Hiện trạng, tiềm năng và các giải pháp quy hoạch, phát triển bền vững vùng nuôi nghêu bãi triều ven biển huyện thái thụy, tỉnh thái bình - Pdf 22


i LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam kết luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quả nghiên cứu của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và đều được các cơ quan, tổ chức
cho phép công bố./. Tác giả
Phạm Thị Lan

nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thái Bình đã nhiệt tình cung cấp số liệu và giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài./.

Hải Phòng, tháng 6 năm 2011 Phạm Thị Lan

iii

MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Nội dung nghiên cứu 2
3. Mục tiêu đề tài: 3
3.1- Mục tiêu lâu dài: 3
3.2- Mục tiêu cụ thể: 3
Chương 1:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NGHÊU BẾN TRE (Meretrix lyrata Sowerby,
1851): 4
1.1.1. Hệ thống phân loại: 4
1.1.3. Đặc điểm phân bố: 5
1.1.3.1- Phân bố theo địa lý 5
1.1.3.2 - Phân bố theo sinh thái 5
iv

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 23
3.1.1. Vị trí địa lý huyện Thái Thụy - Thái Bình 23
3.1.2. Đặc điểm địa hình vùng bãi triều 24
3.1.3. Đặc điểm khí tượng thuỷ văn và 1 số yếu tố môi trường 25
3.1.3.1. Các đặc trưng về khí hậu 25
3.1.3.2. Đặc điểm về thuỷ văn, thuỷ triều 26
3.1.3.3. Một số yếu tố về môi trường của khu vực 26
3.1.3.4. Thuỷ sinh vật 28
3.2. TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI CỦA CỘNG ĐỒNG: 29
3.2.1.Tình hình nhân khẩu: 29
3.2.2. Tình hình lao động: 30
3.3. HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI NGHÊU CỦA HUYỆN THÁI THỤY 32
3.3.1. Kết quả nuôi ngao trong 6 năm (2005 – 2010) 32
3.3.2. Thực trạng về kỹ thuật 35
3.3.2.1- Diện tích vây nuôi: 35
3.3.2.2- Chuẩn bị bãi nuôi 35
3.3.2.3- Mùa vụ thả giống: 36
3.3.2.4- Chăm sóc và quản lý môi trường 37
3.3.2.6 - Mùa vụ và kích cỡ thu hoạch nghêu thịt: 38
3.3.3-Chính sách, thể chế có liên quan: 40
3.3.3.1-Văn bản Trung ương: 40
3.4- TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN NUÔI NGHÊU 42
3.4.1. Dự báo tình hình thị trường tiêu thụ sản phẩm nghêu nội địa 42
3.4.3. Phân tích cơ hội, thách thức, điểm mạnh, điểm yếu (swot): 43
3.4.3.1. Điểm mạnh (S-Strength) 43

DANH MỤC HÌNH, ĐỒ THỊ
Hình 1: Hình thái cấu tạo ngoài của nghêu Bến Tre 4
Hình 2: Biểu đồ tỷ lệ (%) giữa các nhóm tảo trong ống tiêu hóa của Nghêu Meretrix
lyrata Sowerby, 1851 tại Tiền Giang 8
Hình 3: Sơ đồ khối nội dung đề tài 19
Hình 4: Bản đồ quy hoạch ngành thủy sản tỉnh Thái Bình đến năm 2010 21
Hình 5: Hiện trạng và Quy hoạch vùng kinh tế mới ven biển huyện Thái Thụy – Thái Bình 23
Hình 6: Cơ cấu nghề sản xuất chính của hộ 24
Hình 7: Ngao chết trắng ở Thái Bình 31
Hình 8: Ngư cụ dùng để thu hoạch nghêu thịt 33
Hình 9: Thu hoạch nghêu thương phẩm (nghêu thịt) 34
Hình 10: Diễn biến diện tích, sản lượng ngao huyện Thái Thụy 34
Hình 11: Biến động năng suất, sản lượng nghêu toàn 39
Hình 12: Diễn biến giá trị nghêu nuôi giai đoạn 2005 – 2010 39
Hình 13: Bình đồ vị trí qui hoạch vùng nuôi ngao bãi triều ven biển xã Thái.Đô 49
Hình 14: Bình đồ vị trí qui hoạch vùng nuôi ngao bãi triều ven biển xã Thái Thượng 50
Hình 15: Bình đồ vị trí qui hoạch vùng nuôi ngao bãi triều ven biển xã Thụy.Hải 51



vii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

CoC: Qui tắc nuôi có trách nhiệm
CTV Cộng tác viên
(Code of Conduct for Responsible Aquaculture)
ĐVTM: Động vật thân mềm
PTNT Phát triển nông thôn
NTTS: Nuôi trồng thủy sản
TP Thành phố
UBND Ủy ban nhân dân 1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong chiến lược phát triển Nuôi trồng thuỷ sản hiện nay, động vật thân
mềm được xem là đối tượng ưu thế và đầy triển vọng. Với vai trò quan trọng làm


biển của huyện. Ba cửa sông này hàng năm đã đưa ra biển một lượng phù sa khá
lớn, bồi thành các bãi rộng tương đối bằng phẳng, trong đó cấu tạo trầm tích của
bài bồi chủ yếu là dạng cát, sa, sét thích hợp cho nuôi nghêu và nuôi trồng các
loại thủy sản khác.
Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi, là tiềm năng để phát triển
kinh tế thủy sản, nhất là nghề nuôi trồng thủy sản. Những năm gần đây cùng với
việc phát triển chung của các ngành kinh tế, nghề nuôi trồng thủy sản đã có bước
phát triển nhanh chóng cả về diện tích, sản lượng và giá trị. Kết quả phát triển
nuôi trồng thủy sản đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của Huyện và
góp phần cải thiện đời sống cho nhân dân các xã ven biển.
Mặc dù vùng bãi triều ven biển huyện Thái Thụy tuy có nhiều tiềm năng về
phát triển nuôi trồng thủy sản, nhưng hiện nay vẫn còn phần lớn diện tích chưa
được khai thác có hiệu quả; Đặc biệt là nghề nuôi nghêu – Nghề mà vốn đầu tư về
cơ sở hạ tầng không nhiều, hiệu quả kinh tế lại cao. Một số năm gần đây, nhân dân
các xã ven biển của Huyện đã tự phát đầu tư nuôi nghêu. Song, do chưa tổ chức
quy hoạch, thiếu kỹ thuật chuyên ngành và cơ chế chính sách… nên việc nuôi
nghêu chưa đạt được kết quả.
Để khai thác có hiệu quả tiềm năng diện tích đất vùng bãi bồi ven biển vấn
đề đặt ra là phải có những nghiên cứu tổng thể, quy hoạch chi tiết để đưa vào
nuôi ngao, đáp ứng nhu cầu của thị trường và nguyện vọng của nhân dân các xã
ven biển là việc làm cần thiết, phù hợp với chủ trương phát triển nuôi trồng thủy
sản trong những năm tới; đảm bảo cân bằng sinh thái và phát triển nghề nuôi
trồng thủy sản bền vững.
Xuất phát từ những vấn đề trên, việc nghiên cứu: “Hiện trạng, tiềm năng và
các giải pháp quy hoạch, phát triển bền vững vùng nuôi nghêu bãi triều ven biển
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” trong thời gian tới là một vấn đề hết sức cần
thiết và bức xúc.
2. Nội dung nghiên cứu
- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của cộng đồng cư

4

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA NGHÊU BẾN TRE (Meretrix lyrata Sowerby, 1851):
1.1.1. Hệ thống phân loại:
Ngành thân mềm: Mollusca
Lớp hai mảnh vỏ: Bivalvia
Bộ mang thật: Eulamellibranchia
Bộ phụ: Schizodonta
Phân bộ: Heterodonta
Tổng họ: Veneracea
Họ Ngao: Veneridae
Giống Ngao: Meretrix
Loài Nghêu: Meretrix lyrata Sowerby, 1851
Tên tiếng Anh: Lyrate Asiatic Hard Clam.
Tên địa phương: nghêu Bến Tre, nghêu.
Loài nghêu Bến Tre Meretrix lyrata Sowerby, 1851 đã được Bộ Thủy sản
xếp vào danh mục các loài thủy sản có giá trị kinh tế cao ở Việt Nam.
1.1.2. Hình thái:
Trong công trình nghiên cứu của Nguyễn Chính (1996) đã mô tả hình thái

khiển ống hút thoát nước. Vết cơ khớp vỏ trước hơi nhỏ hơn vết cơ khớp vỏ sau
và có hình bán nguyệt, vết cơ khớp vỏ sau hình tròn.
1.1.3. Đặc điểm phân bố:
1.1.3.1- Phân bố theo địa lý
Trên thế giới họ ngao có tới 500 loài, phân bố rộng khắp ở vùng bãi triều
ven biển của các nước ôn đới và nhiệt đới (Nguyễn Hữu Phụng và Võ Sỹ Tuấn,
1996) trong đó ngao phân bố chủ yếu ở vùng biển ấm tây Thái Bình Dương (Nam
Đài Loan) (Nguyễn Chính, 1996), vùng biển nhiệt đới và á nhiệt đới (Nguyễn Thế
Ánh và CTV, 1999).
Ở Việt Nam, ngao Bến Tre phân bố chủ yếu ở vùng biển phía nam như ở gò
Công Đông (Tiền Giang), Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú (Bến Tre), Cầu Ngang,
Duyên Hải (Trà Vinh), Vĩnh Châu (Sóc Trăng), Bạc Liêu, ven biển Cần Giờ (TP
Hồ Chí Minh) (Nguyễn Chính, 1996). Hiện nay do quá trình di nhập giống ra miền
Bắc nên đã xuất hiện ngao ở các bãi ven biển, cửa sông của các tỉnh phía bắc như
Thái Bình, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh. Các tỉnh cho sản luợng lớn
như: Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An.
1.1.3.2 - Phân bố theo sinh thái
Nghêu là loài sống vùi phân bố trên các bãi biển, eo vịnh có đáy là cát pha
bùn. Theo nghiên cứu chỉ tiêu môi trường của nghêu ở đồng bằng sông Cửu Long

6

cho thấy nghêu thường phân bố nhiều ở nơi nền đáy có tỷ lệ cát 68 - 75%, tỷ lệ sét
21 - 31%, đất thịt có tỷ trọng thấp < 7% (Nguyễn Văn Hảo và CTV, 1999). Bãi
nghêu phân bố thường ở gần cửa sông có sóng gió nhẹ, có nguồn nước ngọt chảy
vào. Chúng phân bố từ vùng trung triều, hạ triều, cho đến độ sâu 1-2m nước, có
khi bắt gặp ở cả độ sâu 2-4m (Nguyễn Chính, 1996). Trong tự nhiên chưa gặp loài
này ở đáy bùn nhuyễn hay bùn cát (Nguyễn Thế Ánh và CTV, 1999).
Nghêu là loài rộng nhiệt: Chúng có thể sống trong điều kiện nhiệt độ từ 5-
35


7

tới nơi khác. Khi di chuyển, nghêu có thể nổi lên cách mặt đáy tới 1,2 m. Nghêu
thường di chuyển vào mùa hạ, mùa thu. Mùa hạ nghêu sống ở vùng triều cao, thời
gian chiếu nắng dài làm cho bãi cát nóng lên nghêu phải di chuyển theo nước triều
rút xuống vùng sâu hơn. Mùa thu nhiệt độ hạ dần, gió thổi liên tục làm cho nhiệt
độ giảm nhanh Nghêu di chuyển xuống vùng sâu. Mặt khác sự di chuyển cũng
liên quan tới sinh sản, khi nghêu thành thục sinh dục thường di chuyển nhiều hơn
thời kỳ tiền trưởng thành.
1.1.5. Tính ăn và thức ăn của nghêu:
Theo Thái Trần Bái (1978), Elizabeth Gosling (2003) thì hoạt động bắt mồi
của loài hai mảnh vỏ được thực hiện theo cách lọc nhờ vào hoạt động của các tấm
mang. Trong quá trình hô hấp, nước mang theo thức ăn đi qua mang, ở đó có các
tiêm mao nằm trên tia mang bắt lấy thức ăn nhờ vào dịch nhờn. Tuy nhiên, chúng
vẫn có sự chọn lựa thức ăn theo kích thước, những loại thức ăn có kích thước lớn
bị thải ra ngoài còn những loại thức ăn có kích thước nhỏ sẽ được làm mềm và
cuốn thành viên chuyển vào miệng.
Ngao là loài ăn lọc, chúng bắt mồi theo hình thức thụ động. Khi triều dâng lên
ngao thò ống thoát hút nước lên cát để lọc mồi ăn. Nghêu thường chọn các mảnh vụn
hữu cơ, các loài thực vật phù du có kích cỡ < 10µm (Tammes and Dral, 1950).
Thức ăn chủ yếu của nghêu là các khuê tảo, các mảnh vụn hữu cơ, thức ăn
của loài thay đổi theo thời kỳ phát triển của cơ thể. Giai đoạn ấu trùng thức ăn
chủ yếu là các vi tảo phù du, sau khi ấu trùng xuống đáy thì thức ăn đa dạng hơn,
ngoài tảo phù du thì có các thành phần như các mảnh vụn hữu cơ, khoáng, mùn, vi
khuẩn, chất keo cũng được ngao sử dụng. Theo Nguyễn Hữu Phụng (1996) khi
nghiên cứu thành phần thức ăn của nghêu M. lyrata ở Trà Vinh đã thấy rằng:
thành phần thức ăn chính của nghêu là mùn bã hữu cơ chiếm 75 - 90%, tảo chiếm
10 - 25%. Trong thành phần tảo thì tảo silic (Bacillariophyta) chiếm 90 - 95%, tảo
giáp (Pyrrophyta) chiếm 3,3-6,6%, tảo lam (Cyanophyta), tảo lục (Chlorophyta)

rất lớn theo mùa, thể hiện qua hình 2, điều này có ảnh hưởng khả năng bắt mồi và
sự tăng trưởng của nghêu. Mùa khô mật độ thực vật phù du tăng vọt so với mùa
mưa, lượng thức ăn dồi dào, điều này góp phần củng cố nhận định của nhiều tác
giả rằng nghêu tăng trưởng nhanh trong mùa khô hơn là trong mùa mưa.
1.1.6. Đặc điểm sinh trưởng và chỉ số độ no của nghêu:
1.1.6.1- Đặc điểm sinh trưởng
Sự sinh trưởng của động vật thân mềm hai mảnh vỏ nói chung và ngao nói
riêng có sự thay đổi theo loài, vị trí địa lý phân bố, thời tiết, vùng trung triều hay
hạ triều, cũng như là sự khác nhau của mỗi cá thể mà do di truyền tạo ra. Theo kết

9

quả nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tùng (2007) cũng cho rằng nghêu mập nhất
vào các tháng mùa nắng 1,3 và ốm nhất vào các tháng mùa mưa 8,10. Điều này
cho thấy tốc độ sinh trưởng của nghêu vào mùa nắng nhanh hơn vào mùa mưa.
Tốc độ tăng trưởng của ngao phụ thuộc vào vùng phân bố nhiều hay ít thức
ăn. Ngao phân bố ở vùng cửa sông phong phú về thành phần thực vật phù du và
các mùn bã hữu cơ, ngao lớn nhanh. Ngao sống vùng triều thấp thuờng lớn nhanh
hơn vùng triều cao. Ngoài ra chúng còn phụ thuộc vào nhiều nhân tố như độ mặn,
nhiệt độ, sóng gió. Sự sinh trưởng có thể thay đổi từ năm này đến năm khác ở các
khu vực mà có nhiệt độ biến đổi theo mùa. Vào mùa xuân và mùa hè khi nhiệt độ
nước ấm lên, thức ăn dư thừa thì sự sinh trưởng tăng lên nhanh chóng. Hầu như sự
sinh trưởng thường dừng lại vào mùa đông khi nhiệt độ xuống thấp và nguồn dinh
dưỡng trong nước kém. Qua kết quả phân tích tốc độ sinh trưởng tuyệt đối và
tương đối của nghêu cho thấy: Giai đoạn còn non tốc độ tăng trưởng rất nhanh,
sau đó giảm dần (Trần Quang Minh, 1999). Trong điều kiện tương đối thuận lợi,
từ trứng đến nghêu cám qua mất 2 tháng, từ nghêu cám đến nghêu giống (800 -
1000 con/kg) mất 6 - 8 tháng và từ nghêu giống đến ngao thịt (50 con/kg) từ 10 -
11 tháng. Tổng thời gian từ khi sinh ra đến lúc thu hoạch trải qua 18 - 20 tháng
(Nguyễn Thế Ánh và CTV, 1999).

nghêu, trước khi có một kết luận cuối cùng cần có những nghiên cứu dài hạn tiếp
theo. Tuyến sinh dục với nhiều phần khác nhau và ở mỗi phần là các giai đoạn
khác nhau của cùng một phase phát triển của tế bào sinh dục. Đây chính là dẫn cứ
cho kết luận cá thể nghêu chỉ đẻ 1 lần trong mùa sinh sản. Bên cạnh đó, chính do
sự phát triển tuyến sinh dục không đồng đều giữa các cá thể khác nhau sẽ góp
phần giải thích sự xuất hiện giống quanh năm.
1.1.7.2 - Mùa vụ sinh sản:
Nguyễn Đình Hùng (2000) nghiên cứu các điều kiện sinh thái môi trường
ảnh hưởng đến quá trình nuôi nghêu Meretrix lyrata Sowerby,1851 ở vùng ven biển
Tiền Giang, Bến Tre cho rằng, mùa vụ chính xuất hiện nghêu giống bắt đầu vào
tháng 6 đến tháng 9 hàng năm với mật độ nghêu giống khá cao. Bên cạnh đó nghêu
giống còn xuất hiện trong mùa vụ phụ vào các tháng 12 đến tháng 2 năm sau nhưng
với mật độ thấp hơn nhiều so với vụ chính (tháng 6 đến tháng 9). Thời gian xuất
hiện của nghêu giống xác định mùa sinh sản của chúng, nghĩa là mùa sinh sản
chính từ tháng 5 đến tháng 7, ở giai đoạn thời tiết chuyển tiếp từ mùa khô sang mùa
mưa, và mùa sinh sản phụ là từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau (có năm không thấy
mùa phụ) với mật độ nghêu giống xuất hiện thấp hơn. Việc nghêu giống xuất hiện ồ
ạt vào tháng 6- tháng 8/1998 cho thấy yếu tố môi trường giữ vai trò quyết định so
với các yếu tố khác như nguồn nghêu bố mẹ, vị trí và cấu tạo nền bãi.

11

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hảo và CTV (1999) cho thấy, mùa vụ sinh
sản của nghêu thường bắt đầu vào thời điểm giao mùa từ mùa khô chuyển sang
mùa mưa, tức khoảng thời gian từ tháng 6 hoặc tháng 7 hàng năm. Đây là thời
điểm mà các yếu tố môi trường nước cũng như khí hậu thay đổi rất lớn, chính sự
biến động này đã kích thích nghêu bố mẹ sinh sản.
1.1.8. Khả năng thích ứng với môi trường.
1.1.8.1- Khả năng thích ứng với nhiệt độ.
Các điều kiện môi trường ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của ấu trùng.

C, khoảng nhiệt độ thích hợp cho ngao phát triển là 28-31
o
C.
Tốc độ lọc thức ăn của ngao chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố như nhiệt độ, độ
mặn, mật độ thức ăn. Khi nhiệt độ càng cao thì tốc độ lọc thức ăn càng lớn. Theo
Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994) thì ngao phân bố ở vùng hạ triều thời
gian phơi bãi 2-8 giờ/ngày. Độ sâu cực đại tìm thấy ngao lúc nước ròng là 1,5-2,5
cm khi nhiệt độ 26-32
o
C.
1.1.8.2 - Khả năng thích ứng với độ mặn.
Sau nhiệt độ thì yếu tố độ mặn cũng là yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng
và phát triển của ngao.Theo Davis (1958) ngao là loài duy nhất ở ven biển có thể
sống với sự thay đổi độ mặn từ 20-30‰. Khi nghiên cứu trên loài M.mereenaria
thì độ mặn lớn hơn 32‰ sẽ gây ảnh hưởng đến ấu trùng còn độ mặn nhỏ hơn 15‰
làm cho chúng hạn chế tìm kiếm thức ăn.

12

Độ mặn là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh
trưởng và phát triển của động vật thân mềm nói chung, ngao nói riêng. Tuy nhiên,
các công trình nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các đối tượng thân mềm khác.
Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến đời sống của loài ngao bến tre mới tập
trung vào giai đoạn ngao giống và ngao trưởng thành.
Trương Quốc Phú (1999) cho rằng ngao có thể phân bố ở độ mặn từ 7-
24‰, khi độ mặn giảm xuống 5‰

thì hầu hết ngao di chuyển tới vùng mới nơi có
độ mặn cao hơn, ngao lớn thì vùi mình xuống cát, bãi nghêu có xu hướng dịch
chuyển từ bờ ra xa vào mùa mưa và mùa khô có xu hướng mở rộng diện tích.

Báo cáo của Nguyễn Đình Hùng (2000): theo ngư dân cho biết, ở những
khu vực nước sâu khoảng 8- 10m tại bãi Thới Thuận, nguồn nghêu bố mẹ phân bố
khá dày đặc và nguồn lợi này ít bị tác động bởi sự khai thác của ngư dân do chúng
phân bố ở khu vực nước khá sâu, mặt khác nguồn nghêu nuôi thương phẩm cũng
góp phần bổ sung khá đáng kể. Điều này chứng tỏ rằng nguồn nghêu bố mẹ trong
tự nhiên không thiếu, vậy nhân tố còn lại ảnh hưởng đến sự hình thành nghêu
giống là các tác nhân môi trường (chế độ mưa lũ, độ mặn, dòng chảy…) và còn
ảnh hưởng đến sự phát triển của ấu trùng nghêu.
Như các loài động vật thân mềm hai mảnh vỏ khác, quá trình phát triển của
nghêu phải trải qua các giai đoạn ấu trùng. Giai đoạn đầu là ấu trùng phù du
(Trochophore) sống trôi nổi trong nước, sau đó là giai đoạn sống bám trên nền
đáy và cuối cùng là giai đoạn trưởng thành - lúc này nghêu đã phát triển chân đầy
đủ nên có thể chui rúc xuống nền đáy dễ dàng. Do đó tác động của các yếu tố môi
trường đến sự xuất hiện nghêu giống thể hiện rõ rệt nhất trong giai đoạn ấu trùng
sống trôi nổi và giai đoạn chuyển sang sống đáy.
1.1.9.1. Các yếu tố môi trường:
Theo D.B. Quayle và G.F. Newkirk (1989), trong giai đoạn ấu trùng sống
trôi nổi thì dòng nước ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của chúng, dù có khả năng
bơi lội thì ấu trùng cũng không đủ sức cưỡng lại dòng nước, điều này có ảnh
hưởng đến sự phân bố của ấu trùng và giải thích tại sao các bãi nghêu giống
không cố định ở một vị trí.
Cũng theo D.B. Quayle (1989) quan sát thấy rằng ấu trùng Bivalvia có hiện
tượng di chuyển lên xuống trong tầng nước theo chiều thẳng đứng và phụ thuộc
vào chu kỳ thủy triều (khi triều lên ấu trùng di chuyển lên tầng mặt và khi triều
xuống ấu trùng lại di chuyển xuống đáy), đây là căn cứ giải thích cho việc ấu
trùng có thể tồn tại ở khu vực gần cửa sông mà không bị cuốn trôi ra biển.
1.1.9.2. Chất đáy:
Chất đáy là yếu tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát
triển của sinh vật thông qua sự phụ thuộc của sinh vật đó với đặc trưng của nền
đáy mà nó thích ứng. Theo Odum (1963), động vật thân mềm thường chọn nền

sinh trưởng, phân bổ và sống sót của ấu trùng ngao (Meretrix meretrix). Ông cho
rằng, thức ăn là nhân tố ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự sinh trưởng và phát triển của
ngao. Trong thí nghiệm này, để loại bỏ nguyên nhân ảnh hưởng từ nguồn thức ăn,
ông đã bổ xung thức ăn theo tỉ lệ tương thích với mật độ của ấu trùng ngao. Kết

15

quả từ các lô thí nghiệm cho thấy, tỷ lệ sinh trưởng, lắng đáy và tỉ lệ chết thấp
nhất ở mật độ 10 – 20 cá thể/ml.
Baojun Tang (2006), đã thử nghiệm các chế độ dinh dưỡng khác nhau từ vi
tảo ảnh hưởng tới ấu trùng nghêu. Kết quả cho thấy, các ấu trùng nghêu có khả
năng sống sót sau nhiều ngày không có thức ăn. Điều này chứng minh rằng, nghêu
có khả năng sống sót dài ngày nhờ vào nguồn dinh dưỡng nội sịnh và quá trình
sinh trưởng của nghêu phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác ngoài số lượng và chất
lượng của thức ăn.
1.2.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta nghề nuôi ngao bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ XX, ngao
được phát triển ở Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định Thái Bình, Thanh Hoá
(miền Bắc), Nghệ An, Đà Nẵng, Bình Thuận (miền Trung), Bến Tre, Kiên Giang,
Trà Vinh (miền Nam). Năng suất ngao nuôi khác nhau tuỳ theo từng địa phương.
Ở Đà Nẵng, ngao nuôi trong đầm đạt năng suất cao tới 18,4 tấn/ha (Nguyễn Việt
Nam, và Lê Thanh Lựu, 2001; Hà Thị Lộc và Trương Sĩ Kỳ, 2003).
Việc nghiên cứu ĐVTM nói chung và ngao nói riêng ở Việt Nam đã được
tiến hành từ đầu thế kỷ 20. Các công trình nghiên cứu tập trung vào điều tra thành
phần loài, đặc điểm khu hệ ĐVTM ở biển như công trình nghiên cứu của Serenne
(1937) công bố một danh mục gồm 610 loài Mollusca sống ở vùng triều và vùng
dưới triều của biển Việt Nam, trong đó động vật 2 mảnh vỏ có 213 loài. Các tác
giả như Nguyễn Văn Chung, Trần Đình Nam (1978), Nguyễn Xuân Dục (1978),
Nguyễn Chính (1980, 1990) đã xác định có 172 loài ở vùng biển Quảng Ninh, Hải
Phòng; 25 loài động vật chân đầu ở vịnh Bắc Bộ, 101 loài ở đầm Thị Nại (Bình

và các muối dinh dưỡng ở vùng nuôi ngao. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có
mối tương quan giữa mật độ tảo (Alexandrium) sinh độc tố PSP và hàm lượng độc
tố này trong ngao nhưng mối tương quan này không chặt.
Ở Việt Nam, loài ngao Bến Tre được bắt đầu nghiên cứu từ những năm
1980 ở các Trường Đại học, Viện Nghiên cứu về môi trường và nguồn lợi nghêu ở
đồng bằng sông Cửa Long nhưng nó chưa được đi sâu. Bắt đầu từ 1994 các công
trình nghiên cứu về đặc điểm sinh học và nguồn lợi nghêu mới được nghiên cứu
sâu hơn với một số công trình:
- Nghiên cứu về phân bố và đánh giá nguồn lợi nghêu ở Trà Vinh của tác
giả Nguyễn Tác An và Nguyễn Văn Lục (1994), Nguyễn Hữu Phụng (1996),
Nguyễn Chính (1996);
- Trương Quốc Phú (1999) thực hiện luận án tiến sĩ “Nghiên cứu một số
đặc điểm sinh học, sinh hoá và kỹ thuật nuôi Nghêu Meretrix lyrata (Sowerby) ở
vùng ven biển Tiền Giang, Bến Tre”.

17

- Nghiên cứu một số chỉ tiêu môi trường, đặc điểm sinh học và nguồn lợi
nghêu M. lyrata ở Đồng bằng sông Cửu Long (Nguyễn Văn Hảo và CTV, 1999);
- Nghiên cứu đặc tính sinh học chính của ngao dưới ảnh hưởng của các yếu
tố sinh thái môi trường tự nhiên (Trần Quang Minh, 2001).
Như vây, từ những tài liệu thu thập trên chúng tôi thấy những nghiên cứu
về đặc điểm phân bố, sinh trưởng, sinh sản, Thì các tác giả đều đưa ra tương đối
chi tiết cho loài nghêu Bến Tre nhưng đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu
về hiện trạng, tiềm năng và các giải quy hoạch, phát triển bền vững cho vùng nuôi
nghêu bãi triều ven biển huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
1.3. CÁC VẤN ĐỀ NGOẠI CẢNH TÁC ĐỘNG:
1.3.1-Môi trường:
Như chúng ta biết, môi trường và phát triển nói chung là hai mặt của một
vấn đề. Môi trường bờ là địa bàn và đối tượng phát triển kinh tế- xã hội của một

Theo thống kê từ 1985- 2004 tốc độ mất rừng ngập mặn ở Việt Nam ước khoảng
15.000ha/năm.
Khác với cả nước, từ những năm 1960, huyện Thái Thụy đã thực hiện
chương trình trồng rừng phòng hộ ven biển, với chươg trình 327 phủ xanh đất
trống đồi núi trọc; chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng của Chính phủ; Chương
trình phòng ngừa thảm hoạ và phòng chống thiên tai do Chính phủ Đan Mạch tài
trợ đến nay vùng ven biển huyện Thái Thụy đã có một hệ thống đai rừng khá vững
chắc, khoảng 35% diện tích rừng có độ tuổi trên 10 năm, chiều cao cây trung bình
2,5 – 3,5 m và nhiều cây bần cao trên 20 m, 40% diện tích rừng có độ tuổi từ 5 –
10 năm với mật độ cây dày đặc và có độ cao trung bình 1,5 – 2,5 m, còn lại là
diện tích rừng non mới trồng. Đến nay, huyện Thái Thụy đã có 4.564 ha rừng với
độ rộng 800 đến 1.300 mét Trong đó diện tích rừng trong vùng nghiên cứu là
1.393,85 ha. (Theo nguồn phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Thái Thụy).
1.3.3-Tác động của biến đổi khí hậu:
Ngành Thuỷ sản được xác định là ít tham gia nhất vào việc thúc đẩy biến
đổi khí hậu, nhưng ngược lại, thuỷ sản là một trong những ngành chịu ảnh hưởng
nhiều nhất của hiện tượng này.
Biến đổi khí hậu đã làm cho nhiệt độ trái đất gần đây tăng khoảng 0,3
o
C
trong mỗi thập niên; tần suất và cường độ các hiện tượng El Nino, La Nina tăng lên
đáng kể; Lượng mưa nhiều hơn ở những vùng nhiều mưa và càng khô hạn ở những
vùng khô; mực nước biển dâng cao; bão, lũ, lốc, xoáy xảy ra thường xuyên hơn.
Chính vì vậy, dự báo biến đổi khí hậu sẽ phá vỡ các hệ sinh thái như rừng ngập
mặn, vùng đất ngập nước hay khu vực sinh sản của động vật thủy sinh, thay đổi

Trích đoạn HIỆN TRẠNG NGHỀ NUÔI NGAO TỈNH THÁI BÌNH PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỤ THỂ Điểm yếu (W-Weakness) Xác định vùng nuôi Thiết kế mặt bằng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status