1
Thành lập bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái
xã Hương Sơn - huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Hoàng Thanh Thương
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên; Khoa Sinh học
Chuyên ngành: Sinh thái học; Mã số: 60 42 60
Người hướng dẫn: TS. Đoàn Hương Mai
Năm Bảo vệ: 2011
Abstract. Toàn bộ xã Hương Sơn được phân ra làm 8 hệ sinh thái. Mỗi hệ sinh
thái có những đặc điểm đặc trưng. Điều này là thích hợp nhất để áp dụng viễn thám và
GIS để thành lập bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái của một xã như xã Hương Sơn. Kết
quả nghiên cứu mở ra một hướng tiếp cận mới trong việc quản lý các hệ sinh thái và tạo
điều kiện tối ưu trong việc quy hoạch phát triển môi trường sinh thái và du lịch của xã
bằng viễn thám và GIS.
Keywords. Sinh thái cảnh quan; Hệ sinh thái; Phát triển bền vững
Content.
1. Mở đầu
Xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội là tên gọi quen thuộc, lâu đời của nhân dân Việt
Nam để chỉ một cụm di tích gồm nhiều chùa chiền, đền miếu khác nhau. Lễ hội chùa Hương kéo
dài từ ngày 6 tháng Giêng đến hết tháng 3 âm lịch là lễ hội dài nhất trong cả nước. Không những
thế, nơi đây còn có bến nước, con thuyền, hang động, núi non với rừng cây bốn mùa xanh tươi,
trong đó có cả những loài cây được đặt tên bằng chính địa danh của vùng đất Phật như mơ Hương
Tích, rau Sắng chùa Hương. Hương Sơn không chỉ là vùng núi đá vôi, mà còn có sông, suối,
đồng ruộng, làng mạc…
Người dân ở Hương Sơn chủ yếu tham gia kinh doanh và phục vụ du lịch, khai thác, nuôi
trồng thủy sản, trồng trọt. Hoạt động lễ hội và du lịch ở địa phương vẫn diễn ra tự phát, chưa có
sự quản lý đồng bộ của các cấp ngành. Tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác bừa bãi, môi
- Địa hình: địa hình tương đối phức tạp so với các xã khác trong huyện. Phía Tây và phía Nam xã
là vùng núi đá Karst có độ cao trung bình từ 200 – 400m so với mặt nước biển. Các dãy núi phía
Nam có độ cao thấp hơn (từ 100 – 213m) so với mặt nước biển. Phía Bắc xã tương đối bằng
phẳng, độ cao trung bình 4 - 6m.
- Khí hậu: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia thành 4 mùa khá rõ
nét.
3
- Độ ẩm không khí trung bình năm là 85%, giữa các tháng trong năm biến thiên từ 80 –
89%. Độ ẩm không khí thấp nhất trong năm là các tháng 11 và 12, tuy nhiên chênh lệch về độ ẩm
không khí giữa các tháng trong năm không lớn.
- Sương muối hầu như ít có, mưa đá rất ít khi xảy ra. Thông thường cứ khoảng 10 năm
mới quan sát thấy mưa đá 1 lần.
- Rừng: diện tích rừng 2.372,97 ha, toàn bộ là đó rừng đặc dụng do nhà nước quản lý.
- Diện tích sông suối và mặt nước chuyên dùng chiếm 10,5% diện tích đất tự nhiên, tạo
điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản kết hợp với du lịch mang lại hiệu quả kinh tế cao.
3.2. Hiện trạng các hệ sinh thái
Dựa trên phân tích hình ảnh vệ tinh Ikonos toàn bộ xã Hương Sơn được chia thành 08 hệ sinh
thái. Mỗi hệ sinh thái có đặc điểm cụ thể:
- Hệ sinh thái khu dân cư: chiếm khoảng 30% tổng diện tích đất tự nhiên của xã. Quần xã
sinh vật ở đây rõ ràng là quần xã sinh vật nhân tạo, chủ yếu gồm các loại cây trồng, vật nuôi cung
cấp các nhu cầu cần thiết cho nhân dân địa phương. Số bậc dinh dưỡng trong xích thức ăn không
nhiều trung bình 4 bậc. Các khu dân cư ở khu vực gần bến thuyền thường có mật độ dân cư đông,
các hộ gia đình thường kiếm kế sinh nhai bằng các nghề như chèo thuyền, kinh doanh, đánh cá
Các hộ gia đình ở đường vào các khu di tích lại ở thưa nhau, phần lớn nằm rải rác ven suối, dựa
vào sườn đồi, ven núi, kế cận xung quanh là đồng ruộng nên hệ sinh thái khu dân cư có quan hệ
chặt chẽ với các hệ sinh thái lân cận.
- Hệ sinh thái thủy vực: Chủ yếu là các suối có nước xuất lộ (mạch lộ) quanh năm, đầy
nước vào mùa mưa, ít nước vào mùa khô gồm: suối Tuyết Sơn, suối Yến, suối Giải Oan,… Các
suối này là nguồn nước quan trọng cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân Hương Sơn.
Phượng. Mộc mạc dân giã gắn liền với nhân dân lao động như: núi Con Trăn, núi Mâm Xôi, Núi
Con Gà, Núi Con Voi …
Mặc dù điều kiện sống rất khắc nghiệt: luôn luôn khô và rất ít chất dinh
dưỡng, nhưng lại là hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao, đặc biệt hiện đang lưu giữ
nhiều nguồn gen quý hiếm, các loài cây thân gỗ chiếm ưu thế.
Rừng trên núi đá vôi ở đây thuộc loại rừng kín thường xanh với loại gỗ ưu thế là lim,
nghiến.
Đã phát hiện được 7 loài thực vật quý hiếm có trong Sách đỏ Việt Nam phân bố ở hệ sinh
thái núi đá vôi, đó là Sưa (Dalbergia tonkinensis Prain), Rau sắng (Melientha suavis Pierre),
Nghiến (Burretiodendron tonkinense (A. Chev.)(Kóterm.), Thổ phục linh (Smilax glabra Wall. ex
Roxb.), Bình vôi (Stephania cambodiana Gagnep.), Kim tuyến (Anoecotochilus setaceus Blume),
Cốt toái bổ (Drynaria bonii Christ.) Một loài tuy không có trong Sách đỏ, nhưng lại có trong nghị
định 32/CP của Chính phủ thuộc nhóm I là nhóm nghiêm cấm khai thác và sử dụng, đó là Lan
5
một lá (Nervilia fordii (Hance) Schlechter.). Trong 7 loài quý hiếm có trong Sách đỏ, nghiến là
loài đầu tiên ghi nhận có ở Hương Sơn. Như vậy, chỉ riêng hệ sinh thái núi đá vôi Hương Sơn, số
loài quý hiếm đã chiếm 2% tổng số loài quý hiếm của hệ thực vật Việt Nam.
Ở chân núi gần thôn xóm được trồng thêm các cây ăn quả như đu đủ, chuối, nhãn, vải, sấu,
na ; các cây công nghiệp như chẩu, chè, dứa; cây hoa màu như: ngô, bí bầu, sắn ở những nơi có
đất phong hoá bồi tụ.
Đặc biệt, có rất nhiều cây Rau Sắng. Rau sắng chùa Hương hiện nay trở thành thương hiệu
rau sạch nổi tiếng, bán với giá khá đắt tại Lễ hội chùa Hương và hệ thống các siêu thị miền Bắc
Việt Nam.
- Hệ sinh thái rừng trên núi đất: Đất dân cư và canh tác sản xuất chiếm khoảng
30% tổng diện tích đất tự nhiên nên có nhiều khả năng mở rộng diện tích cây công nghiệp, cây ăn
quả, cây màu và cây lâm nghiệp. Tuy nhiên, số lượng núi đất vẫn ít hơn nhiều so với núi đá vôi.
Núi đất ở đây thường bị bạc màu, xa khu dân cư. Nương cây trồng thường ở các núi đất thấp,
gần thôn xóm, được trồng lúa nương, ngô, sắn, mía, chè.
- Hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa: HST này tập trung nhiều ở khu vực Hinh Bồng.
đồng cỏ một cách hợp lý phục vụ cho các hoạt động chăn thả của người dân.
- Hệ sinh thái rừng trồng và cây ăn quả lâu năm: Có rải rác khắp nơi. Có nhiều ở chân
các núi đất, chân núi đá vôi dọc suối. Có thể chia 3 lớp: lớp cao; lớp trung, và lớp thấp. Không có
nhiều liên kết trong chuỗi thức ăn ở đây, trung bình khoảng 4 mắt xích.
Mơ Hương Tích là một trong những đặc sản được mang tên đất Phật. Tuy nhiên, chất
lượng và năng suất cũng như diện tích trồng mơ ngày càng giảm sút do đất bị bạc màu.
Bảng 1. Diện tích các hệ sinh thái tại xã Hương Sơn - huyện Mỹ Đức - Hà Nội
Thứ tự
Kiểu hệ sinh thái
Diện tích (m
2
)
Diện tích (ha)
1
HST khu dân cư
1657915.621
165.7915621
2
HST thủy vực
578101.451
57.8101451
3
HST rừng trên núi đá vôi
22492726.78
2249.272678
4
HST rừng trên núi đất
1258394.128
125.8394128
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
1. Lê Huy Bá (2009), Du lịch sinh thái (Ecotourism). NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ
Chí Minh.
2. Lê Huy Bá, Lâm Minh Triết (2000), Sinh thái môi trường ứng dụng. NXB Khoa học và
Kỹ thuật, Hà Nội.
3. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Khoa học môi trường. NXB Giáo dục.
4. Lê Trọng Cúc (2002), Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên. NXB Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
5. Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thượng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh (1997), Cơ sở cảnh quan
học của việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam.
NXB Giáo dục.
6. Nguyễn Cao Huần (2005), Đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thái). NXB Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
7. Lưu Lan Hương, Đoàn Hương Mai, Phạm Mạnh Thế (2011), Bước đầu nghiên cứu đa
dạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội.
Tạp chí Khoa học công nghệ số 3 (tháng 5/2011), Sở Khoa học & Công nghệ Hà Nội.
8. Nguyễn Thành Long (1993), Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ trên lãnh thổ
Việt Nam. NXB Viện Khoa học Việt Nam, Hà Nội.
9. Đoàn Hương Mai (2008), Qui hoạch sinh thái học để phát triển bền vững đa dạng sinh
học và các hệ sinh thái cho một huyện miền núi (ví dụ: huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình).
Luận án Tiến sỹ Sinh học. Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên.
8
10. Đoàn Hương Mai, Mai Đình Yên (2003), Ứng dụng hệ thông tin địa lý (GIS) trong nghiên
cứu sinh thái học. Bài giảng lưu hành nội bộ trường đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG
Hà Nội (dịch từ sách của tác giả Carol A. Johnston).
11. Doãn Thị Trường Nhung (2007), Nghiên cứu, phân tích sinh thái cảnh quan vùng cửa sông Bạch
Đằng nhằm định hướng quy hoạch phục vụ phát triển bền vững. Luận văn Thạc sỹ khoa học,
Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên.
12. GS. TS. Võ Quý, TS. Võ Thanh Sơn, Tài liệu giảng dạy chuyên đề Phát triển bền vững
Covele, London, Island press.
26. Pimentel D. (1994), Population and Enviroment, Cornell University Publishers, London.
27. Ricklefs, R.E. (1979), Ecology, Chiron Press, new York, NY, USA.
28. Thomas M. Lillesand, Ralph W. Kiefer (1994), Remote sensing and Image Interpretation,
John Wiley & Sons, Inc USA.