ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
HOÀNG THANH THƯƠNG NGHIÊN CỨU SINH THÁI CẢNH QUAN CÁC HỆ SINH THÁI NHẰM
ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI XÃ
HƯƠNG SƠN – HUYỆN MỸ ĐỨC – HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
HOÀNG THANH THƢƠNG NGHIÊN CỨU SINH THÁI CẢNH QUAN CÁC HỆ SINH THÁI
NHẰM ĐỊNH HƢỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI
1.2.1. Khái niệm sinh thái cảnh quan 6
1.3. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SINH THÁI CẢNH QUAN
Ở VIỆT NAM 6
1.4. ỨNG DỤNG GIS VÀ VIỄN THÁM TRONG NGHIÊN CỨU SINH THÁI HỌC 8
1.4.1. Hệ thống thông tin địa lý - GIS 8
1.4.2. Viễn thám (Remote sensing – RS) 9
1.4.3. Viễn thám và GIS trong nghiên cứu và quy hoạch PTBV 10
1.5. PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ QUY HOẠCH 10
1.5.1. Phát triển bền vững 10
1.5.2. Những vấn đề về quy hoạch 14
1.5.2.1. Quy hoạch môi trường (QHMT) 15
1.5.2.2. Quy hoạch sinh thái 16
1.6. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở KHU VỰC XÃ HƢƠNG SƠN 17
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 19
2.1. ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 19
2.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 19
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 74
2.3.1. Phƣơng pháp khảo sát thực địa 19
2.3.2. Phƣơng pháp điều tra phỏng vấn 20
2.3.3. Phƣơng pháp tổng hợp và xử lý số liệu 20
2.3.4. Phƣơng pháp phân tích không gian 21
2.3.5. Phƣơng pháp bản đồ 22
2.4. CÁC BƢỚC NGHIÊN CỨU STCQ CÁC HST XÃ HƢƠNG SƠN - HUYỆN
MỸ ĐỨC - HÀ NỘI 22
Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24
3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - YẾU TỐ HÌNH THÀNH NÊN CẢNH QUAN 24
3.3.7. HST trảng cỏ 55
3.3.8. Hệ sinh thái rừng trồng và cây ăn quả lâu năm 57
3.4. BẢN ĐỒ HIỆN TRẠNG CÁC HST XÃ HƢƠNG SƠN – HUYỆN MỸ
ĐỨC – HÀ NỘI 59
3.5. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP SỬ DỤNG SINH THÁI CẢNH QUAN
CÁC HỆ SINH THÁI XÃ HƢƠNG SƠN THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG 61
3.5.1. Đối với HST khu dân cƣ 61
3.5.2. Đối với HST nông nghiệp 62
3.5.3. Đối với hệ sinh thái thủy vực 63
3.5.4. Đối với HST rừng trên núi đá vôi và rừng trên núi đất 64
3.5.5. Đối với HST rừng trồng và cây ăn quả lâu năm, HST trảng cỏ và
HST trảng cây bụi; tre nứa 67
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
KẾT LUẬN 68
KIẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 70
TÀI LIỆU TIẾNG ANH 72
76 DANH MỤC BẢNG Bảng 1. Thống kê tài nguyên đất xã Hương Sơn tính đến tháng 02/2011 26
Bảng 2. Thống kê các loài động vật quý hiếm ở Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội 30
Hình 21. Khu vực canh tác lúa 1 vụ, 1 vụ nuôi thủy sản 54
Hình 22. Khu vực canh tác lúa cả 2 vụ 54
Hình 23. Trảng cỏ ở quanh ruộng lúa và bờ đê 56
Hình 24. Vườn cây trồng trong khu dân cư 57
Hình 25. Vườn cây trồng dưới chân núi đá vôi 58
Hình 26: Bản đồ hiện trạng các hệ sinh thái xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức,
Hà Nội 60
1
MỞ ĐẦU
Xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội là tên gọi quen thuộc, lâu đời
của nhân dân Việt Nam để chỉ một cụm di tích gồm nhiều chùa chiền, đền
miếu khác nhau. Xã có chùa Hương Tích với diện tích 500 ha (Bộ
NN&PTNT, 1997). Chùa Hương hay Hương Sơn là cả một quần thể văn hóa -
tôn giáo Việt Nam, gồm hàng chục ngôi chùa thờ Phật, vài ngôi đền thờ thần,
các ngôi đình thờ tín ngưỡng nông nghiệp. Trung tâm chùa Hương nằm ở xã
Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội, nằm ven bờ phải sông Đáy.
Lễ hội chùa Hương kéo dài từ mùng 6 tháng Giêng đến hết tháng 3 âm
lịch là lễ hội dài nhất trong cả nước. Đỉnh cao của lễ hội là từ rằm tháng
Giêng đến 18 tháng hai âm lịch. Ngày này vốn là ngày lễ khai sơn (lễ mở cửa
rừng) của địa phương. Đến nay nghi lễ "mở cửa rừng" hàm chứa ý nghĩa mới
- mở cửa chùa. Không những thế, nơi đây còn có bến nước, con thuyền, hang
động, núi non với rừng cây bốn mùa xanh tươi, trong đó có cả những loài cây
được đặt tên bằng chính địa danh của vùng đất Phật như mơ Hương Tích, rau
Sắng chùa Hương. Hương Sơn không chỉ là vùng núi đá vôi, mà còn có sông,
suối, đồng ruộng, làng mạc… Chính sự đa dạng về sinh cảnh đã tạo nên sự đa
dạng về các HST [19].
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG NGHIÊN CỨU HỆ SINH THÁI
1.1.1. Khái niệm hệ sinh thái
Hệ sinh thái (ecosystem) là tổ hợp của một quần xã sinh vật với môi
trường vật lý mà quần xã đó tồn tại, ở đó các sinh vật tương tác với nhau và với
môi trường để tạo nên chu trình vật chất và sự chuyển hóa năng lượng [13].
Khái niệm trên gồm 2 phần: nguyên nhân và hệ quả. Nguyên nhân cơ
bản là sự phối hợp của sinh vật với môi trường và sự tác động qua lại giữa
chúng. Hệ quả quan trọng là từ sự phối hợp và tác động qua lại lẫn nhau đó
nên các tác nhân ở các bậc dinh dưỡng có sự trao đổi năng lượng và vòng
tuần hoàn vật chất từ sinh vật đến thiên nhiên rồi trở lại sinh vật [16].
Như vậy, HST bao gồm các sinh vật sống và các điều kiện tự nhiên
(môi trường vật lý) như ánh sáng, nước, nhiệt độ, không khí… Điều quan
trọng là tất cả các điều kiện hữu sinh (Biotic component) và vô sinh (Abiotic
component) tác động tương hỗ với nhau và giữa chúng luôn xảy ra quá trình
trao đổi năng lượng, vật chất và thông tin.
1.1.2. Cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái
Nếu xét theo cấu trúc thành phần thì một HST điển hình được cấu trúc
bởi các thành phần sau đây [3], [13], [16], [27]:
- Sinh vật sản xuất (producer).
- Sinh vật tiêu thụ (consumer).
1.2.1. Khái niệm cảnh quan [5], [6], [11], [17], [23]:
Từ “cảnh quan” là tên gọi khá cổ của một nghành khoa học Địa lý hoàn
chỉnh, được sử dụng để biểu thị tư tưởng chung về một tập hợp quan hệ tương
hỗ của các hiện tượng khác nhau trên bề mặt Trái đất.
Nền móng của cảnh quan học đã được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX đầu
thế kỷ XX trong các công trình nghiên cứu, sự phân chia địa lý tự nhiên bề
mặt Trái đất của các nhà địa lý kinh điển Nga: V. V. Docutraiep; L.C. Berge;
G.N. Vưxotxkii; … Đức: Z. Passarge; A. Hettner; ở Anh: E.J. Gerbertson; và
các nhà Địa lý Mỹ, Pháp,…
5
Quá trình phát triển đó thể hiện trong sự xác định khái niệm cảnh quan
trong các định nghĩa của các tác giả ở các thời gian khác nhau - đánh dấu mỗi
thời điểm phát triển của khái niệm cũng như của học thuyết cảnh quan có
những định nghĩa cảnh quan của nhiều tác giả như: L.C. Berge, 1931; N.A.
Xolsev, 1948; A.G.Ixatxenko, 1965…
Khi nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc Việt Nam, Vũ Tự Lập có
định nghĩa: “Cảnh quan địa lý là một địa tổng thể được phân hóa trong phạm
vi một đới ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc
thẳng đứng đồng nhất về nền địa chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu
thủy văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao gồm một
tập hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác
theo một cấu trúc ngang đồng nhất” (Vũ Tự Lập 1976) và cũng như N.A.
Xolsev, các cá thể cảnh quan của ông không lặp lại ở bất kỳ lãnh thổ khác.
Gần đây A.G. Ixatrenko lại đưa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn “Cảnh quan
là một địa hệ thống nhất về mặt phát sinh, đồng nhất về các dấu hiệu địa đới và phi
địa đới, bao gồm một tập hợp đặc trưng của các địa hệ liên kết bậc thấp” (1991).
Phân tích các định nghĩa trên cho thấy 3 quan niệm về cảnh quan mà
sau đó được áp dụng để chỉ các hình thức cảnh quan khác nhau phụ thuộc vào
các quan niệm của người nghiên cứu (Từ điển Bách khoa Địa lý 1988).
1.3. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SINH THÁI CẢNH
QUAN Ở VIỆT NAM
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cảnh quan tập trung giải quyết mối
quan hệ giữa con người và tự nhiên dưới nhiều hình thức dựa trên nguyên lý
sinh thái. Cảnh quan được áp dụng và triển khai nghiên cứu bước đầu như các
công trình “Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững”, “Sinh thái môi
trường ứng dụng”, “Thiên nhiên Việt Nam” và "Việt Nam lãnh thổ và các
vùng địa lý” [18].
7
Các công trình của các nhóm tác giả khác nhau đều là sự hội tụ và bổ
sung cho nhau của hai nghành Địa lý và Sinh học. Sở dĩ có sự hội tụ này là vì
các nhà Địa lý đi từ giới vô cơ dẫn đến giới hữu cơ và cuối cùng thấy sinh vật
có vai trò chủ đạo trong HST tự nhiên và HST tự nhiên hoạt động tốt nhất là
HST có năng suất sinh học cao nhất. Do vậy, cải tạo hệ tự nhiên phải bắt đầu
từ cải tạo hệ thực vật. Còn các nhà sinh thái học trong khi tìm hiểu giới sinh
vật không thể không đề cập đến môi trường vô cơ như là đất, nước, không
khí. Cả hai đều phát sinh, phát triển trong mối quan hệ tương tác và thống
nhất với nhau thành một hệ tự nhiên. Các nhà địa lý giúp cho các nhà sinh học
có được sự nhìn nhận tổng hợp của sự phân hóa lãnh thổ trong việc nghiên
cứu tuần hoàn nước, tuần hoàn địa hóa, xác định chuỗi thức ăn và tuần hoàn
sinh vật [11].
Bên cạnh đó, một số nhóm tác giả của Khoa Địa lý và Khoa Sinh học,
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật,
Viện Địa lý đi sâu nghiên cứu cảnh quan ở mức sâu hơn, với một số công
trình đã được ứng dụng vào thực tế sản xuất, đem lại hiệu quả về kinh tế và
môi trường. Nổi bật có các công trình “Cảnh quan địa lý Miền Bắc Việt
Nam”, "Nghiên cứu xây dựng bản đồ cảnh quan các tỷ lệ trên lãnh thổ Việt
Nam”, “Quy hoạch không gian để bảo tồn thiên nhiên ở khu bảo tồn thiên
nhiên Vũ Quang - Một phương thức tiếp cận sinh thái cảnh quan",…. [18].
Cấu trúc của GIS bao gồm 4 hợp phần cơ bản như sau : dữ liệu không
gian, ngƣời điều hành, phần cứng, phần mềm (hình 1) 9
Hình 1. Cấu trúc của GIS
Hệ thống thông tin địa lý khác với bản đồ theo nhiều cách [10]:
- Bản đồ là sự miêu tả (vẽ) tương tự của bề mặt trái đất trong khi đó
GIS ghi lại các đặc điểm phân bố không gian theo dạng số.
- Bản đồ miêu tả (vẽ) cùng một lúc sự đa dạng của các đặc điểm cảnh
quan (ví dụ địa hình, thảm thực vật, mạng lưới đường) trong khi GIS lại chứa
đựng các đặc điểm này một cách riêng lẻ.
- Bản đồ là tĩnh và khó cập nhật trong khi GIS là các lớp dữ liệu có thể
sửa chữa rất dễ dàng.
- Bản đồ bản thân nó là sản phẩm cuối cùng trong khi sản phẩm cuối
của GIS có thể lại là bản đồ hoặc dữ liệu.
- Mặc dù các bản đồ có thể ở dạng của đầu vào hay đầu ra của GIS, thì
GIS lại có tính linh hoạt của các dữ liệu bản đồ do sự phong phú của các công
nghệ của nó đối với các thao tác dữ liệu và phân tích định lượng.
1.4.2. Viễn thám (Remote sensing – RS)
Có rất nhiều định nghĩa về viễn thám, như của Shunji Murai (1993);
Nguyễn Ngọc Thạch (1997); Thomas & Ralph (2000)… Mặc dù viễn thám
được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau nhưng đều có chung một quan
điểm: viễn thám là khoa học thu nhận thông tin phản ánh về vật thể mà không
10
tiếp xúc trực tiếp với vật thể đó. Nói cách khác, viễn thám là khoa học và
công nghệ mà nhờ nó các tính chất của vật thể quan sát được xác định, đo đạc
hoặc phân tích mà không cần tiếp xúc trực tiếp với chúng [9], [14], [28].
trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn
Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn
giản: "Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh
tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến
môi trường sinh thái học".
UNEP, 1991 định nghĩa “PTBV là sự phát triển thỏa mãn nhu cầu của
thế hệ hiện tại mà không ảnh hưởng đến khả năng thỏa mãn nhu cầu của thế
hệ tương lai” [13].
Hình 2: Mô hình PTBV của Ngân hàng Thế giới World Bank [12]
Với mô hình PTBV của Ngân hàng Thế giới như trình bày ở hình 2,
PTBV được hiểu cần phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội
công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả
các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội phải bắt
Phát triển bền
vững
Mục tiêu
sinh thái
Mục tiêu
xã hội
Mục tiêu kinh tế
12
tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội
- môi trường.
Có một số mô hình/ sơ đồ PTBV với những sai khác nhất định về sự
hài hòa giữa các lĩnh vực khác nhau của họat động kinh tế xã hội, chính trị và
môi trường: Mô hình PTBV của WCED (1987), Jacobs và Sadler (1990),
Villen (1990), Vaillancourt (1995)… [12]. Các mô hình trên có thể khác nhau
về phương pháp tiếp cận nhưng đều thống nhất các quan niệm chung về
3. Bảo tồn sự sống và sự đa dạng sinh học của Trái đất.
4. Hạn chế đến mức thấp nhất việc làm suy giảm các nguồn tài nguyên
không tái tạo.
5. Giữ vững trong khả năng chịu đựng được của Trái đất,
6. Thay đổi thái độ và hành vi của con người,
7. Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình.
8. Xây dựng một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho bảo vệ
và phát triển.
9. Xây dựng một khối liên minh toàn cầu trong bảo vệ môi trường.
Các tiêu chuẩn cho sự PTBV sinh thái học bao gồm : [9]
- Các tiêu chuẩn chung :
+ Tính lành mạnh của các tiêu chuẩn sinh thái (sản lượng sơ cấp, tính
đa dạng loài, các sinh vật hại,…).
+ Các tiêu chuẩn về tính đàn hồi (ĐDSH, độ giàu có trong không gian).
- Các tiêu chuẩn về sự đe dọa đối với bản chất HST:
+ Sự tăng dân số (đặc biệt sự đô thị hóa).
+ Tăng sử dụng nước, năng lượng, đặc biệt trên 1 đơn vị đầu người.
+ Tốc độ sử dụng tài nguyên (rừng, khoáng chất…).
+ Tăng việc tạo ra chất thải.
14
- Các tiêu chuẩn về nguy cơ bị xuống cấp đối với bản chất HST:
+ Sản lượng khai thác tăng lên theo mỗi đơn vị sử dụng tài nguyên
thiên nhiên.
+ Sự quay vòng tăng lên.
+ Số các tài nguyên quý hiếm phải bảo tồn tăng (loài bị đe dọa, các di
tích lịch sử…).
+ Sử dụng chất độc hại (thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ…) tăng.
+ Các khoản trợ cấp kinh tế cho việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên tăng.
Nói chung, các tiêu chuẩn bền vững có thể được xác định trong sự hiểu
- QHMT cũng như các kiểu quy hoạch khác như quy hoạch tổng thể
(dài hạn) và quy hoạch phát triển dự án đều liên quan trực tiếp đến vấn đề sử
dụng đất bởi vì chúng liên quan đến phát triển các thành phần vật lý trên một
khu vực cụ thể nào đó [EMB, 1996].
- Vũ Quyết Thắng (2005) cho rằng “Quy hoạch môi trường được hiểu
là việc xác lập các mục tiêu môi trường mong muốn, đề xuất và lựa chọn các
phương án, giải pháp để bảo vệ, cải thiện và phát triển một hoặc những môi
trường thành phần hay tài nguyên của môi trường nhằm tăng cường một cách
tốt nhất năng lực, chất lượng của chúng theo mục tiêu đã đề ra”.
Quy hoạch không gian môi trường trên cơ sở tiếp cận HST là việc đề
xuất các phương án tổ chức và sắp xếp các kiểu HST. Để có một môi trường
khu vực bền vững, tính đa dạng HST càng phải lớn và theo một tỷ lệ thích
hợp nào đó để đáp ứng các yêu cầu sinh thái nhất định [9], [11].
16
1.5.2.2. Quy hoạch sinh thái
“Về thực chất, quy hoạch sinh thái hay quy hoạch tổng thể trên cơ sở
sinh thái, tài nguyên và môi trường là kiểu quy hoạch môi trường gắn liền với
quy hoạch phát triển”.
Trong bài báo “Quy hoạch sinh thái học và các dự án phát triển kinh tế”
tác giả Mai Đình Yên [Mai Đình Yên, 1976] đã có bài viết về quy hoạch sinh
thái, trong đó tác giả quan niệm rằng “Dự án phát triển kinh tế được xây dựng
trên các thông số về sinh thái học ngoài các thông số về kinh tế cho chính dự án
được gọi là quy hoạch sinh thái học”. Quy hoạch sinh thái có yêu cầu cao hơn,
có giá trị bổ sung, hoàn thiện các quy hoạch kinh tế. Như vậy, quy hoạch sinh
thái có nhiệm vụ đề ra những kế hoạch hành động nhằm giúp vùng được quy
hoạch phát triển về kinh tế, xã hội trên cơ sở giải quyết những bất cập về mặt
môi trường, giữ gìn các hệ sinh thái, đặc biệt là các hệ sinh thái mẫn cảm và
các hệ sinh thái gắn liền với đời sống cộng đồng, bảo tồn sinh vật hoang dại
Các nguyên tắc cơ bản của quy hoạch sinh thái là:
Một công trình tuy thực hiện từ năm 2003 của trường Đại học Lâm
nghiệp: “Báo cáo kết quả nghiên cứu chuyên đề rừng đặc dụng Hương Sơn –
Mỹ Đức - Hà Tây” nhưng có thể xem là đã thu thập được đầy đủ hơn về hệ
thực vật Hương Sơn, trong đó công bố đã thống kê được 655 loài thuộc 430
chi, 149 họ của 6 ngành thực vật bậc cao có mạch.
Theo kết quả điều tra do Trung tâm dữ liệu Thực vật Việt Nam mới
thu được trong đợt khảo sát vào tháng 10 - 2007, hệ thực vật Hương Sơn
hiện đã biết có 823 loài thuộc 6 ngành thực vật bậc cao có mạch. Sự đa dạng
của hệ thực vật Hương Sơn được thể hiện qua 8 HST: HST khu dân cư; HST
18
thủy vực; HST rừng trên núi đá vôi; HST rừng trên núi đất; HST trảng cây
bụi, tre nứa; HST nông nghiệp; HST trảng cỏ; và HST rừng trồng và cây ăn
quả lâu năm.
Lưu Lan Hương, Đoàn Hương Mai, Phạm Mạnh Thế (2011), công bố
trên Tạp chí Khoa học công nghệ số 3 (tháng 5/2011), Sở Khoa học & Công
nghệ Hà Nội là những nghiên cứu điều tra cập nhật về thành phần các loài
động vật có xương sống trên cạn tại KVNC. Tại đây có 17 loài thú thuộc 12
họ của 4 bộ, 25 loài chim thuộc 15 họ của 8 bộ, 16 loài bò sát thuộc 8 họ của
2 bộ và 10 loài lưỡng cư thuộc 4 họ của 1 bộ.
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã đưa ra tính đa dạng về thành phần
loài động – thực vật cũng như đa dạng các HST tại xã Hương Sơn. Tuy nhiên,
chưa có công trình nào nghiên cứu chi tiết về hiện trạng cũng như thành lập
được bản đồ hiện trạng các HST tại Hương Sơn. Do vậy, mục tiêu chính của
đề tài này là nghiên cứu cụ thể hơn để thành lập bản đồ hiện trạng các HST tại
xã Hương Sơn.