Nghiên cứu vai trò và khả năng xây dựng vành
đai xanh theo quy hoạch phát triển của Thủ đô
Hà Nội
Phạm Thanh Hƣơng
Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Khoa học môi trƣờng; Mã số: 60 85 02
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TS. Hoàng Xuân Cơ
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Nghiên cứu các khái niệm liên quan đến vành đai xanh. Khái quát thực
trạng vành đai xanh tại khu vực Hà Nội. Nghiên cứu định hƣớng phát triển vành đai
xanh phù hợp với quy hoạch Thủ đô Hà Nội và đƣa ra một số định hƣớng phát triển
vành đai xanh.
Keywords: Khoa học môi trƣờng; Vành đai xanh; Sinh thái
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong các quy hoạch hiện nay nhƣ: Quy hoạch tổng thể phát triển Kinh tế - Xã hội,
quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đều có nói đến vai trò và sự phát triển của vành đai xanh.
Vành đai xanh phải đáp ứng các yêu cầu nhƣ: tạo ra các không gian công viên cây xanh tại
các cửa ra vào của khu dân cƣ, bảo vệ các khu vực nông nghiệp và các khu vực có năng suất
cao dễ bị lũ lụt, bảo tồn các giá trị văn hóa và di sản, thúc đẩy các hoạt động phù hợp với bảo
vệ môi trƣờng và phát triển, cho phép một kết nối chặt chẽ hơn giữa các khu vực nông thôn,
đô thị và ngoại thành, duy trì sự ổn định của các làng nghề hiện có và phát triển du lịch sinh
thái
Tuy nhiên, chức năng, vai trò vành đai xanh và làm thế nào để xây dựng vành đai xanh
một cách bền vững thì cần phải có những nghiên cứu cụ thể Xuất phát từ thực tế trên, tôi xin
1.3.2. Điều kiện về kinh tế - xã hội
1.4. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.4.1. Tổng quan về vành đai xanh điển hình trên thế giới
1.4.2. Tổng quan về vành đai xanh ở Hà Nội
1.4.3. Một số ví dụ chứng minh các luận điểm về tổng quan vành đai xanh
1.4.4. Vai trò của vành đai xanh trong phát triển đô thị
1.4.5. Các quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH thủ đô Hà Nội trong đó có lĩnh vực vành đai
xanh
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
2.2. Nội dung nghiên cứu
2.2. Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu các khái niệm liên quan
- Khái quát thực trạng vành đai xanh tại khu vực Hà nội
- Nghiên cứu định hƣớng phát triển vành đai xanh phù hợp với quy hoạch thủ đô Hà
Nội và đề xuất một số hƣớng phát triển Vành đai xanh.
3
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu
2.3.1. Phƣơng pháp phân tích tổng hợp tài liệu
2.3.2. Phƣơng pháp điều tra khảo sát
2.3.3. Phƣơng pháp lập bản đồ
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
này đƣợc xây dựng theo hình mẫu nhà ống, do sao chép không có lựa chọn nên hầu hết đều
không phù hợp với môi trƣờng cảnh quan nông thôn. Các loại nhà này thƣờng có chiều rộng
từ 4 – 5m, chiều dài từ 10 – 20m, xây cao 1- 3 tầng kiểu mái bằng, ngôi nhà chỉ có một hƣớng
lấy ánh sáng từ mặt trƣớc nên thƣờng bị tối, khả năng chiếu sáng tự nhiên và thông gió rất
kém, phải sử dụng đèn điện và quạt để chiếu sáng và làm mát không gian nên rất tốn năng
lƣợng.
Bản đồ 3.1. Quy mô không gian Vành đai xanh của Hà Nội
4
Ngoài những ngôi nhà “hộp” kể trên thì trong khu vực nghiên cứu còn một số các ngôi
nhà đƣợc xây dựng kiên cố, thấp 2 – 3 tầng và có sân vƣờn. Những ngôi nhà này có thƣờng
bố trí sân trƣớc cửa nhà. Sân trƣớc kết hợp với trồng cây cảnh, các loại cây ăn quả, bể nƣớc
mƣa, bể cảnh và hòn non bộ.
Bên cạnh đó còn rất ít nhà có cấu trúc quy hoạch cũ, đó là nhà 1 tầng ở giữa khu đất,
xung quanh là vƣờn. Vƣờn trung tâm trồng hoa và cây cảnh tạo cảnh quan bám xung quanh
sân, ngoài ra, còn có vƣờn trồng rau, xây giàn, trồng cây ăn quả, cây lấy gỗ. Những kiểu này
nhà còn rất ít, chủ yếu là ở các xã thuộc huyện Thanh Trì nhƣ Tứ Hiệp, Vĩnh Quỳnh, Tả
Thanh Oai. Vƣờn cây xung quanh nhà vừa đem lại giá trị cảnh quan, giá trị kinh tế vừa có giá
trị cải thiện vi khí hậu của khu vực (tạo bóng mát, chắn gió, chắn bớt bức xạ mặt trời, chiếu
sáng tự nhiên ). Các cụm dân cƣ sống đông đúc, đƣờng giao thông đã đƣợc bê tông hóa, thuận lợi cho
việc đi lại của ngƣời dân. Tuy nhiên, các loại đƣờng liên thôn, đƣờng làng chƣa có sự đầu tƣ
quy hoạch trồng cây xanh. Hai bên đƣờng cây bụi mọc cao mất cảnh quan khu vực, không
đem lại lợi ích về bóng mát và cải thiện vi khí hậu tại khu vực.
Việc xây dựng, phát triển khu dân cƣ trong khu vực hiện nay do không quan tâm kế
thừa các yếu tố kiến trúc truyền thống, đặc biệt không chú trọng đến bố trí sân, vƣờn, cảnh
quan nên đang làm ảnh hƣởng đến chất lƣợng môi trƣờng ở, tiêu hao nhiều năng lƣợng.
b, Hiện trạng sản xuất cây nông nghiệp
đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh thì vấn đề này càng trở nên cấp thiết.
c, Hiện trạng mặt nước trong khu vực
Hiện nay trong khu vực có khoảng 596,93 ha là mặt nƣớc. Không gian mặt nƣớc trong khu
vực nghiên cứu chủ yếu là các ao nhỏ trong làng, xã, các ao cá (khu vực quận Hoàng Mai).
Không gian mặt nƣớc này sẽ đƣợc định hƣớng để giữ gìn và khôi phục hệ thống sông,
ao hồ, đầm nƣớc, cân bằng môi trƣờng sinh thái, tăng cƣờng khả năng tiêu thoát nƣớc đô thị,
phát huy giao thông thủy và hoạt động du lịch, vui chơi giải trí.
Bản đồ 3.3. Hiện trạng đất nông nghiệp trong khu vực Vành đai xanh của Hà
Nội
6 3.2. Phân tích vai trò, chức năng của Vành đai xanh trong phát triển của thủ đô Hà Nội
Khu vực Vành đai xanh của vùng lõi thủ đô Hà Nội cũng vậy, Vành đai xanh có vai
trò rất quan trọng trong phát triển của Thủ đô Hà Nội. Ngoài những tác dụng về việc cải thiện
điều kiện vi khí hậu (hạ thấp nhiệt độ và tăng độ ẩm không khí, giảm tốc độ gió ) và cải thiện
chất lƣợng môi trƣờng không khí (giảm nồng độ bụi, giữ lại các chất độc hại, giảm tiếng ồn,
tiêu diệt vi khuẩn ), Vành đai xanh còn có vai trò quan trọng nhƣ:
Vành đai xanh là cầu nối giữa vùng trung tâm thủ đô Hà Nội với thiên nhiên
Vành đai xanh với những đặc điểm là vùng đất tự nhiên chƣa hoặc ít bị tác động bởi
các hoạt động của con ngƣời. Có thể nói, Vành đai xanh là một phần của thiên nhiên, một
cảnh quan tự nhiên của các khu đô thị, khu dân cƣ sầm uất, mang lại nhiều lợi ích cho môi
trƣờng sống của con ngƣời. Vành đai xanh chính là một cầu nối quan trọng tạo nên sự liên kết
giữa thiên nhiên với con ngƣời, con ngƣời phát triển nhƣng vẫn luôn gần gũi với thiên nhiên.
Vành đai xanh dọc sông Nhuệ là Vành đai xanh lớn của Hà Nội, có vai trò rất quan
trọng trong việc giúp dân cƣ trong vùng trung tâm Thủ đô Hà Nội gần gũi hơn với tự nhiên.
Với nhịp độ công nghiệp hóa, đô thị hóa ngày càng tăng, công việc của mỗi ngƣời càng ngày
càng bận rộn và căng thẳng, giao thông đông đúc, không khí bức bối bởi những tòa nhà cao ốc
càng làm cho tinh thần con ngƣời thêm mệt mỏi. Vành đai xanh sẽ là những cầu nối hữu hiệu
chức đặc thù của vùng nông thôn. Đây là một trong những vai trò vô cùng to lớn của việc phát
triển vành đai xanh của Hà Nội.
Tạo cảnh quan hấp dẫn gần nơi mà người dân sinh sống
Những vùng đất Vành đai xanh với sự phát triển tự nhiên của các loài cây, cỏ, hoa
hoặc những dải cây xanh đƣợc con ngƣời trồng lên sẽ tạo khung cảnh thiên nhiên xanh mát
làm đẹp cho khu vực. Tính tự nhiên đó tạo ra những cảnh quan dễ chịu thích hợp với con
ngƣời, phong phú thêm nội dung nghệ thuật kiến trúc thành phố Hà Nội. Những công viên,
hàng cây xanh dọc các tuyến đƣờng giao thông nằm trong khu dân cƣ, đan xen với các công
trình kiến trúc hiện đại của đô thị tạo nên những cảnh quan hài hòa cho khu vực. Đây là một
dạng cảnh quan hấp dẫn, gần gũi thiên nhiên đƣợc tạo nên bởi vành đai xanh khu vực đô thị
vừa có tác dụng làm đẹp không gian sống vừa tạo sự gần gũi với thiên nhiên.
Ý nghĩa kinh tế
Vành đai xanh gắn liền với nông nghiệp – lâm nghiệp trong khu vực phát triển, giữ
đƣợc vành đai xanh là giữ đất nông – lâm nghiệp, mang lại nhiều cái lợi cho Hà Nội trên đà
đô thị hóa mạnh mẽ. Xuất phát từ một nƣớc nông nghiệp, phát triển nông nghiệp vẫn là một
trong những thế mạnh kinh tế của nƣớc ta. Việc duy trì diện tích đất sản xuất nông nghiệp
mang lại nhiều lợi ích đối với ngƣời dân trong thành phố. Trƣớc hết là giảm chi phí vận
chuyển, ngƣời dân trong khu vực nội thành Hà Nội sẽ không phải chờ những thực phẩm từ xa
chuyển tới, thực phẩm đƣợc cung cấp từ đây, không vận chuyển, không xăng dầu, không gây
hại đến môi trƣờng, không tạo sức ép quá lớn tới giao thông. Thứ hai, việc phát triển nông
nghiệp nhƣ một hƣớng tạo vành đai xanh quanh khu vực sinh sống sẽ tạo điều kiện giúp
ngƣời dân hình thành các hầm biogas, một hình thức sử dụng nhiên liệu sạch, tiết kiệm đƣợc
năng lƣợng, bảo vệ môi trƣờng. Thứ 3, duy trì sản xuất nông nghiệp đồng nghĩa với việc lƣu
giữ và tiếp nối những nét văn hóa truyền thống trong nghề nông của ngƣời dân địa phƣơng.
Ngoài nguồn lợi kinh tế trực tiếp thu đƣợc từ sản phẩm nông nghiệp, việc hình thành những
khu chuyên sản xuất hoa cây cảnh làm thành điểm tham quan du lịch nhƣ một số xã ngoại
thành thuộc huyện Từ Liêm sẽ thu hút nhiều sự quan tâm của ngƣời dân trong nƣớc và khách
du lịch nƣớc ngoài.
8
với điện trong nhà thì một phần điện và nƣớc nóng sử dụng trong nhà sẽ đƣợc lấy từ giàn pin
năng lƣợng mặt trời. Năng lƣợng từ mỗi một tấm pin mặt trời có diện tích 1m
2
sẽ cung cấp
đƣợc khoảng 100kwh mỗi năm, tƣơng đƣơng với năng lƣợng đƣợc sử dụng cho 3m
2
không
gian nhà ở (Nguồn: Các thành phố Eco
2
– Các đô thị sinh thái kiêm kinh tế). Năng lƣợng mặt
9
trời có những ƣu điểm nhƣ: sạch, chi phí nhiên liệu và bảo dƣỡng thấp, an toàn cho ngƣời sử
dụng Đồng thời, việc phát triển giàn pin năng lƣợng mặt trời sẽ góp phần thay thế các nguồn
năng lƣợng hóa thạch, giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trƣờng. Vì thế, đây đƣợc coi là
nguồn năng lƣợng quý giá, có thể thay thế những dạng năng lƣợng cũ đang ngày càng cạn
kiệt. Toàn bộ lƣợng nƣớc thải sinh hoạt trong gia đình sẽ đƣợc dẫn ra bể phốt, xử lý nƣớc thải
sơ bộ, sau đó dẫn ra ao thủy sinh. Nƣớc từ ao thủy sinh này cũng có thể dùng trong việc tƣới
cây, rau trồng trong vƣờn, vừa đảm bảo vệ sinh, vừa tiết kiệm tối đa lƣợng nƣớc cấp vào việc
tƣới tiêu. Bên cạnh đó thì rác thải sinh hoạt của hộ gia đình cũng là một vấn đề lớn. Thông
thƣờng, khối lƣợng rác thải sinh hoạt khu vực nông thôn/ngoại thành là 0,3 –
0,5kg/ngƣời/ngày (Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011 về Chất thải rắn). Lƣợng rác
thải sinh hoạt này sẽ đƣợc phân chia thành các loại (rác thải hữu cơ, rác thải vô cơ ), sau đó
lƣợng rác này sẽ đƣợc tái sử dụng hoặc bán phế liệu. Các loại rác thải hữu cơ phát sinh trong
gia đình sẽ đƣợc đƣa vào thùng ủ phân compost. Ủ phân compost là giải pháp đƣợc sử dụng
rộng rãi tại các nƣớc có hệ thống phân loại tốt, trên cơ sở quá trình phân hủy hiếu khí tự nhiên
của các vi sinh vật biến rác thành mùn và chất dinh dƣỡng cho cây trồng. Việc ủ compost đem
lại nhiều lợi ích lớn, trong đó lợi ích đầu tiên là giải quyết đƣợc khối lƣợng rác thải, đảm bảo
vệ sinh môi trƣờng ngay tại hộ gia đình; dùng làm phân bón cho vƣờn cây của mình, bớt một
khoản tiền đáng kể mua phân bón.
yếu nằm trong phạm vi đô thị hoặc các vùng lân cận. Phần lớn dân cƣ đô thị sẽ sống và làm
10
việc trong phạm vi bán kính đi bộ hoặc xe đạp để giảm thiểu nhu cầu di chuyển cơ giới. Sử
dụng các phƣơng tiện giao thông công cộng nối liền các trung tâm để phục vụ nhu cầu di
chuyển xa hơn của ngƣời dân. Chia sẻ ô tô con địa phƣơng cho phép mọi ngƣời chỉ sử dụng
khi cần thiết.
- Công nghiệp của đô thị sinh thái sẽ sản xuất ra các sản phẩm hàng hóa có thể tái sử
dụng, tái sản xuất và tái sinh. Các quy trình công nghiệp bao gồm cả việc tái sử dụng các sản
phẩm phụ và giảm thiểu sự vận chuyển hàng hóa.
- Kinh tế đô thị sinh thái là một nền kinh tế tập trung sức lao động thay vì tập trung sử
dụng nguyên liệu, năng lƣợng và nƣớc, nhằm duy trì việc làm thƣờng xuyên và giảm thiểu
nguyên liệu sử dụng.
Nguyên tắc chính để tạo dựng những thành phố sinh thái:
- Xâm phạm ít nhất đến môi trƣờng tự nhiên.
- Đa dạng hóa nhiều nhất việc sử dụng đất, chức năng đô thị và các hoạt động khác
của con ngƣời.
- Trong điều kiện có thể, cố giữ cho hệ thống đô thị đƣợc khép kín và tự cân bằng.
- Giữ cho sự phát triển dân số đô thị và tiềm năng của môi trƣờng đƣợc cân bằng một cách tối
ƣu.
Quan điểm – khái niệm về nhà ở sinh thái:
Sự biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trƣờng, những vấn đề liên quan tới không gian sống
đang ngày càng chật chội ở khu vực trung tâm và các đô thị. Đề tài về ngôi nhà sinh thái đang
đƣợc mọi ngƣời rất quan tâm, song xây dựng nhà ở sinh thái không chỉ phụ thuộc bởi các giải
pháp kiến trúc và giải pháp kỹ thuật cho bản thân ngôi nhà, mà còn phụ thuộc nhiều hơn bởi
những cục diện mang tính vĩ mô.
Ở đô thị, dù là chung cƣ hay nhà chia lô, nhà ở đang trở thành những cái hộp khép kín,
nhờ cậy chủ yếu vào các phƣơng tiện máy móc hao tốn điện năng để tạo nên độ dễ chịu. Hội
chứng "khách sạn 5 sao" đang lan sang nhà ở đô thị. Các kiến trúc sƣ và những ngƣời làm nhà
nói chung đang lãng quên dần hoặc không đoái hoài đến những ƣu việt của thiên nhiên, những
nghiệp an toàn, (3) nông nghiệp chất lƣợng cao, (4) nông nghiệp có cảnh quan.
Nông nghiệp giá trị cao
Trƣớc hết, nông nghiệp cần đảm bảo về lƣợng đủ để thỏa mãn nhu cầu về lƣơng thực, thực
phẩm cho ngƣời dân. Trong điều kiện khu vực nghiên cứu hiện nay đất dành cho hoạt động
nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn, tuy nhiên tỷ lệ này so với diện tích toàn khu vực Hà Nội là nhỏ.
Ở đây cần có sự áp dụng các giống cây trồng mới, tạo sản lƣợng tối đa mà vẫn phù hợp với
điều kiện của khu vực. Đƣa các giống lúa cho năng suất cao đồng thời có hàm lƣợng protein
cao trong gạo (đạt 11% protein so với gạo phổ biến hiện nay là 7%), giống cây màu nhƣ ngô
lai, đậu tƣơng đạt năng suất cao
Nông nghiệp an toàn
Nông nghiệp tại khu vực cần phải cung cấp thực phẩm sạch, an toàn cho ngƣời dân. Vì vậy
đây cũng sẽ trở thàn mô hình ứng dụng những công nghệ nuôi trồng sinh thái, với những giải
pháp công nghệ về sử dụng phân vi sinh, chu trình sinh học khép kín, quản lý dịch hại tổng
hợp
Nông nghiệp chất lượng cao
Tiếp theo số lƣợng và an toàn, nông nghiệp cần tiến tới đảm bảo chất lƣợng cao. Chất
lƣợng ở đây đƣợc đánh giá theo mức độ ngon của thực phẩm. Để đạt đƣợc mục đích này điều
quan trọng vẫn là sự lựa chọn cây trồng, vật nuôi và phƣơng pháp tăng gia sao cho đạt chất
lƣợng cao. Để đảm bảo chất lƣợng thực phẩm cần phải có một hệ thống kiểm định ngặt nghèo
trƣớc khi sản phẩm đƣợc xuất ra ngoài thị trƣờng. Có thể áp dụng một số hình thức để đảm
bảo chất lƣợng nhƣ dán tem chất lƣợng, nhãn sinh thái Nông nghiệp chất lƣợng cao dành
cho việc thỏa mãn nhu cầu đƣợc xã hội công nhận. Khẩu vị từng ngƣời có thể rất khác nhau
nhƣng đa số ngƣời sẽ cảm thấy yên tâm khi tiêu dùng những sản phầm đƣợc dán mác chất
lƣợng.
Nông nghiệp cảnh quan
12
Hệ thống sản xuất nông nghiệp đƣợc thiết kế, quy hoạch để trở thành cảnh quan du lịch sinh
thái, có ý nghĩa với con ngƣời. Bản thân nông nghiệp bình thƣờng với những cánh đống lúa
xanh rì, những luống hoa, luống rau đủ màu sắc, những vƣờn cây ăn quả cũng có thể là những
nông thôn đổ dồn vào thành thị.
- Thực hiện liên kết nông nghiệp, nông thôn với công nghiệp và đô thị nhằm thu hẹp
khoảng cách giữa đô thị và nông thôn và giải quyết vấn đề việc làm cho ngƣời nông dân.
3.3.3. Định hướng phát triển không gian xanh công cộng
Không gian công cộng là một thành phần vô cùng quan trọng của đô thị. Một đô thị
phát triển thành công và bền vững phải là một đô thị có hệ thống không gian công cộng với
chất lƣợng cao, cảnh quan đẹp, và bền vững về mặt môi trƣờng. Ở quy mô khu ở, không gian
công cộng cần đƣợc nhìn nhận nhƣ một yếu tố quyết định trong việc mang lại chất lƣợng cuộc
sống cho một khu đô thị, biến khu đô thị trở thành một môi trƣờng sống tốt nơi con ngƣời
cảm thấy thật sự gắn bó. Do đó, việc tạo ra một hệ thống không gian công cộng tốt có ý nghĩa
vô cùng quan trọng với khu đô thị.
3.3.3.1. Định hướng phát triển cây xanh trục đường giao thông
Đối với trục đường trong khu dân cư
Để tạo nên sự phong phú và phát huy hiệu quả của các tuyến đƣờng sẽ trồng cây ven
đƣờng, trong đó đặc biệt chú trọng tới các loại cây trồng nhiều màu sắc (cây ban, cây sƣa, cây
13
móng bò, cây bằng lăng ). Trục cây xanh trên đƣờng trong khu dân cƣ giúp cho khu vực
luôn mát mẻ và giảm các yêu cầu năng lƣợng cho điều hòa không khí.
Định hƣớng quy hoạch trục cây xanh trên đƣờng
Trục đƣờng trong khu dân cƣ thƣờng nối giữa các phƣờng, xã với nhau. Các loại đƣờng này là
nơi có nhiều xe cộ đi lại do đó gây bụi và ô nhiễm. Cây xanh đƣợc trồng ở đó sẽ giúp thanh
lọc không khí, chặn bụi, tiếng ồn, tạo bầu không khí trong sạch.
Phát triển dải cây xanh phân cách để biến con đƣờng trở thành một phần của tự nhiên,
ngoài tác dụng tạo bóng mát cho đƣờng đi, dải cây xanh phân cách sẽ tạo cảm giác thoải mái,
thân thiện với thiên nhiên và con ngƣời. Hiện nay, dải phân cách xanh trên các trục đƣờng
thƣờng trồng các cây bụi và thảm cỏ, gây mất diện tích công năng và diện tích sử dụng đất và
rất tốn kém chi phí chăm sóc. Tại các đƣờng giao thông trong khu vực nghiên cứu tiến hành
thiết. Độ rộng của đƣờng khoảng 3 – 5m.
Khu vực dọc 2 bên sông Nhuệ đã đƣợc kè bờ để tránh tình trạng sạt lở mỗi khi có mƣa
to. Đƣờng dọc sông Nhuệ này nên lựa chọn các loại cây trồng xen kẽ nhƣ Phƣợng, Móng bò,
Ban là những cây thƣờng xanh, tán rộng lại có hoa đẹp. Các loại cây nên đƣợc trồng thành dải
bố trí xen kẽ cây bụi có hoa để tạo không gian xanh, tận dụng tối đa đất đai. Những dải cây
xanh này giống nhƣ bộ lọc, ngăn chặn bùn và chất dinh dƣỡng chảy vào sông. Nƣớc mƣa
thấm vào đất, hoặc đƣợc giữ lại trên lá hoặc đƣợc rễ cây hút, nhờ đó môi trƣờng thủy sinh
nƣớc ít bị hủy hoại hơn, và thành phố có thể giảm bớt yêu cầu đầu tƣ cho các hệ thống xử lý
nƣớc.
Tuy nhiên, việc trồng cây xanh trên các trục giao thông có thể sẽ làm giảm tầm nhìn của lái
xe, gây ảnh hƣởng đến giao thông trong khu vực nếu không có những biện pháp quản lý hợp
lý. Do đó, cần có sự quản lý tốt công tác quy hoạch và các yêu cầu kỹ thuật trồng cây hai bên
đƣờng để đảm bảo an toàn giao thông trong khu vực.
3.3.3.2. Định hướng phát triển không gian xanh công viên
Mục tiêu của việc phát triển công viên này là xây dựng khu vực thành một khu vƣờn
chung của mọi ngƣời, mảng xanh là một phần trong đời sống của ngƣời dân, nhiệm vụ tạo nên
môi trƣờng sống tốt nhất với các khu vui chơi nghỉ ngơi giải trí tiện ích qua sự tham gia của
cộng đồng. Việc cải tạo nâng cấp các công viên cũ nhƣ công viên Hà Đông, công viên Yên
Sở, Mễ Trì là rất cần thiết. Các công viên này sẽ đƣợc nâng cấp không gian xanh hiện có,
tạo thành công viên sinh thái gắn với hoạt động thể thao, thành các cánh rừng ở đô thị giúp
tiết kiệm năng lƣợng do giảm nhiệt độ, tạo bóng mát cho khu vực, làm mát không khí và phản
xạ lại ánh nắng. Diện tích cây xanh tăng chủ yếu là ở các công viên đƣợc xây dựng và nâng
cấp mới.
Ngoài việc trồng thêm cây cối bóng mát thì việc lắp đặt các đèn chiếu sáng công cộng
tiết kiệm năng lƣợng có thể giúp giảm bớt từ 30 – 40% [10] các chi phí về năng lƣợng truyền
thống, và tùy thuộc vào chi phí và mức độ sẵn có của các loại bóng đèn, thời gian hoàn vốn có
thể chƣa đầy ba năm. Việc lắp đặt các hệ thống ngắt điện tự động và điều khiển tự động và
việc thiết kế lại các hệ thống chiếu sáng (nhằm giảm bớt những khu vực thừa hoặc thiếu ánh
sáng) cũng có thể giúp tiết kiệm thêm năng lƣợng.
gia các hoạt động môi trƣờng và các chƣơng trình giáo dục nâng cao nhận thức.
- Cần có những chế độ chính sách hợp lý hoặc sự đầu tƣ, hỗ trợ cho ngƣời dân sống trong
khu vực để khuyến khích phát triển không gian xanh
Nội dung luận văn bƣớc đầu đã xây dựng đƣợc cơ sở cho việc định hƣớng phát triển khu vực
Vành đai xanh của Hà Nội, cụ thể là điều tra hiện trạng phần không gian xanh, vai trò của
Vành đai xanh xác định đƣợc một số vị trí để đề xuất hƣớng phát triển phù hợp. Tuy nhiên, do
hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu, nên luận văn này còn nhiều thiếu sót, tôi hy
vọng đây sẽ là tiền đề cho các nghiên cứu sâu hơn và cụ thể hơn nhằm phát triển Vành đai
xanh theo quy hoạch của Thủ đô Hà Nội. References
Tiếng Việt
1. Bách khoa toàn thƣ mở Wikipedia, Hà Nội, ngày truy cập: 21/06/2012
2. Bùi Mạnh Hùng (1996), Những giải pháp sử dụng cây xanh trong kiến trúc nhà ở hiện đại,
Luận văn Thạc sỹ, Hà Nội.
3. Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010 - Tổng quan môi
trường Việt Nam, Hà Nội
4. Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011 – Về chất thải rắn,
Hà Nội
5. Châu Phi thiết lập “vành đai xanh” từ Tây sang Đông, ngày truy cập: 01/07/2012
/>dong/144/4498967.epi
16
6. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA), UBND thành phố Hà Nội, Chương trình phát
triển đô thị tổng thể thủ đô Hà Nội nước CHXHCN Việt Nam 3/2007 (HAIDEP), Báo cáo cuối
cùng, Hà Nội.
7. Các phong trào quy hoạch – P3: Thành phố vƣờn, ngày truy cập: 12/07/2012
theo hướng công nghệ cao tại Việt Nam.
20. Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội (2010), Báo cáo đánh giá môi trường chiến lược Dự
án Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn
đến năm 2030, Hà Nội.
21. Vũ Quyết Thắng (2007), Quy hoạch môi trường, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội
Tiếng nƣớc ngoài
22. Andra D. Johnson, Henry D. Gerhold (2003), “Carbon storage by urban tree cultivars, in
roots and above-ground”, Urban Forestry and urban Greening, Volume 2, number 2, Issue
September 2003, pages 65-72 ngày truy cập 13/10/2012
/>cultivars-in-roots-and-above-ground
23. Ebenezer Howard, Garden Cities of tomorrow
24. Marco Amati, Makoto Yokohari (2004), Temporal changes and local variations in the
functions of London’s green belt
25. Michael Matara, Maurits Servaas, Dr. Irma Allen (2004), Conservation education with the
participation of the community
26. Padma S. Rao, A.G. Gavane, S.S. Ankam, M.F. Ansari, V.I. Pandit, P. Nema,
Performance evaluation of a green belt in a petroleum refinery: a case study, 2004
Một số website:
27. Cổng Thông tin điện tử Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội www.hanoi.gov.vn
28. Trang của Hội kiến trúc sƣ Việt Nam www.kienviet.net
29. Diễn đàn kiến trúc xây dựng www.ashiu.com
30. Công ty Kiến trúc www.kientrucxanh.com