưomg.
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học là tính đa dạng và các đặc trưng của hệ thực
vật, thảm thực vật tại địa phương và sự phù hợp với điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh xã
hội của tỉnh, đưa ra những đề xuất góp phần phát triển bền vững của Hà Giang.


Chương 1. TỔNG QUAN

1.1.


đến lúc bấy giờ, đơn vị phân loại cao nhất vẫn được dừng cho đến tận ngày nay đó là Chi
(Genus) và các đặc điểm của bộ phận sinh sản (đực/cái), bộ phận dinh dưỡng được quan
tâm, sử dụng (History of Plant Systematic, 2014)[200]. Sau Linnaeus, có một số đóng góp
đáng kể của các nhà khoa học bằng việc đưa ra những quan điểm, bằng chứng để làm rõ và
hoàn thiện hệ thống như Adanson, Michel (1763) trong “Familles des plantes” hay de
Jussieu, Antoine Laurent (1789) trong “Genera Plantarum, secundum ordines naturales
disposita juxta methodum in Horto Regio Parisiensi exaratam” hoặc de Candolle và cs


(1824-1873) trong “The Vegetable Kingdom ” (History of Plant Systematic, 2014) [200].
Đối với ngành, tiến hóa cao nhất là thực vật có hoa, đã có rất nhiều các công trình
nghiên cứu, các hệ thống phân loại được đưa ra để áp dụng và dần hoàn thiện hom. Có thể
kể đến các công trình ban đầu như hệ thống của Cronquist với công trình cuối cùng là “Ẩn
integrated system of classification of flowering plants” (Cronquist, 1981)[143], của A.
Takhtajan với xuất bản cuối cùng là “Diversity and classification of flowering plants”
(Takhtajan, 1997)[169], hay Thome với công bố "The classification and geography of the
flowering plants: dicotyledons of the class Angiospermae" (Thome, 2000)[172] và gần đây
nhất là những công bố của APG về dựa trên các kết quả nghiên cứu về di truyền học phân tử
và phân tích cấu trúc DNA của các nhóm phân loại (APG 1998-2009) [125-127].
Hiện nay, bên cạnh các công trình xuất bản bằng sách, đã có các trang thông tin điện
tử xuất bản và cung cấp thông tin một cách chính thức và có độ tin cậy cao như các tạp chí
có mã số và các website của các tổ chức uy tín khác. The International Plant Index (ipni.org,
2014)[202] và The Plant List (theplantlist.org, 2014) [203] là những website cung cấp tên
khoa học cập nhật và chính xác nhất cũng như lịch sử công bố của các loài dựa trên các bộ
mẫu chuẩn, các công bố đã được cộng đồng quốc tế và các tạp chí khoa học xác nhận. The
Plant List cũng kết nối thường xuyên và cập nhật tới website của Vườn thực vật Hoàng gia
Kew (kew.org, 2014)[205] hay Website của Vườn thực vật Missouri (mobot.org, 2014)
[193]. Hệ thống này cung cấp tên khoa học đã được chấp nhận cho các loài thực vật và cho
phép liên kết với các đồng danh khác của tất cả các loài đã biết.


2009) [124].
Hiện nay, địa lý thực vật bao gồm hai lĩnh vực nghiên cứu, đó là sinh thái và lịch sử.

về mặt sinh thái học, đó là sự phân bố của các loài hiện thời trong khi đó, về mặt lịch sử,
nó liên quan đến nguồn gốc phát sinh của các loài. Đối với một khu hệ, việc nghiên cứu địa
lý thực vật là tập trung vào lãnh thổ phân bố của các nhóm loài (Mark và cs, 2006)[159].

Ll.1.4. Các nghiên cứu về dạng sống của thực vật
Thuật ngữ dạng sống thực vật được lần đầu tiên đề cập đến trong Plantesamfund (tiếng
Đan Mạch, năm 1895) bởi Eugen Warming và được dịch thành tiếng Anh năm 1909 với tựa
đề Oecology of Plants: An Introduction to the Study of Plant Communities do Warming và
Martin Vahl (1909) biên soạn. Ban đầu các tác giả phân loại thực vật dựa vào diện mạo
nhưng không đề cập đến chức năng của các diện mạo đó. Với sự phản đối mạnh mẽ của A.p.
de Candolle, ông đã xây dựng được hệ thống phân loại dạng sống thực vật dựa vào chiều
cao của chồi hóa gỗ và tuổi thọ của cây. Warming còn xây dựng phổ dạng sống cho giới
thực vật, ông phân biệt thực vật dị dưỡng và tự dưỡng đồng thời phân biệt được các dạng
nấm, địa y, dây leo và các dạng sống trên đất khác bao gồm một lần ra quả hoặc nhiều lần ra
quả (Warming và Martin Vahl, 1909)[177].
Tiếp nối công trình của Warming, Oscar Drude đã phân chia phổ dạng sống thực vật
theo diện mạo và chức năng, ví dụ như cây một lá mầm và hai lá mầm trong công trình “Die
Systematische und Geographische Anordnung der Phanerogamen" (1887) (wikipedia.org)
[195]. Hệ thống phân loại dạng sống của Christen Raunkiaer (1904) dựa trên dạng sống cơ
bản của thực vật đáp ứng lại các điều kiện bất lợi của môi trường sống. Sau này, hệ thống
của Raunkiaer còn được một số tác giả thay đổi đi như G.E. Du Rietz (1931) nhưng bản cuối


cùng do Raunkiaer biên tập năm 1934 được sử dụng phổ biến, rộng rãi cho đến ngày nay
(Raunkiaer, 1934)[163].
Raunkiaer cũng đã tính toán cho hơn 1000 loài cây ở các vừng khác nhau trên thế giới
và tìm được tỉ lệ phần trăm bình cách (vai trò ngang nhau) cho từng loài, gộp lại thành phổ



1.1.1.6.

Cấc nghiên cứu về giá trị bảo tồn của hệ thực vật Bên cạnh giá trị sử

dụng, các giá trị bảo tồn của thực vật cũng được thế giới quan tâm. Theo đó, Công
ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (1973) chính
thức ra đời năm 1975 (cites.org) [197] đã hạn chế được việc khai thác và xuất khẩu ồ
ạt các loài quý hiếm ra nước ngoài, đảm bảo các loài phải được tồn tại trong môi
trường sống bản địa hoặc thích nghi lâu đời của chứng. Hiện nay, IUCN Red list of
Threatened Species được coi là công bố chuẩn và chung trên toàn thế giới về tình
trạng bảo tồn của các loài (iucnredlist.org, 2014)[203].
1.1.2.

Nghiên cứu thảm thực vật trên thế giới

I.I.2.I.

Các nghiên cứu phân loại thảm thực vật trên thế giới Theo

Schmitthusen (1959), ở châu Âu có 2 hệ thống phân loại thảm thực vật chủ yếu, đó là
hệ thống phân loại các quần xã thực vật của Braun-Blanquet (1928), được thực hiện
chủ yếu bởi các nhà thực vật học theo trường phái của Pháp và hệ thống phân loại
các quần thể thực vật được thực hiện bởi những nhà địa thực vật của Đức (ghi theo
Thái Văn Trừng, 1978)[112].
Ở Phần Lan, Caiande A.K. chủ trương phân loại rừng dựa vào thực vật thảm tươi. Ông cho
rằng, trong lâm phần thành thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ
thuộc vào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn phụ thuộc vào cả tổ thành loài cây gỗ của
lâm phần. Theo đó, thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất để xem xét tính đồng nhất sinh học của môi

Gần đây các nhà sinh thái và địa thực vật Đức đã phân chia thảm thực vật ở cạn thành
16 kiểu quần hệ: Rừng mưa nhiệt đới, rừng mưa á nhiệt đới, rừng mưa lạnh ôn đới, rừng
xanh mưa mùa, rừng lá rộng xanh mùa hè, rừng lá kim rộng ôn đới, kiểu quần hệ cây gỗ có
gai, kiểu cây gỗ có lá rộng, kiểu thảo nguyên rừng, kiểu trảng cỏ nhiệt đới, kiểu thảo nguyên
ôn đới, kiểu đầm lầy, kiểu hoang mạc nóng và kiểu hoang mạc khô lạnh (Thái Văn Trừng,
1978) [112].
UNESCO đã công bố một khung phân loại thảm thực vật thế giới dựa trên nguyên tắc
ngoại mạo cấu trúc. Khung này là cơ bản để thống nhất các đơn vị thảm thực vật ừên quy
mô toàn cầu và được thể hiện trên bản đồ 1:1.000.000 và nhỏ hơn (phần lớn được trình bày
và biên tập cho bản đồ tỉ lệ 1:5.000.000). Trong khung phân loại này, các mối quan hệ sinh
thái và sinh thái-xã hội học không được thể hiện (UNESCO, 1973)[175].

I.I.2.2.

Các nghiên cứu về vai trò của thảm thực vật

Thảm thực vật có vai trò hết sức quan trọng trong sự sống còn của trái đất. Trong
“’Natural Conservation: the role of remnants of native vegetatỉon” (Denis

s.,

1993)[146],

vai ừò của các thảm thực vật bản địa là rất quan trọng trong việc duy trì trạng thái cân bằng
khí quyển có lợi cho sức khỏe con người, điều hòa không khí, cân bằng C0 2/02, điều hòa
nhiệt độ khí quyển, ngăn chặn và hạn chế tác hại của bão lũ, thiên tai. Thảm thực vật còn có


vai trò rất quan trọng trong điều phối cân bằng nước, hạn chế tối đa tác hại của nước mưa
đến xói mòn, rửa trôi, vừa giúp duy trì lượng nước tưới tiêu, sinh hoạt, vừa hạn chế tối đa

(Colin A Pendry, 2014)[142], các tập là những mô tả của các họ, nhóm họ có quan hệ gần
gũi; bộ Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam gồm 6 tập (Lê Khả Kế và cs, 1969- 1976)[49], bộ
Cây gỗ rừng Việt Nam gồm 7 tập (Viện điều tra quy hoạch rừng, 1971-1988)[120]. Trong
các tác phẩm này, các tác giả đã giới thiệu và mô tả khá chi tiết các loài cùng với hình vẽ
minh hoạ.
Trong số các tài liệu về thực vật học được sử dụng phổ biến tại Việt Nam, đáng chú ý
nhất là Cây cỏ Việt Nam của Phạm Hoàng Hộ xuất bản tại Montréan (1991-1993) và được
tái bản, có bổ sung bởi Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh (Phạm Hoàng Hộ, 1999-2000)[43].
Đây là bộ sách được đánh giá là đầy đủ nhất, dễ sử dụng nhất và góp phần quan họng trong
việc nghiên cứu thực vật ở Việt Nam. Trong bộ sách này, tác giả đã thống kê có mô tả và
kèm theo hình vẽ của hơn
II. 600 loài thực vật Việt Nam.


Thập niên 90 của thế kỷ trước, các nhà thực vật Việt Nam và Liên bang Nga đã họp
tác nghiên cứu và hệ thống lại hệ thực vật Việt Nam. Các công trì nh khoa học này được
đăng trong “Kỷ yểu cây có mạch của thực vật Việt Nam” tập 1-2 (1996) và Tạp chỉ Sinh học
sổ 16+17 (chuyên đề) 1994 và 1995 (ghi theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2004c)[92].
Gần đây, tập thể các Nhà thực vật học của Việt Nam đã cùng nhau biên soạn cuốn
Danh lục các loài thực vật Việt Nam gồm 3 tập (Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi
trường, 2001)[111], (Nguyễn Tiến Bân (chủ biên), 2003-2005)[4]. Tuy không có phần mô tả
và hình vẽ nhưng đây thực sự là một công trình có giá trị khoa học cao thể hiện tính đa dạng,
phong phú của hệ thực vật Việt Nam với 11.603 loài.
Việc ghi nhận sự đa dạng về thành phần loài cho hệ thực vật Việt Nam: Pócs T. khi
nghiên cứu về hệ thực vật ở Miền Bắc Việt Nam đã thống kê được ở miền Bắc có 5.196 loài
(Pócs T., 1965)[189]; Phan Kế Lộc và cộng sự đã thống kê lại và có bổ sung nâng số loài ở
miền Bắc lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ xếp theo hệ thống của Engler (Phan Ke Lộc,
1970)[58]; Thái Văn Trừng đã phân tích và cho rằng hệ thực vật Việt Nam, gồm 7.004 loài,
1850 chi, 289 họ trong đó, ngành thực vật hạt kín chiếm ưu thế với 6.366 loài, 1.727 chi và
239 họ (Thái Văn Trừng, 1978)[112]. Năm 1997, Nguyễn Nghĩa Thìn đã tổng hợp, chỉnh lý

đủ các thông tin cần thiết về các loài trong họ. Là những tài liệu quan trọng làm cơ sở cho
việc đánh giá về đa dạng phân loại của các họ thực vật Việt Nam.
Trong những năm gần đây có một số công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thực vật
bậc cao có mạch (đa dạng và phân loại) ở các vùng khác nhau của Việt Nam, có thể kể đến
như: hệ thực vật ở Cúc Phương đã xác định có 1.817 loài, 838 chi, 188 họ (Phùng Ngọc Lan
và cs, 1996)[53], hệ thực vật ở Pù Mát có 202 họ, 931 chi và 2.494 loài (Nguyễn Nghĩa Thìn
và Nguyễn Thanh Nhàn, 2004)[97], hệ thực vật Ben En có 1.389 loài của 65 chi, 173 họ
(Hoang Van Sam và cs, 2008)[151]. Ngoài ra, còn một số công trình nghiên cứu cụ thể ở các
địa phương khác, như hệ thực vật Hoàng Liên Sơn (Trần Đình Lý và cs, 1996)[68]; hệ thực
vật núi cao Sa Pa-Phan Si Phăng (Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời, 1998)[103]; hệ
thực vật Kon Ka Kinh (Trần Quang Ngọc, 1999)[71]; hệ thực vật ven biển Nam Trung Bộ
(Nguyễn Nghĩa Thìn và Vũ Văn cần, 1999)[95]; hệ thực vật Bạch Mã (Thừa Thiên-Huế)
(Nguyễn Nghĩa Thìn và cs, 2003)[97]; hệ thực vật Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình)
(Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Văn Thái, 2003)[100]; hệ thực vật Chư Mom Ray (Kon
Tum) (Hồ Mạnh Tường và cs, 2006)[118]; hệ thực vật Xuân Sơn (Phú Thọ) (Trần Minh Hợi
và Vũ Xuân Phương, 2008)[45]; hệ thực vật Hoàng Liên (Lào Cai) (Nguyễn Nghĩa Thìn và
cs, 2008)[95];... các nghiên cứu này tập trung xây dựng danh sách các loài thực vật cho một
khu phân bố cụ thể là các khu rừng đặc dụng, đơn vị hành chính cụ thể được tiến hành khá
rộng rãi, phổ biến ở hầu hết các nơi còn rừng tự nhiên trên cả nước.

Ll.2.2. Đa dang các yếu tố đìa lỷ thưc vât

về các yếu tố địa lý thực vật, Gagnepain là người đầu tiên nghiên cứu, phân tích và
đánh giá các yếu tố địa lý thực vật của hệ thực vật Việt Nam, theo tác giả hệ thực vật Đông
Dương bao gồm năm yếu tố được trình bày trong hai công trình là:
Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương (1926) và Giới thiệu về hệ thực vật Đông
Dương (1944): yếu tố Trung Quốc chiếm 33,8% tổng số loài của hệ thực vật; yếu tố Xích


Kim-Himalaya chiếm 18,5%; yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác chiếm 15,0%; yếu tố đặc

Nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ
Nhiệt đới châu Á và Mỹ: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á đến vùng


nhiệt đới châu Mỹ, một số có thể mở rộng tới Đông Bắc châu úc và các đảo Tây Nam Thái
Bình Dương.
Cổ nhiệt đới: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á, châu úc, châu Phi và
các đảo lân cận.
Nhiệt đới châu Á và châu úc: gồm các taxon phân bố mà ở vùng nhiệt đới châu Á tới
châu úc và các đảo lân cận. Nó nằm cánh đông của cổ nhiệt đới và mở rộng đến các đảo Ấn
Độ nhưng không bao giờ tới lục địa châu Phi.
Nhiệt đới châu Á và châu Phi: gồm các taxon ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và các
đảo lân cận. Đây là cánh Tây của vừng cổ nhiệt đới và có thể mở rộng tới Fiji và các đảo
nam Thái Bình Dương nhưng không tới châu úc.
Nhiệt đới châu Á (Indo-Malesia): gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ
Ấn Độ, Sri Lanka, Myanma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam và Nam Trung Hoa (Lục
địa châu Á), Indonesia, Malaysia, Philippines đến New Guinea và mở rộng tới Fiji và các
đảo Nam Thái Bình Dương (vùng Malesia) nhưng không tới châu úc.
Đông Dương-Malesia: gồm các taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ lục địa
Đông Nam Á (Myanma, Thái Lan, Đông Dương và Tây Nam-Nam Trung Hoa), đến
Malaysia, Indonesia, Philippines, New Guinea và mở rộng tới Fiji và các đảo nam Thái Bình
Dương nhưng không tới châu úc ở phía Nam hay Ấn Độ ở phía Tây.
Đông Dương-Ấn Độ hay Lục địa châu Á nhiệt đới: gồm các taxon phân bố ở vùng
nhiệt đới châu Á từ ấn Độ, Sri Lanka, Myanma, Thái Lan, Đông Dương và Nam Trung Hoa
không tới vùng Malesia.
Đông Dương-Himalaya hay Lục địa Đông Nam Á (trừ Malesia, Ấn Độ): gồm các
taxon phân bố ở vùng nhiệt đới châu Á từ chân Himalaya, Myanma, Thái Lan,
Đông Dương và Tây Nam Trung Hoa, một số có thể mở rộng đến bán đảo Mã Lai ở phía
Nam. Đây là nhóm thực vật phân bố chủ yếu trên núi cao.
Đông Dương-Nam Trung Hoa: gồm các taxon phân bố ở Đông Dương và Nam Trung

Theo quan điểm cá nhân, giới hạn và hệ thống hóa các yếu tố địa lý thực vật của
Nguyễn Nghĩa Thìn (2004a)[89] như ừên là hợp lý, theo đó, Châu Á vốn có nằm trên 2 miền
địa lý sinh vật thì không thể là một yếu tố như quan điểm của Lê Trần Chấn (1999) và việc
tồn tại ở hai miền địa lý như vậy chắc chắn phải thuộc nhóm liên nhiệt đới hoặc cổ nhiệt đới,
hoặc phân bố rộng.

1.1.23. Nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật
Các công trình nghiên cứu về phổ dạng sống của hệ thực vật ở Việt Nam nói chung và
các khu hệ thực vật của các địa phương nói riêng áp dụng theo hệ thống phân chia dạng sống
thực vật của Raunkiær (1934)[163] (xem Phụ lục 4). Đối với HTV Bắc Việt Nam, Pócs T.
đã phân tích một số thành phần phổ dạng sống của hệ thực vật và đưa ra phổ dạng sống
chuẩn (Spectrum of Biology-Ký hiệu SB) như sau: SB = 52,21 Ph + 40,68 (Ch, Hm, Cr) +
7,11 Th (Pócs T., 1965)[189].


Áp dụng hệ thống phân chia này, chi tiết hơn trong nghiên cứu của mình, Thái Văn
Trừng còn áp dụng các ký hiệu khác cho chồi và lá theo các trạng mùa, ký hiệu về hình dạng
tán, chất liệu dây leo (Thái Văn Trừng, 1978)[112]. Một số phổ dạng sống của hệ thực vật
Việt Nam và một số khu vực khác đã được xây dựng, như VQG Cúc Phương với 57,78%
nhóm Ph (Phùng Ngọc Lan và cs, 1997)[53], số loài Ph của Việt Nam là 54,68% (Lê Trần
Chấn và cs, 1999a)[20], hệ thực vật VQG Pù Mát có 78,88% thuộc nhóm Ph (Nguyễn Nghĩa
Thìn, Nguyễn Thanh Nhàn, 2004)[97], VQG Bến En (Hoang Van Sam và cs, 2008)[151] có
75,88% cây thuộc nhóm Ph,... các phổ dạng sống này đều cho thấy tính chất nhiệt đới khá
điển hình với tỉ lệ cao của nhóm Ph.

I.I.2.4. Nghiên cứu giá tri sử dung của hê thưc vât
Nghiên cứu giá trị sử dụng của thực vật ở Việt Nam được đặt nền móng từ những khảo
sát, thu thập mẫu vật trên khắp mọi miền cả nước của các nhà khoa học người Pháp từ cuối
thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX. Theo đó, mẫu vật được lưu trữ ở các bảo tàng thực vật
của Việt Nam và các nước trên thế giới, chủ yếu ở Bảo tàng lịch sử tự nhiên Paris. Trong đó,

nhất với thế giới (IUCN). Hiện nay, Việt Nam có 448 loài thực vật được ghi nhận theo Sách
Đỏ này, trong đó, thực vật bậc cao có mạch có 429 loài (Bộ Khoa học và Công nghệ, Viện
Khoa học và Công nghệ Việt Nam, 2007) [10].
Năm 2008 trở thành năm đặc biệt đối với công tác đánh giá và bảo tồn đa dạng sinh
học khi Luật Đa dạng sinh học ra đời (Quốc hội, 2008)[79]. Trong đó đề cập đến các khái
niệm về đa dạng sinh học mà chưa có một công bố chính thức nào trước đó đề cập đến. Đây
cũng là kết quả nghiên cứu, tham vấn giữa các nhà khoa học, chuyên gia bảo tồn và các nhà
quản lý địa phưcmg, quản lý nhà nước để Quốc hội có cơ sở ban hành luật này.
Sau khi trở thành thành viên của CITES, Việt Nam đã có văn phòng CITES trực thuộc
Tổng cục lâm nghiệp, Cục kiểm lâm. Các tài liệu công bố của CITES được ban hành nhằm
giới thiệu về CITES và danh mục các loài thuộc CITES. Theo Thông tư số 59/2010/TTBNNPTNT năm 2010, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành Danh mục các loài
động vật, thực vật hoang dã thuộc quản lý của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động
vật, thực vật hoang dã nguy cấp. Theo đó, Việt Nam hiện có 104 loài và nhóm loài (các loài
thuộc một chi) thuộc phụ lục I, 81 loài và nhóm loài thuộc phụ lục II và 9 loài thuộc phụ lục
III. Đây là căn cứ để các tác giả khi đánh giá về tính đa dạng sinh học của một khu hệ thực
vật. Tuy nhiên, không có nhiều các công trình đánh giá đầy đủ, toàn diện và cập nhật về giá
trị bảo tồn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2010)[13].
Năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị định 160/2013/NĐ-CP về tiêu chí xác định loài
và chế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ. Kèm
theo đó là danh mục các loài, các giống, các thứ động thực vật được ưu tiên bảo vệ, các biểu
mẫu để các nhà khoa học, nhà quản lý đề xuất loại trừ hoặc bổ sung các loài, các giống /
thứ / dưới loài vào danh mục này (Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,
2013b)[30].


1.2.2.

Nghiên cứu thảm thực vật

Các công trình nghiên cứu về TTV ở Việt Nam nói riêng và các nước trên bán đảo




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status