Nghiên cứu sinh thái cảnh quan các hệ sinh thái
nhằm định hướng quy hoạch phát triển bền vững
tại xã Hương Sơn, Huyện Mỹ Đức, Hà Nội
Hoàng Thanh Thương
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
Khoa Sinh học
Luận văn Thạc sĩ ngành: Sinh thái học; Mã số: 60 42 60
Người hướng dẫn: TS. Đoàn Hương Mai
Năm bảo vệ: 2011 Abstract. Trình bày khái niệm về hệ sinh thái, cảnh quan và sinh thái cảnh quan. Nghiên
cứu tình hình sinh thái cảnh quan ở Việt Nam cũng như ứng dụng Gis và viễn thám trong
nghiên cứu sinh thái học. Tìm hiểu về phát triển bền vững và những vấn đề quy hoạch.
Phân tích, đánh giá sinh thái cảnh quan và các hệ sinh thái ở xã Hương sơn, huyện Mỹ
Đức, Hà Nội. Đưa ra kết quả nghiên cứu và thảo luận: Điều kiện tự nhiên-yếu tố hình
thành nên cảnh quan; điều kiện dân sinh-kinh tế-xã hội-yếu tố tác động lên cảnh quan; hệ
thống các hệ sinh thái tại xã Hương Sơn; Bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái (HST) xã
Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Đề xuất một số giải pháp sử dụng sinh thái cảnh quan
các hệ sinh thái xã Hương Sơn theo định hướng phát triển Bền Vững: hệ sinh thái khu dân
cư; nông nghiệp; hệ sinh thái thủy vực; HST rừng trên núi đá vôi và rừng trên núi đất; HST
rừng trồng và cây ăn quả lâu năm, HST trảng cỏ và HST trảng cây bụi ; tre nứa.
Keywords. Sinh thái cảnh quan; Hệ sinh thái; Phát triển bền vững
Content
Toàn bộ xã Hương Sơn được phân ra làm 8 hệ sinh thái. Mỗi hệ sinh thái có những đặc điểm
đặc trưng. Điều này là thích hợp nhất để áp dụng viễn thám và GIS để thành lập bản đồ hiện trạng
( Nhà xuất bản bản đồ Việt Nam).
+ Bản đồ địa hình xã Hương Sơn, Huyện Mỹ Đức, Hà Nội năm 2005, tỷ lệ 1: 50.000 ( Nhà
xuất bản bản đồ Việt Nam).
+ Khám phá hệ thực vật Hương Sơn.
- Phương pháp: Các bản đồ địa hình được sử dụng như là vật liệu nền cơ bản, các hình ảnh
vệ tinh là tài liệu chính để xác định hiện trạng các hệ sinh thái. Các tài liệu viễn thám cho phép xác
định ranh giới các hệ sinh thái nhanh và khách quan, đồng thời giảm thiểu về thời gian, tài chính và
nhân lực. Kết quả giải đoán bằng mắt cùng với bản đồ địa hình và bản đồ hiện trạng sử dụng đất sẽ
cho chúng tôi biết kết quả hiện trạng các hệ sinh thái sau đó sẽ được số hóa bằng phần mềm
MapInfo 10.0.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Điều kiện tự nhiên
- Địa hình: địa hình tương đối phức tạp so với các xã khác trong huyện. Phía Tây và phía
Nam xã là vùng núi đá Karst có độ cao trung bình từ 200 – 400m so với mặt nước biển. Các dãy núi
phía Nam có độ cao thấp hơn (từ 100 – 213m) so với mặt nước biển. Phía Bắc xã tương đối bằng
phẳng, độ cao trung bình 4 - 6m.
- Khí hậu: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành 4 mùa khá rõ nét.
- Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 80 –
89%. Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 11 và 12, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm
không khí giữa các tháng trong năm không lớn.
- Sương muối hầu như ít có, mưa đá rất ít khi xảy ra. Thông thường cứ khoảng 10 năm mới
quan sát thấy mưa đá 1 lần.
- Rừng: diện tích rừng 2.372,97 ha, toàn bộ là đó rừng đặc dụng do nhà nước quản lý.
- Diện tích sông suối và mặt nước chuyên dùng chiếm 10,5% diện tích đất tự nhiên, tạo điều
kiện phát triển nuôi trồng thủy sản kết hợp với du lịch mang lại hiệu quả kinh tế cao.
3.2. Hiện trạng các hệ sinh thái
Dựa trên phân tích hình ảnh vệ tinh Ikonos toàn bộ xã Hương Sơn được chia thành 08 hệ sinh thái.
Mỗi hệ sinh thái có đặc điểm cụ thể:
- Hệ sinh thái khu dân cư: chiếm khoảng 30% tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Quần xã
sinh vật ở đây rõ ràng là quần xã sinh vật nhân tạo, chủ yếu gồm các loại cây trồng, vật nuôi cung
gia cầm.
Duy trì độ ẩm cho khu vực. Vào mùa khô, không chỉ các con suối có nước thường
xuyên mà các suối ngầm có vai trò rất lớn trong việc giữ độ ẩm cho toàn khu vực.
Cung cấp thực phẩm: cá, ốc, tôm, tép,…
- Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi: Theo các nhà nghiên cứu dãy núi đá vôi Hương Sơn có
cách ngày nay khoảng hơn 200 triệu năm, núi Chùa Hương không hùng vĩ chất ngất nhưng có vẻ
đẹp kỳ thú với những tên gọi mang tính bí ẩn của thuyết phong thuỷ như: Núi Long, Ly, Quy,
Phượng. Mộc mạc dân giã gắn liền với nhân dân lao động như: núi Con Trăn, núi Mâm Xôi, Núi
Con Gà, Núi Con Voi …
Mặc dù điều kiện sống rất khắc nghiệt: luôn luôn khô và rất ít chất dinh
dưỡng, nhưng lại là hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao, đặc biệt hiện đang lưu giữ
nhiều nguồn gen quý hiếm, các loài cây thân gỗ chiếm ưu thế.
Rừng trên núi đá vôi ở đây thuộc loại rừng kín thường xanh với loại gỗ ưu thế là lim,
nghiến.
Đã phát hiện được 7 loài thực vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam phân bố ở hệ sinh
thái núi đá vôi, đó là Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain), Rau sắng (Melientha suavis Pierre), Nghiến
(Burretiodendron tonkinense (A. Chev.)(Kóterm.), Thổ phục linh (Smilax glabra Wall. ex Roxb.),
Bình vôi (Stephania cambodiana Gagnep.), Kim tuyến (Anoecotochilus setaceus Blume), Cốt toái
bổ (Drynaria bonii Christ.) Một loài tuy không có trong Sách đỏ, nhưng lại có trong nghị định
32/CP của Chính phủ thuộc nhóm I là nhóm nghiêm cấm khai thác và sử dụng, đó là Lan một lá
(Nervilia fordii (Hance) Schlechter.). Trong 7 loài quý hiếm có trong Sách đỏ, nghiến là loài đầu
tiên ghi nhận có ở Hương Sơn. Như vậy, chỉ riêng hệ sinh thái núi đá vôi Hương Sơn, số loài quý
hiếm đã chiếm 2% tổng số loài quý hiếm của hệ thực vật Việt Nam.
Ở chân núi gần thôn xóm được trồng thêm các cây ăn quả như đu đủ, chuối, nhãn, vải, sấu,
na ; các cây công nghiệp như chẩu, chè, dứa; cây hoa màu như: ngô, bí bầu, sắn ở những nơi có đất
phong hoá bồi tụ.
Đặc biệt, có rất nhiều cây Rau Sắng. Rau sắng chùa Hương hiện nay trở thành thương hiệu
rau sạch nổi tiếng, bán với giá khá đắt tại Lễ hội chùa Hương và hệ thống các siêu thị miền Bắc
Việt Nam.
- Hệ sinh thái rừng trên núi đất: Đất dân cư và canh tác sản xuất chiếm khoảng 30%
trong đó khởi đầu là cỏ - động vật ăn cỏ - động vật ăn thịt 1 – động vật ăn thịt 2. Thông thường
không vượt quá 4 mắt xích. Năng suất sinh học đồng cỏ nói chung thấp. Cần qui hoạch các HST
đồng cỏ một cách hợp lý phục vụ cho các hoạt động chăn thả của người dân.
- Hệ sinh thái rừng trồng và cây ăn quả lâu năm: Có rải rác khắp nơi. Có nhiều ở chân các
núi đất, chân núi đá vôi dọc suối. Có thể chia 3 lớp: lớp cao; lớp trung, và lớp thấp. Không có nhiều
liên kết trong chuỗi thức ăn ở đây, trung bình khoảng 4 mắt xích.
Mơ Hương Tích là một trong những đặc sản được mang tên đất Phật. Tuy nhiên, chất lượng
và năng suất cũng như diện tích trồng mơ ngày càng giảm sút do đất bị bạc màu.
Bảng 1. Diện tích các hệ sinh thái tại xã Hương Sơn - huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Thứ tự
Kiểu hệ sinh thái
Diện tích (m
2
)
Diện tích (ha)
1
HST khu dân cư
1657915.621
165.7915621
2
HST thủy vực
578101.451
57.8101451
3
HST rừng trên núi đá vôi
22492726.78
2249.272678
4
HST rừng trên núi đất
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Lê Huy Bá (2009), Du lịch sinh thái (Ecotourism). NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ
Chí Minh.
2. Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết (2000), Sinh thái môi trường ứng dụng. NXB Khoa học và Kỹ
thuật, Hà Nội.
3. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Khoa học môi trường. NXB Giáo dục.
4. Lê Trọng Cúc (2002), Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên. NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, Hà Nội.
5. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997), Cơ sở cảnh quan
học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam.
NXB Giáo dục.
6. Nguyễn Cao Huần (2005), Đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thái). NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
7. Lưu Lan Hương, Đoàn Hương Mai, Phạm Mạnh Thế (2011), Bước đầu nghiên cứu đa dạng
khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Tạp chí
Khoa học công nghệ số 3 (tháng 5/2011), Sở Khoa học & Công nghệ Hà Nội.
8. Nguyễn Thành Long (1993), Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ trên lãnh thổ Việt
Nam. NXB Viện Khoa học Việt Nam, Hà Nội.
9. Đoàn Hương Mai (2008), Qui hoạch sinh thái học để phát triển bền vững đa dạng sinh học
và các hệ sinh thái cho một huyện miền núi (ví dụ: huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình). Luận án
Tiến sỹ Sinh học. Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên.
10. Đoàn Hương Mai, Mai Đình Yên (2003), Ứng dụng hệ thông tin địa lý (GIS) trong nghiên
cứu sinh thái học. Bài giảng lưu hành nội bộ trường đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG Hà
Nội (dịch từ sách của tác giả Carol A. Johnston).
11. Doãn Thị Trường Nhung (2007), Nghiên cứu, phân tích sinh thái cảnh quan vùng cửa sông Bạch
Đằng nhằm định hướng quy hoạch phục vụ phát triển bền vững. Luận văn Thạc sỹ khoa học,
Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên.
12. GS. TS. Võ Quý, TS. Võ Thanh Sơn, Tài liệu giảng dạy chuyên đề Phát triển bền vững với
những vấn đề môi trường toàn cầu và Việt Nam. Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm
27. Ricklefs, R.E. (1979), Ecology, Chiron Press, new York, NY, USA.
28. Thomas M. Lillesand, Ralph W. Kiefer (1994), Remote sensing and Image Interpretation,
John Wiley & Sons, Inc USA.