ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
***
PHẠM MẠNH THẾ
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG KHU HỆ
ĐỘNG VẬT CÓ XƢƠNG SỐNG TRÊN CẠN
TẠI XÃ HƢƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI Cán bô hƣớng dẫn khoa học: GS.TS. Mai Đình Yên Hà Nội - 2011
MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
13
1.2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội………………………………………………………
14
1.3. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƢƠNG SỐNG
TRÊN CẠN TẠI XÃ HƢƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI…………
17
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, THỜI GIAN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…
21
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU……………………………………………
21
2.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU…………………………………………………….
21
2.3. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU…………………………………………
21
2.3.1. Phương pháp khảo sát thực địa……………………………………………
21
2.3.2. Phương pháp phòng thí nghiệm………………………………………………….
24
2.3.3. Phương pháp kế thừa…………………………………….……………………
25
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu…………………………………………………
25
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN………………………….
26
3.1. ĐA DẠNG SINH HỌC KHU HỆ ĐỘNG VẬT CÓ XƢƠNG SỐNG TRÊN
CẠN TẠI XÃ HƢƠNG SƠN, HUYỆN MỸ ĐỨC, HÀ NỘI…………
26
71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………………………………………………………
78
Kết luận………………………………………………………………………………
78
Kiến nghị…………………………………………………………………………
79
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………………………….
80
PHỤ LỤC DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1. Các mức độ của đa dạng sinh học…………………………………………
4
Bảng 3.1. Thành phần các loài lưỡng cư tại xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội………
26
Bảng 3.2. So sánh đa dạng các loài lưỡng cư ở Hương Sơn với cả nước………………
29
Bảng 3.3. Thành phần các loài bò sát tại xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội……………
30
Bảng 3.4. Tổng hợp tài nguyên bò sát ở xã Hương Sơn………………………………
34
Bảng 3.5. So sánh đa dạng các loài bò sát ở Hương Sơn với cả nước…………
34
Bảng 3.6. Thành phần các loài chim tại xã Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội
37
Bảng 3.7. Tổng hợp tài nguyên chim ở xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1. Vị trí xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, Hà Nội
7
Hình 2.1. Lưới mờ để bắt dơi
23
Hình 3.1. Cóc nhà (Bufo melanostictus).……………………………………………………
29
Hình 3.2. Ếch xanh (Rana livida)
29
Hình 3.3. Ếch đồng (Rana rugulosa)………………………………………………………….
29
Hình 3.4. Ngóe (Rana limnocharis)…………………………………………………………
29
Hình 3.5. Ếch trơn (Rana kuhlii)……………………………………………………………
29
Hình 3.6. Chẫu chuộc (Ranna guentheri)…………………………………………………….
29
Hình 3.7. Rắn nước (Xenochrophis piscator)………………………………………………
35
Hình 3.8. Rùa núi vàng (Indotestudo elongate)
35
Hình 3.9. Rắn hổ đất nâu (Psammodynastes pulverulentus)
36
Hình 3.10. Ba ba gai (Pelea steindachneri)
36
Hình 3.11. Rắn lá khổ thường (Calliophis macclellandi)………………………………….
36
Hình 3.12. Liu điu chỉ (Takydromus sexlineatus)…………………………………………
36
Hình 3.13. Chim Phướn (Rhopodytes tristis)
Hình 3.28. Gà lôi trắng (Lophura nycthemera)……………………………………………
63
Hình 3.29. Rắn hổ mang (Naja naja)…………………………………………………………
63
Hình 3.30. Rắn sọc dưa (Elaphe radiata)…………………………………………………….
63
Hình 3.31. Tắc kè (Gekko gecko)……………………………………………………………
63
Hình 3.32. Rắn ráo (Ptyas korros)…………………………………………………………….
64
Hình 3.33. Rắn sọc xanh (Elaphe prasina)…………………………………………………
64
Hình 3.34. Rắn cạp nia (Bungarus Multicintus)
64
Hình 3.35. Rắn cạp nong (Bungarus fasciatus)
64
Hình 3.36. Dơi mũi ống cánh lông (Harpiocephalus harpia)
64
Hình 3.37. Thú nhồi và thịt động vật hoang dã bày bán ở chùa Hương………………
69
Hình 3.38. Rác thải của khách du lịch gây ô nhiễm suối Yến ………………………
70 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CT : Chỉ thị
CP : Chính phủ
CS : Cộng sự
ĐDSH : Đa dạng sinh học
nước, Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 25/11/2005, Luật đa
dạng sinh học được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực
chính thức từ ngày 01/07/2009,….
Hương Sơn là một xã nằm ở phía Nam huyện Mỹ Đức - Hà Nội. Xã cách trung
tâm thành phố Hà Nội khoảng 62 km về phía Tây Nam với tổng diện tích đất tự nhiên
là 4.282,73 ha, trong đó khoảng 40% là đất lâm nghiệp, 30% là sông suối, còn lại là
đất nông nghiệp và dân cư. Tại đây, có nhiều dãy núi đá vôi kề bên những dòng suối
uốn lượn quanh co. Trên núi và trong các hang động, người ta đã cho xây dựng nhiều
đền chùa, trung tâm là chùa Hương trong động Hương Tích. Hệ thống chùa, đền thờ
và hang động nằm trong khu vực này dựa theo những ngọn núi đá vôi và rừng nhiệt
đới với tất cả diện tích khoảng 6 km² [20], [21].
Với diện tích rừng chiếm tỷ lệ lớn (40%) và tính đa dạng sinh học cao. Năm
1993, ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn được thành lập nhằm quản lý, bảo vệ,
giữ gìn, phát triển bền vững hệ sinh thái rừng, danh lam thắng cảnh ở Hương Sơn.
Luận văn Thạc sĩ khoa học
2
Để đánh giá đúng giá trị của quần thể di tích Hương Sơn, ngoài giá trị về tôn
giáo và danh lam thắng cảnh đã được nhiều người biết đến, việc nghiên cứu đánh giá
khu hệ động vật ở khu vực này là rất cần thiết, từ đó đề xuất các giải pháp bảo tồn và
phát triển bền vững đa dạng sinh học, du lịch sinh thái của hệ sinh thái vùng núi
Hương Sơn. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn và triển khai đề tài
“Nghiên cứu đa dạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn tại xã Hương Sơn,
huyện Mỹ Đức, Hà Nội” với mục tiêu:
- Xây dựng danh lục thành phần các loài động vật có xương sống trên cạn tại xã
Hương Sơn (Lưỡng cư, Bò sát, Chim, Thú).
- Thống kê các loài động vật có xương sống trên cạn quý hiếm có giá trị bảo tồn
nguồn gen.
- Phân tích giá trị và hiện trạng khu hệ động vật có xương sống trên cạn.
- Phân tích những yếu tố tác động tiêu cực của con người đến đa dạng khu hệ động
Luận văn Thạc sĩ khoa học
4
- Đa dạng hệ sinh thái: là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở
cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó có [10], [17].
Bảng 1.1. Các mức độ của đa dạng sinh học [10], [17].
Đa dạng về loài
Đa dạng về di truyền
Đa dạng về hệ sinh thái
Giới (Kingdoms)
Quần thể (Populations)
Khu sinh học (Biomes)
Ngành (Phyla)
Cá thể (Individuals)
Vùng sinh học(Bioregions)
Lớp (Class)
Nhiễm sắc thể
(Chromosomes)
Cảnh quan (Landscapes)
Bộ (Order)
Gene
Hệ sinh thái (Ecosystems)
Họ (Families)
Nucleotide
Nơi ở (Habitats)
Giống (Genera)
Ổ sinh thái (Niches)
Loài (Species)
trong đó chỉ còn 1 họ tồn tại đến ngày nay là họ Sphenodontidae. Họ này có nhiều
giống nhưng chỉ còn 1 giống tồn tại đến nay là giống Sphenodon. Trong giống này có
3 loài nhưng chỉ còn 2 loài còn tồn tại là Sphenodon guntheri Buller, 1877 và
Sphenodon punctatus (Gray, 1842) có số lượng rất ít, phân bố ở New Zealand. [9].
Vì vậy, khi nâng thang bậc phân loại của nhóm thằn lằn này từ loài lên giống,
lên họ, lên bộ… thì khu phân bố của các taxon bậc cao hơn loài cũng không thay
đổi, nghĩa là không được mở rộng ra. Khu phân bố động vật không đổi khi nâng bậc
phân loại được gọi là khu phân bố di lưu (relic area). Khu phân bố di lưu thường có
diện tích nhỏ và là khu phân bố của những loài cổ xưa còn lưu lại đến ngày nay [9].
Khu phân bố của loài bao gồm các địa điểm cụ thể mà các cá thể của loài đó
chiếm cứ sinh sống, là khái niệm cơ bản của khu hệ động vật. Vì vậy, nghiên cứu khu
hệ động vật cần phải có những hiểu biết về khu phân bố của các loài động vật. Có
Luận văn Thạc sĩ khoa học
6
hiểu biết về khu phân bố thì mới có thể có những nhận xét, kết luận về phân bố địa lý
của loài hoặc của đơn vị phân loại nào đó [9].
1.1.3. Động vật hoang dã quý hiếm
Là các loài động vật có giá trị kinh tế về nhiều mặt và giá trị về mặt khoa học
cao, các loài đặc hữu, có vùng phân bố hẹp/hạn chế, các loài đang bị đe dọa tuyệt
chủng ở mức độ quốc gia, khu vực và thế giới [40].
Mức độ đe dọa của các loài động vật được phân chia như sau:
Danh lục đỏ thế giới IUCN, 2009 [40]:
- Nguy cấp (Endangered - EN): Một loài hoặc nòi bị coi là nguy cấp khi nó phải đối
mặt với nguy cơ tuyệt chủng ngoài thiên nhiên rất cao trong một tương lai rất gần
nhưng kém hơn mức rất nguy cấp.
- Sẽ nguy cấp (Vulnerable - VU): Một loài hoặc nòi bị đánh giá là sắp nguy cấp khi
nó không nằm trong 2 bậc CR và nguy cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ
tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa.
- Rất nguy cấp (CR)
Hà Nam
Hòa Bình
Luận văn Thạc sĩ khoa học
8
Phía Bắc giáp xã Hùng Tiến, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Phía Đông giáp xã Tân Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Phía Nam giáp xã Ba Sao, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam
Phía Tây Nam giáp xã Phú Lão, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình
Phía Tây giáp xã An Phú, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội
Phía Tây Bắc giáp xã An Tiến, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội [24].
Hương Sơn nằm trong khung tọa độ địa lý:
20
o
17’ - 20
o
40’ vĩ độ Bắc
105
o
17
’
- 105
o
75’ kinh độ Đông
1.2.1.2. Đặc điểm cấu trúc địa chất và đá mẹ
Địa chất của núi đá vôi Hương Sơn có cấu trúc kiến tạo Ninh Bình và vùng
Sông Đà thuộc hệ uốn nếp Tây Bắc. Mặt khác, vũng Chồng Sông Đà nằm trực tiếp
trên phức nếp lõm Sông Đà có tuổi Paleozoi trung bình kéo dài từ biên giới Việt
Trung tới bờ biển Ninh Bình – Thanh Hóa. Qua nhiều lần thăng trầm, lắng đọng trầm
tích, karsto khác nhau, đặc biệt là giai đoạn cách đây khoảng 220 – 250 triệu năm đã
cắt sâu cũng khá lớn (từ 100 – 150m), mật độ chia cắt ngang khá dày đặc. Khác với
các vùng núi khác, vùng núi đá vôi nói chung và núi đá vôi ở khu vực Hương Sơn nói
riêng không chỉ được đặc trưng bởi hệ thống khe rãnh, dòng chảy mà còn bằng hệ
thống các hố sụt, phễu, máng, trũng karsto. Các hang động nổi tiếng nhất với chiều
dài 20 – 25m, chiều cao 10 – 15m đã được tìm ra như: Hương Tích, Hinh Bồng, Long
Vân, Tuyết Sơn [21].,…
Dạng karsto bề mặt mang đặc trưng rõ nét của karsto nhiệt đới ẩm, là các khối
núi nhỏ với các bề mặt đỉnh và sườn thoải gần đỉnh, chủ yếu là địa hình carư do quá
trình rửa trôi, sập lở tạo thành. Bề mặt lởm chởm dạng đá tai mèo rất đa dạng về hình
thái trong các thung lũng tạo thành những phong cảnh không chỉ đẹp mà còn rất hùng
vĩ [21].
Đặc điểm địa mạo ở khu vực Hương Sơn được chia ra thành 2 nhóm chính:
Nhóm dạng yếu tố địa hình nguồn gốc sông và nhóm dạng yếu tố địa hình nguồn gốc
karstơ [21].
- Nhóm dạng yếu tố địa hình nguồn gốc sông: Thuộc nhóm này gồm các đồng bằng
tích tụ sông có tuổi Holoxen muộn đến hiện tại, tích tụ aluvi tướng bãi bồi bằng
phẳng, thành phần trầm tích là sét, sét pha chiếm phần lớn diện tích phần Đông Bắc
khu vực Hương Sơn. Trên bề mặt của vùng đồng bằng này dễ dàng nhận thấy những
ô trũng là di tích của các dòng sông cổ trong quá trình dịch chuyển theo chiều ngang
đã để lại các dấu vết này. Đó là những đồng bằng aluvi tướng lòng sông cổ với các
thành tích là bùn, sét lẫn bùn bã thực vật. Dọc theo sông Đáy và sông Thanh Hà là
Luận văn Thạc sĩ khoa học
10
các đồng bằng tích tụ với aluvi tướng gờ cát ven sông, chủ yếu là cát, cát pha. Sát
chân núi là các đầm lầy ven núi [21]. Tham gia vào quá trình tạo thành đầm lầy có 2
tác nhân khác nhau:
+ Do sông bồi đắp không đủ ở các vùng trũng chân thềm
+ Do nước ngầm ở các khối núi đá vôi chảy ra nhiều bị ứ lại
Đầm lầy theo chế độ ngập nước có thể chia ra: ngập nước thường xuyên và
thể canh tác tốt, diện tích lớn [21].
Một dạng nữa mặc dù hiếm, nhưng cũng phát hiện thấy ở vùng này là các
máng trũng rửa trôi xâm thực có dạng kéo dài và hở, khác với các phễu có dạng khép
kín. Đó là dấu hiệu đầu tiên của sự phát triển dòng chảy ở vùng đá vôi hoặc do liên
kết các hố sụt, phễu karstơ lại với nhau [21].
Một đặc trưng điển hình cần được nhắc đến ở vùng này là cánh đồng karstơ
ven rìa, sự thành tạo của nó có thể xem như là các Pediment đá vôi. Trên cánh đồng
karstơ còn phổ biến các núi đá vôi đang mất dần dấu tích của bề mặt khối karstơ rộng
lớn trong quá khứ [21].
1.2.1.4. Đặc điểm khí hậu
Khí hậu Hương Sơn chịu ảnh hưởng của nền khí hậu miền Bắc Việt Nam, đó
là kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông lạnh, ít
mưa. Do quanh năm có khả năng nhận được bức xạ lớn, vùng Hương Sơn có nhiệt độ
trung bình năm là 23
o
C. Lượng mưa hàng năm theo số liệu của trạm Mỹ Đức là
1.530mm. Hương Sơn có 3 tháng khô (từ tháng 12 năm trước đến tháng 3 năm sau).
Tuy nhiên, mùa khô ở Hương Sơn cũng không khắc nghiệt. Gió mùa Đông Bắc từ
tháng 2 bị biến tính mang hơi ẩm của biển đã tạo nên mưa phùn với số ngày mưa
phùn khoảng hơn 20 ngày trong toàn mùa khô. Như vậy, khí hậu ở Hương Sơn thuộc
loại nóng ẩm, là điều kiện thuận lợi cho kiểu thảm thực vật rừng kín thường xanh cây
lá rộng mưa mùa nhiệt đới phát triển. Tuy nhiên, lượng mưa cao cũng tạo nên những
Luận văn Thạc sĩ khoa học
12
tác động xói mòn, rửa trôi, sập lở trên vùng núi đá vôi của Hương Sơn, là một trong
những nguyên nhân tạo nên các hang động và nhũ đá rất đẹp [11].
1.2.1.5. Đặc điểm thủy văn
Vùng nghiên cứu có sông Đáy, sông Thanh Hà chảy qua với chiều dài 3,5km
là điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển, giao lưu hàng hóa với các địa phương
địa phương, đất ở Hương Sơn có 2 nguồn gốc chính đó là: các đất phát triển từ đá mẹ
là đá vôi và đất phát triển từ phù sa sông Đáy. Các quá trình ảnh hưởng trực tiếp lên
bề mặt thổ nhưỡng hiện tại là quá trình rửa trôi, xói mòn, sụt lở, tích tụ ở núi đá vôi
và quá trình bồi đắp của sông [21].
Mang đặc điểm chung của đất miền Bắc Việt Nam, các sản phẩm phong hóa
của đá vôi thông qua quá trình feralit tạo nên đất feralit đỏ trên núi đá vôi mà có tác
giả gọi là terarossa, cộng với quá trình ngoại sinh đã tạo nên ở Hương Sơn một tập
hợp sác dạng thổ nhưỡng sau:
- Đất đen mùn trên núi đá vôi bị xói mòn trơ đá gốc;
- Đất feralit phát triển trên đá vôi;
- Đất feralit đỏ phát triển trên đá vôi lẫn đá dăm tàn tích;
- Đất phù sa không được bồi thường xuyên;
- Đất phù sa được bồi hàng năm;
- Đất phù sa bị glây hóa;
Các loại đất trên phân bố ở 2 dạng địa hình: núi và đồng bằng. Sự canh tác đã
góp phần tạo ra nhiều đặc tính riêng biệt của từng loại đất, đồng nghĩa với việc tạo
nên sự đa dạng các cảnh quan địa lý ở khu vực Hương Sơn [21].
1.2.1.7. Hệ thực vật
Hệ thực vật ở khu vực Hương Sơn phân bố trong 8 kiểu hệ sinh thái:
- Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi;
- Hệ sinh thái rừng trên núi đất;
- Hệ sinh thái trảng cây bụi, tre nứa;
Luận văn Thạc sĩ khoa học
14
- Hệ sinh thái trảng cỏ;
- Hệ sinh thái nông nghiệp;
- Hệ sinh thái khu dân cư;
- Hệ sinh thái thủy sinh;
- Hệ sinh thái rừng trồng;
quanh tương đối thuận lợi như: Đường quốc lộ 22 từ nội thành Hà Nội vào Mỹ Đức
với vùng núi Kim Bôi của tỉnh Hòa Bình và nhiều tỉnh thành khác. Giải quyết các vấn
đề về giao thông vận tải là một yêu cầu quan trọng phải đặt ra trong mục tiêu thu hút
khách du lịch vào các điểm du lịch của các tổ chức kinh doanh du lịch. Toàn xã có
5,45km tỉnh lộ; 12,63km đường liên thôn; 24,32km đường ngõ xóm và 43,93km
đường trục nội đồng [24].
- Về nhà ở: Theo số liệu thống kê về nhà ở của xã năm 2010, toàn xã có 1.823 nhà
kiên cố chiếm 40,75%. Trong đó: có 173 nhà từ 3 – 5 tầng, 1.650 nhà từ 1 – 2 tầng,
còn lại là nhà cấp 4 [24].
- Sản xuất nông nghiệp: Người dân Hương Sơn chủ yếu sống bằng sản xuất nông
nghiệp, có 3549 hộ gia đình làm nông nghiệp (chiếm 78,43%). Tổng diện tích đất tự
nhiên của xã Hương Sơn là 4.289,73ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là
704,87ha, đất trồng lúa nước là 569,88ha, năng xuất lúa đạt 5,476 tấn/ha, bình quân
lương thực đạt 305kg/người/năm. Hương Sơn là vùng có số lượng đàn gia súc, gia
cầm phát triển cả về số lượng và chủng loại. Xã có tổng đàn gia súc, gia cầm lớn với
đàn gia cầm 51.000 con, đàn lợn 10.600 con, đàn trâu, bò, dê 1.500 con. Xã thực hiện
chuyển đổi 511,57ha ruộng trũng, cấy lúa kém hiệu quả sang mô hình nuôi trồng thủy
sản - chăn nuôi kết hợp. Ngay từ đầu năm, được sự quan tâm của thành phố, xã đã
đầu tư 18,5 tỷ đồng cải tạo, nâng cấp đường giao thông nội đồng, đầu tư cho công tác
bảo vệ thực vật, phòng trừ dịch hại. Từ nhiều năm nay, bà con nông dân chăn nuôi
chủ yếu trong khu dân cư. Điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới môi trường. Trong
việc chuyển chăn nuôi ra xa khu dân cư, tập trung cải tạo các xứ đồng sâu, đồng trũng
Luận văn Thạc sĩ khoa học
16
cấy lúa kém hiệu quả sang mô hình sản xuất đa canh, xã đã đề nghị thành phố hỗ trợ
kinh phí xây dựng khu lò giết mổ tập trung loại vừa và nhỏ; thực hiện đề án nuôi
trồng thủy sản và chăn nuôi khoảng 400ha tại khu vực cấy lúa kém hiệu quả và lòng
hồ Hương Tích kết hợp với du lịch sinh thái; xử lý triệt để nước thải chăn nuôi, sinh
hoạt trong khu dân cư [24].
Tỷ lệ dân số đóng bảo hiểm y tế đạt 35%. Y tế là vấn đề quan trọng, không chỉ đối
với người dân địa phương mà cả đối với khách du lịch. Việc trang bị cho các cơ sở y
tế có đủ khả năng chăm sóc sức khỏe cộng đồng là rất cần thiết [24].
1.3. TỔNG QUAN MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHU HỆ ĐỘNG
VẬT CÓ XƢƠNG SỐNG TRÊN CẠN TẠI XÃ HƢƠNG SƠN, HUYỆN MỸ
ĐỨC, HÀ NỘI
Điều tra, nghiên cứu về khu hệ động vật ở Hương Sơn từ lâu đã được nhiều
nhà khoa học quan tâm với một số các công trình tiêu biểu như:
Năm 1991, trong báo cáo “Hương Sơn, cảnh quan thiên nhiên và tài nguyên
sinh vật” do các nhà khoa học thuộc Viện Khoa học Việt Nam thực hiện đã ghi nhận
ở Hương Sơn có 88 loài chim thuộc 37 họ và 15 bộ, 35 loài bò sát và ếch nhái thuộc
16 họ và 3 bộ, 32 loài thú thuộc 17 họ và 7 bộ. Đánh giá chung về khu hệ động vật
Hương Sơn trong báo cáo này là nghèo nàn về số loài và số lượng cá thể của loài. Lý
do là khu vực nghiên cứu có diện tích nhỏ hẹp, lại là sinh cảnh của một vùng núi đá
bị cách biệt, bị bao bọc bởi khu vực dân cư. Trong báo cáo này đã ghi nhận được một
số loài quý hiếm thuộc các lớp bò sát, lớp chim và lớp thú [25]:
Lớp bò sát: Có 10 loài quý hiếm được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam gồm: trăn
đất (Python molurus), tắc kè (Gecko gecko), ô rô vẩy (Xcanthsaura
lepidogaster), kỳ đà nước (Varanus salvator), rắn ráo thường (Ptyas korros),
rắn ráo trâu (Ptyas nucosus), rắn sọc (Elapha moellen), rắn cạp nong
Luận văn Thạc sĩ khoa học
18
(Bungarus fasciatus), rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah), rắn hổ mang (Naja
atra) [25].
Lớp chim: Có một loài chim quý hiếm được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam là gà
lôi trắng (Lophurx nycthemerx), số lượng cá thể của loài còn khá phổ biến, dễ
bắt gặp trong các thung lũng khi đi điều tra, khảo sát [25].
Lớp thú: Có 12 loài quý hiếm được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam, gồm: báo
hoa mai (Panthera pardus), báo gấm (Neofelis nebulora), báo lửa (Felis