ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Ngô Xuân Nam NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC ĐỘNG VẬT
KHÔNG XƢƠNG SỐNG Ở NƢỚC TẠI KHU BẢO TỒN
THIÊN NHIÊN VÀ DI TÍCH VĨNH CỬU,
TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành: Thủy sinh vật học
Mã số: 60 42 50 01
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Luận án
Động vật không xương sống (ĐVKXS) nước ngọt là nhóm sinh vật rất
phong phú và đóng vai trò rất quan trọng trong các hệ sinh thái nước ngọt và
trong đời sống của con người. Tại các thủy vực nước ngọt, ĐVKXS tham gia
vào các quá trình chuyển hóa vật chất và năng lượng, là mắt xích quan trọng
trong mạng lưới thức ăn của thủy vực và tạo sự cân bằng cho các thủy vực.
Ngoài ra, nhiều loài còn là sinh vật chỉ thị để đánh giá chất lượng nước ở các
thủy vực.
Việc điều tra, nghiên cứu, khai thác và sử dụng hợp lý, phát triển bền
vững nguồn lợi ĐVKXS ở các thủy vực là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với
con người cho hôm nay cũng như trong tương lai. Ở Việt Nam, trong những
năm gần đây, nhiều nhà khoa học đã quan tâm nghiên cứu ĐVKXS ở nước tại
các VQG và khu bảo tồn thiên nhiên.
Khu Bảo tồn Thiên nhiên và di tích Vĩnh Cửu thuộc địa phận tỉnh Đồng
Nai. Đặc trưng nổi bật về rừng tự nhiên trong khu vực, đó là hệ sinh thái rừng
cây họ Dầu trên vùng địa hình đồi, bán bình nguyên. Đây còn là nơi cư trú của
nhiều loài động vật rừng, trong đó có nhiều loài được xếp là quý hiếm, có nguy
cơ tuyệt chủng đã được ghi vào Sách Đỏ Việt Nam và Sách Đỏ IUCN. Khu hệ
động, thực vật ở đây có quan hệ mật thiết với khu hệ động, thực vật rừng của
môi trường.
- Đề xuất định hướng bảo tồn và và phát triển bền vững ĐDSH ĐVKXS ở
nước khu vực nghiên cứu.
3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá tổng quan về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội liên
quan đến khu vực nghiên cứu.
- Nghiên cứu đặc điểm và cấu trúc thành phần loài ĐVKXS ở nước tại các
thủy vực nghiên cứu.
3
- Nghiên cứu biến động thành phần loài ĐVKXS ở nước theo mùa và các
dạng thủy vực.
- Nghiên cứu biến động mật độ ĐVKXS ở nước theo mùa và các dạng thủy
vực.
- Đánh giá hiện trạng ĐDSH ĐVKXS ở nước tại các thủy vực nghiên cứu.
- Đánh giá tính tương đồng giữa các điểm thu mẫu và mối tương quan giữa
các nhóm ĐVKXS với các yếu tố môi trường.
- Nghiên cứu đề xuất các định hướng bảo tồn và phát triển ĐDSH ĐVKXS
ở nước tại khu vự nghiên cứu.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: ĐVKXS ở nước, bao gồm ĐVN và ĐVĐ, thủy vực
nước đứng và thủy vực nước chảy tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu,
tỉnh Đồng Nai.
- Phạm vi nghiên cứu: Công tác khảo sát thực địa, thu thập vật mẫu được tiến
hành trong hai giai đoạn từ 2003-2005 và 2008-2009 gồm 8 đợt thu mẫu, mỗi đợt từ
15-20 ngày, đại diện cho 2 mùa: mùa mưa và mùa khô. Thực hiện tại 12 thủy vực với
20 điểm thu mẫu thuộc Khu Bảo tồn Thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng
Nai.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Cung cấp một cách có hệ thống và đầy đủ nhất về thành phần loài, phân bố,
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐVKXS NƢỚC NGỌT TRÊN THẾ
GIỚI
Thủy sinh học bao gồm thủy sinh học biển và thủy sinh học nước ngọt.
Trong các tài liệu để lại của thời cổ Ai Cập, cổ Trung Quốc cũng như cổ La Mã,
Hy Lạp để lại, đã thấy có những tư liệu về đời sống thủy sinh vật được con
người sử dụng. Tuy nhiên, thủy sinh học chỉ thực sự trở thành khoa học từ giữa
thế kỷ XIX.
Giai đoạn đầu của hoạt động nghiên cứu thủy sinh học nước ngọt thực sự
chỉ bắt đầu từ đầu thế kỷ XIX với những nghiên cứu về động vật giáp xác nhỏ
trong nước hồ ở Đức, rồi đến những nghiên cứu ở Bắc Mỹ, Thụy Điển, Đan
Mạch. Giai đoạn thứ hai của sự phát triển thủy sinh học nước ngọt bắt đầu từ
đầu thế kỷ XX, bắt đầu đi vào nghiên cứu các vấn đề lý luận về chu trình vật
chất trong thủy vực với sự tham gia của thủy sinh vật, năng suất sinh học của
thủy vực, cơ chế, mối quan hệ và hệ quả của các quá trình chuyển hóa vật chất
và năng lượng trong thủy vực – được coi như một hệ sinh thái ở nước.
Vào những năm cuối thế kỷ XX, trong khi phần lớn các nhóm ĐVKXS
nước ngọt đã được quan tâm nghiên cứu như Thân mềm chân bụng
(Gastropoda), Thân mềm hai mảnh vỏ (Bivalvia), Giáp xác (Crustacea)… thì
nhóm Côn trùng thủy sinh (Insecta) vẫn còn là đối tượng ít được chú ý đến.
Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã đi sâu vào nghiên cứu nhóm
này. Đặc biệt, từ năm 2002 đến năm 2008, dự án “Đánh giá ĐDSH động vật
nước ngọt” (FADA)” được thực hiện bởi 163 nhà khoa học trên thế giới như:
Darren C. J. Y., Peter K. L. Ng., et al. (Crustacea: Decapoda: Brachyura), De
Grave S., Cai Y., Anker A. (Crustacea: Decapoda: Caridea), De Moor F. C.,
Ivanov V. D. (Insecta: Trichoptera), Rudiger W., et al. (Insecta: Diptera),
Vincent J. K. et al. (Insecta: Odonata), Helen M. Barber-James et al. (Insecta:
Ephemeroptera), Polhemus J. T., Polhemus D. A. (Insecta: Heteroptera) với
6
1.3. ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ YẾU TỐ MÔI TRƢỜNG ĐẾN SỰ
SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA ĐVKXS
Đặc điểm cơ bản nhất của thủy sinh vật là chúng sống trong môi trường
nước. Điều kiện sống của thủy vực ngoài ảnh hưởng đến đặc trưng thành phần
loài ĐVKXS, nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhóm động vật này
thông qua tác động của các yếu tố môi trường. Đến nay, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về ảnh hưởng của các yếu tố môi trường lên sự sinh trưởng và phát
triển của ĐVKXS. Trong đó, có thể kể đến các công trình nghiên cứu về thức
ăn, nhiệt độ, độ pH, muối và các chất hòa tan, độ trong Nhìn chung, các kết
quả nghiên cứu đã đưa ra nhận định các yếu tố này đều có ảnh hưởng trực tiếp
hoặc gián tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển và phân bố của ĐVKXS ở nước.
Chƣơng 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. THỜI GIAN VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.1.1. Thời gian nghiên cứu
Luận án được thực hiện từ năm 2010 đến năm 2013. Tiến hành phân tích
bổ sung vật mẫu, tính toán, xử lý số liệu. Đánh giá tính tương đồng giữa các
điểm thu mẫu, phân tích mối tương quan giữa các nhóm ĐVKXS với môi
trường. Xác định các tác động ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và đa dạng
sinh học ĐVKXS ở nước và Đề xuất các định hướng bảo tồn và phát triển
ĐDSH ĐVKXS ở nước.
Công tác khảo sát thực địa, thu thập vật mẫu được tiến hành trong hai giai
đoạn từ 2003-2005 và 2008-2010 gồm 8 đợt thu mẫu, mỗi đợt từ 15-20 ngày,
đại diện cho 2 mùa: mùa mưa và mùa khô (bảng 2.1).
Bảng 2.1. Kế hoạch khảo sát thực địa, thu thập vật mẫu
Đợt
Tháng/năm
Mùa
Đợt
Tháng/năm
hiệu từ S1 đến S20, cụ thể như sau: (hình 2.1)
Hình 2.1. Sơ đồ các điểm thu mẫu (Chú thích : Điểm thu mẫu)
- Thủy vực nước chảy:
+ Sông Mã Đà: điểm S1, S2, S3
+ Suối Đakin: điểm S4
9
+ Suối Ràng: điểm S5
+ Suối Kốp: điểm S6
+ Suối Sà Mách: điểm S7
+ Suối Sai: điểm S8, S9, S10
+ Suối Đá: điểm S11
+ Suối Lợp: điểm S18
+ Suối Be17: điểm S19
+ Suối Nứa: điểm S20
- Thủy vực nước đứng:
+ Hồ Bà Hào: điểm S12, S13, S14
+ Đầm Sen: điểm S15, S16, S17
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2.1. Thu thập vật mẫu ngoài tự nhiên
Mẫu định tính ĐVN (Zooplankton) được thu bằng lưới Plankton số 52
(số mắt lưới 52 lỗ/cm). Tại mỗi điểm thu mẫu, dùng lưới chao đi, chao lại
nhiều lần trên mặt nước. Đối với mẫu định lượng, dùng phương pháp lọc 10 lít
qua lưới Plankton số 57 (số mắt lưới 57 lỗ/cm) thu lấy 50 ml. Vật mẫu sau khi
thu được đựng trong lọ có dung tích 0,2 lít và được định hình bằng cồn 90%.
Động vật đáy (Zoobenthos) được thu thập bằng vợt ao (Pond net). Khi
thu thập vật mẫu, dùng vợt đưa qua các đám cỏ, bụi cây nhỏ ven bờ hoặc các
đám lá trôi nổi trên mặt thủy vực. Đối với tất cả các loại côn trùng sống trên
Chuẩn tên loài theo Systema Naturae 2000.
2.2.3. Ứng dụng phần mềm Primer v.6
2.2.3.1. Tính các chỉ số đa dạng sinh học (H’, Margalef)
2.2.3.2. Phân tích tính tương đồng (Similarity)
2.2.3.3. Phân tích BEST (BIO - EVN)
2.2.4. Xử lý số liệu
Chƣơng 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. SƠ LƢỢC VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ
HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1.1. Sơ lƣợc về đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
Nội dung phần này trình bày tổng quan về vị trí địa lý, địa hình, khí hậu
thời tiết, thủy văn, thổ nhưỡng và đặc điểm kinh tế xã hội tại khu vực nghiên
cứu.
11
3.1.2. Rừng và đa dạng sinh học
Đi sâu phân tích đặc điểm tài nguyên động, thực vật tại khu vực nghiên
cứu, tổng hợp, kế thừa các số liệu đã công bố về khu vực nghiên cứu. Tổng hợp
số liệu về các di tích lịch sử qua các thời kỳ, gắn với khu vực nghiên cứu.
3.1.3. Sơ lƣợc về một số thủy vực tại khu vực nghiên cứu
Thống kê và mô tả đặc điểm các thủy vực tại khu vực nghiên cứu. Làm rõ
sự biến động thủy lý hóa học theo mùa và theo thời gian. Cung cấp các dẫn liệu
về môi trường tại khu vực nghiên cứu.
3.2. ĐẶC ĐIỂM KHU HỆ ĐVKXS Ở NƢỚC TẠI CÁC THỦY VỰC
NGHIÊN CỨU
3.2.1. Thành phần loài và cấu trúc khu hệ ĐVKXS
Kết quả thu thập và phân tích vật mẫu trong thời gian nghiên cứu đã thu
được 308 loài ĐVKXS ở nước thuộc 107 họ, 26 bộ, 9 lớp (Monogononta,
Gastropoda, Bivalvia, Crustacea, Insecta, Arachnida, Oligochaeta và
78,25
Annelida
2
2
3
8
2,60
Nemathelminthes
1
1
1
1
0,32
Cộng
9
26
107
308
100,00
Trong đó Zooplankton
2
5
20
66
Về bậc giống, Arthropoda chiếm ưu thế với 25 giống (chiếm 59,5%) còn
Rotatoria với 17 giống (chiếm 40,5%). Giống có số loài nhiều nhất là
Brachionus và Lecane mỗi giống có 7 loài (cùng chiếm 10,6%), tiếp đến là
Trichocerca và Keratella mỗi giống có 5 loài (cùng chiếm 7,6%),
Diaphanosoma (3 loài), Ploesoma và Thermocyclops (2 loài), 35 giống còn lại
chỉ có 1 loài.
Về bậc loài, Rotatoria chiếm ưu thế với 38 loài (chiếm 57,6%),
Arthropoda với 28 loài (chiếm 42,4%). (phụ lục 3) 13
0
5
10
15
20
25
30
35
40
Rotatoria
Arthropoda
11
9
17
25
38
28
Số lượng
Họ
88,02
Annelida
2
2
3
8
3,31
Nemathelminthes
1
1
1
1
0,41
Cộng
8
21
87
242
100,00
Trong tổng số loài thu được, số lượng loài thuộc ngành Arthropoda cao
nhất so với các ngành khác, bao gồm 213 loài (chiếm 88,02%) thuộc 75 họ, 12
bộ, 3 lớp. Tiếp theo là ngành Mollusca với 20 loài (chiếm 8,26%), thuộc 8 họ, 6
bộ, 2 lớp. Ngành Annelida có 8 loài (chiếm 3,31%), thuộc 3 họ, 2 bộ, 2 lớp và
14
thấp nhất là ngành Nemathelminthes chỉ có 1 loài (chiếm 0,41%) thuộc 1 họ, 1
bộ, 1 lớp.
Ngoài các nhóm ĐVKXS ở nước đã phân tích ở trên, chúng tôi còn thu
được đại diện thuộc Arachnida, Oligochaeta, Hirudinea và Nematoda. Các
nhóm này kém đa dạng, số lượng loài chỉ dao động từ 1 đến 5 loài. Tỷ lệ phần
thuộc 87 họ, 21 bộ và ĐVN có 66 loài (chiếm 21,43%) thuộc 20 họ, 5 bộ.
Lớp Côn trùng (Insecta) chiếm ưu thế về số lượng loài với 196 loài
(chiếm 63,64%). Tiếp theo là lớp Giáp xác (Crustacae) có 44 loài (chiếm
14,28%), trong đó có 28 loài thuộc nhóm động vật nổi (chiếm 9,09%) và 16 loài
thuộc nhóm động vật đáy (chiếm 5,19%); lớp Monogononta có 38 loài (chiếm
12,34%); lớp Chân bụng có 11 loài (chiếm 3,57%), lớp Hai mảnh vỏ 9 loài
(chiếm 2,92%), lớp Đỉa có 2 loài (chiếm 0,65%). Nhóm có số lượng loài thấp
nhất lớp Nhện (Arachnida) và Giun tròn (Nematoda), mỗi nhóm chỉ có 1 loài
(0,32%) (Hình 3.12).
Hình 3.12. Tỉ lệ % thành phần loài ĐVKXS ở nƣớc
tại các thủy vực nghiên cứu vào mùa khô
16
3.2.2.2. Mùa mưa
Vào mùa mưa, tại các thủy vực nghiên cứu đã xác định được 304
ĐVKXS loài thuộc 106 họ, 26 bộ. Trong đó, ĐVĐ chiếm ưu thế với 241 loài
(chiếm 79,28%) loài thuộc 86 họ, 21 bộ và ĐVN có 63 loài (chiếm 20,72%)
thuộc 20 họ và 5 bộ.
Về thành phần loài, lớp Côn trùng (Insecta) vẫn chiếm ưu thế về số lượng
loài so với các nhóm khác với 195 loài (chiếm 64,14%). Tiếp theo là lớp Giáp
xác (Crustacea) có 42 loài (chiếm 13,82%), trong đó có 26 loài thuộc nhóm
động vật nổi (chiếm 8,55%) và 16 loài thuộc nhóm động vật đáy (chiếm
5,26%). Lớp Monogononta có 37 loài (chiếm 12,17%). Tiếp đến là lớp
Gastropoda có 11 loài (chiếm 3,62%), Bivalvia 9 loài (chiếm 2,69%). Số lượng
loài các nhóm còn lại dao động từ 1 – 6 loài, thấp nhất là các lớp Nhện
(Arachnida), lớp Giun tròn (Nematoda), có 1 loài (0,33%). Kết quả được trình
bày tại hình 3.14.
Hình 3.14. Tỉ lệ % thành phần loài ĐVKXS ở nƣớc
triển. Trong khi đó, với đặc điểm dòng chảy lớn và mạnh, nhất là vào mùa mưa,
18
sinh cảnh tại thủy vực nước chảy không thích hợp với đời sống di động bị động
của các nhóm ĐVN (Hình 3.16).
9.06%
6.62%
3.83%
3.14%
5.57%
68.29%
0.35%
2.09%
0.70%
0.35%
Rotatoria: Monogononta
Arthropoda: Crustacea (Zooplankton)
Mollusca: Gastropoda
Mollusca: Bivalvia
Arthropoda: Crustacea (Zoobenthos)
Arthropoda: Insecta
Arthropoda: Arachnida
Annelida: Oligochaeta
Annelida: Hirudinea
Nemathelminthes: Nematoda
Hình 3.16. Tỉ lệ thành phần loài ĐVKXS ở nƣớc tại các thủy vực nƣớc
chảy ở khu vực nghiên cứu
Tại các thủy vực nước đứng, thành phần loài ĐVĐ vẫn tập chung chủ yếu
ở nhóm côn trùng nước Insecta với 189 loài (chiếm 64,95%), ít hơn 7 loài so
Hình 3.17. Tỉ lệ thành phần loài ĐVKXS ở nƣớc tại các thủy vực nƣớc
đứng ở khu vực nghiên cứu
Như vậy, kết quả nghiên cứu thành phần ĐVKXS ở thủy vực nước chảy
và thủy vực nước đứng có sự khác biệt về cấu trúc thành phần loài. Nhìn chung,
số loài tại thủy vực nước chảy thu được ít hơn so với thủy vực nước đứng. Tuy
nhiên, thành phần loài ĐVĐ và ĐVN có sự biến đổi khác nhau. Đối với ĐVN,
số lượng loài ở thủy vực nước chảy ít hơn so với thủy vực nước đứng. Ngược
lại, ĐVĐ có số lượng loài ở thủy vực nước chảy nhiều hơn so với thủy vực
nước đứng.
3.2.4. Biến động mật độ ĐVKXS theo mùa và các dạng thủy vực
Mật độ ĐVN và ĐVĐ có sự khác biệt theo mùa và dạng thủy vực. Vào
mùa mưa, mật độ ĐVN thấp hơn so với mùa khô với 14.914 cá thể/m
3
so với
18.360 cá thể/m
3
. Ngược lại, mật độ ĐVĐ mùa mưa lại cao hơn so với mùa
20
khô. Mật độ ĐVĐ trung bình mùa mưa và mùa khô lần lượt là 82 cá thể/m
2
và
77 cá thể/m
2
.
Giữa 2 dạng thủy vực nước chảy và nước đứng cũng có sự khác biệt lớn
về mật độ ĐVKXS. Mật độ ĐVN tại thủy vực nước chảy thấp hơn nhiều so với
thủy vực nước đứng, nhưng mật độ ĐVĐ ngược lại. Mật độ ĐVN ở thủy vực
nước chảy và nước đứng lần lượt là 8.748 cá thể/m
1,41
1,16
3,10
3,15
Đợt 2
0,81
0,77
2,65
2,95
Đợt 3
2,14
2,06
3,83
2,73
Đợt 4
1,04
0,92
3,12
2,37
Đợt 5
1,05
0,83
2,83
1,80
Đợt 6
2,55
2,13
2,68
2,90
Đợt 7
1-3 (đa dạng sinh học khá) cao nhất là 2,95 ở đợt 7 và thấp nhất là 1,79 vào đợt
2.
Bảng 3.12. Chỉ số d và H’ ĐVĐ tại các dạng thủy vực
theo các đợt nghiên cứu
Đợt thu mẫu
Thủy vực nƣớc chảy
Thủy vực nƣớc đứng
d
H'
d
H'
Đợt 1
2.14
1.96
1.65
1.52
Đợt 2
2.58
1.92
2.13
1.47
Đợt 3
2.39
2.31
1.90
2.02
Đợt 4
3.14
2.71
1.72
nước đứnglà 2,41 và 2,14, của thủy vực nước chảy là 2,82 và 2,38.
Tại các thủy vực nước chảy, giá trị chỉ số d cao nhất là 4,03 ở đợt 7, thấp
nhất là 2,14 ở đợt 1. Các giá trị d trong khoảng 1,6-2,5 (tính đa dạng tương đối
tốt) ở các đợt 1, 3, 5; trong khoảng 2,6 -3,5 (tính đa dạng phong phú) ở các đợt
2, 4, 6, 8 và có giá trị >3,5 (tính đa dạng rất phong phú) tại đợt 7. Chỉ số H’ cao
nhất là 3,01 (đa dạng sinh học tốt và rất tốt) ở đợt 7, các đợt còn lại, giá trị H’
đều trong khoảng từ 1-3 (đa dạng sinh học khá).
Tại các thủy vực nước đứng, giá trị chỉ số d và H’ đều cao nhất ở đợt 7,
tương ứng với các giá trị 3,15 (tính đa dạng phong phú) và 2,78 (đa dạng sinh
học khá). Phần lớn các giá trị d của các đợt khác đều trong khoảng 1,6-25 (tính
đa dạng tương đối tốt) và tất cả các giá trị chỉ số H’trong khoảng 1-3 (đa dạng
sinh học khá).
Từ các kết quả nghiên cứu trên cho thấy, chỉ số d và H’ động vật đáy vào
mùa mưa thường thấp hơn so với mùa khô, của thủy vực nước chảy cao hơn
thủy vực nước đứng.
3.3. ĐÁNH GIÁ TÍNH TƢƠNG ĐỒNG GIỮA CÁC ĐIỂM THU MẪU VÀ
MỐI TƢƠNG QUAN GIỮA CÁC NHÓM ĐVKXS VỚI CÁC YẾU TỐ
MÔI TRƢỜNG
3.3.1. Tính tƣơng đồng giữa các điểm thu mẫu và mối tƣơng quan giữa
ĐVN với các yếu tố môi trƣờng vào mùa mƣa
Kết quả phân tích BIO-ENV bằng phần mềm primer v.6 cho thấy tổ hợp
yếu tố: nhiệt độ và độ đục có ý nghĩa quan trọng hơn cả đối với ĐVN vào mùa
mưa. Hệ số tương quan Rho của tổ hợp này 0.398 và mức ý nghĩa p = 0,001.
3.3.2. Tính tƣơng đồng giữa các điểm thu mẫu và mối tƣơng quan giữa
ĐVN với các yếu tố môi trƣờng vào mùa khô
Kết quả phân tích BIO-ENV bằng phần mềm primer v.6 cho thấy tổ hợp
23
yếu tố: nhiệt độ và TDS có ý nghĩa quan trọng hơn cả đối với ĐVN vào mùa
khô. Hệ số tương quan Rho cao nhất giữa nhiệt độ và TDS với thành phần loài