BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIIỆP
************
TÔ BÁ THANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG
SINH HỌC DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ MÃ ĐÀ
THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ DI TÍCH
VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội – 2009
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIIỆP
***********
TÔ BÁ THANH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO TỒN ĐA DẠNG
SINH HỌC DỰA TRÊN CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ MÃ ĐÀ
THUỘC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VÀ DI TÍCH
VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
Chuyên ngành Lâm học
Mã số 60.62.60
giúp đỡ của PGS.TS Vương Văn Quỳnh, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt
nghiệp cao học "Nghiên cứu một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có
người dân tham gia tại xã Mã Đà thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích
Vĩnh Cửu, Đồng Nai".
Hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, trước hết tôi xin chân thành cảm
ơn các thầy cô giáo trường Đại học Lâm nghiệp Hà Nội và trường Đại học
Nông Lâm TP.Hồ Chí Minh trong những năm qua đã cung cấp cho bản thân
tôi nhiều kiến thức về tài nguyên rừng và môi trường. Đặc biệt, xin được cảm
ơn PGS.TS Vương Văn Quỳnh – người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài này.
Nhân dịp này, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban quản lý
Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu, các cán bộ và kỹ sư đang làm việc tại Phòng Khoa
học và kỹ thuật Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu, UBND xã Mã Đà, cùng toàn thể
bà con nhân dân các ấp 2, 3, 4, 5, 6 của xã Mã Đà.
Cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến gia đình và người thân,
những người đã bên cạnh tôi và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện
đề tài và cùng vì sự nghiệp lâu dài của đại gia đình.
Rất mong nhận được ý kiến đóng góp quí báu của các thầy cô giáo, các
nhà khoa học và bạn bè đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Đồng Nai, tháng 4 năm 2009
TÔ BÁ THANH
ii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn ..........................................................................................................i
Mục lục...............................................................................................................ii
Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Thực trạng tài nguyên ĐDSH và quản lý tài nguyên ĐDSH ở KBT........29
4.1.1 Thực trạng tài nguyên ĐDSH của KBT......................................29
4.1.2. Thực trạng công tác quản lý tài nguyên ĐDSH..........................34
4.2. Đặc điểm hoạt động cộng đồng liên quan đến tài nguyên ĐDSH
ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu ...........................................................................38
4.2.1. Đặc điểm cộng đồng liên quan đến quản lý tài nguyên ĐDSH ..38
4.2.2. Hoạt động của cộng đồng địa phương liên quan đến quản lý
tài nguyên đa dạng sinh học và tài nguyên rừng nói chung.............................42
4.3. Những yếu tố thúc đẩy hoặc cản trở cộng đồng tham gia vào
quản lý tài nguyên ĐDSH ở Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu ................................47
4.3.1. Những yếu tố thúc đẩy cộng đồng tham gia quản lý
tài nguyên ĐDSH .............................................................................................47
4.3.1.1. Yếu tố kinh tế thuận lợi cho công tác bảo tồn .........................47
4.3.1.1. Yếu tố xã hội thuận lợi cho công tác bảo tồn...........................56
4.3.2. Những yếu tố cản trở cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên
ĐDSH .... ..........................................................................................................61
4.3.2.1. Yếu tố kinh tế cản trở công tác bảo tồn ...................................61
4.3.2.2. Yếu tố xã hội làm cản trở công tác bảo tồn .............................65
4.4. Tác động của cộng đồng đến tài nguyên ĐDSH.......................................69
4.4.1. Khai thác gỗ và các LSNG..........................................................70
4.4.2. Hoạt động phát nương làm rẫy và chăn thả gia súc ....................75
iv
4.5. Những giải pháp bảo tồn ĐDSH dựa vào cộng đồng ở KBT ...................76
4.5.1. Nhóm giải pháp kinh tế thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo tồn ..79
4.5.2. Nhóm giải pháp xã hội thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo tồn....84
4.5.3. Nhóm giải pháp kỹ thuật thúc đẩy hoạt động bảo tồn ................88
ĐDSH
Đa dạng sinh học
FAO
Tổ chức lương thực thực phẩm thế giới
KBT
Khu bảo tồn
IUCN
Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới
LSNG
Lâm sản ngoài gỗ
PCCCR
Phòng cháy chữa cháy rừng
PRA
Đánh giá nông thôn có người dân tham gia
QLBVR
vi
DANH SÁCH CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Hiện trạng sử dụng đất của Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu ................25
Bảng 4.1a: Diện tích quy hoạch các phân khu chức năng của KBT...............29
Bảng 4.1b: Diện tích phân theo hiện trạng sử dụng đất của KBT............................30
Bảng 4.1c: Sự phân bố của taxon trong các ngành thực vật ở KBT ...............31
Bảng 4.1d: Phân chia các loài thực vật theo giá trị sử dụng ở KBT...............32
Bảng 4.1e: Thành phần loài động vật có xương sống trên cạn tại KBT .........33
Bảng 4.2: Tổ chức CBCNV của Khu BTTN&DT Vĩnh Cửu .........................34
Bảng 4.3: Số vụ vi phạm Luật BV và PTR giai đoạn 2005-2008...................35
Bảng 4.4: Tình hình xây dựng phát triển rừng giai đoạn 2005-2008..............36
Bảng 4.5: Thu nhập trung bình của người dân tương ứng với
tình trạng khai thác sản phẩm ..........................................................................39
Bảng 4.6a: Tình hình tham gia các tổ chức quần chúng hộ gia đình..............40
Bảng 4.6b: Nhận thức về vai trò ra quyết định của các cấp chính quyền
và tổ chức cộng đồng đối với hoạt động quản lý tài nguyên rừng...................42
Bảng 4.7: Cơ cấu các loại diện tích cây trồng bình quân của hộ gia đình ......43
Bảng 4.8a: Sử dụng đất giao khoán vào trồng cây lâm nghiệp.......................45
Bảng 4.8b: Sử dụng đất cho canh tác nông nghiệp hoặc cây ngắn ngày ........45
Bảng 4.9: Thu nhập từ TNR so với tổng thu nhập của
tất cả các hộ đã điều tra ....................................................................................48
Bảng 4.10: Mức độ tương quan giữa các nguồn thu nhập của hộ...................50
Bảng 4.11: So sánh tổng thu nhập với thu nhập sản phẩm rừng.....................50
Bảng 4.12: Thu nhập từ tài nguyên rừng so với tổng thu nhập
của các hộ gia đình có thu nhập từ sản phẩm rừng ..........................................51
Bảng 4.13a: Nghề nghiệp hiện tại của các hộ gia đình điều tra......................53
Bảng 4.13b: Nghề nghiệp mong muốn trong tương lai của các hộ ................54
Hình 2.1: Các bước thực hiện quá trình nghiên cứu .......................................17
Hình 4.1: Tỷ lệ diện tích (%) các loại đất sử dụng của hộ gia đình................44
Hình 4.2: Cơ cấu thu nhập từ các nguồn chính của hộ gia đình .....................49
Hình 4.3: Cơ cấu thu nhập của hộ gia đình có thu nhập từ rừng ....................51
Hình 4.4: So sánh tỷ lệ hộ tham gia vào khai thác sản phẩm từ rừng.............70
Hình 4.5a: Tương quan và hồi quy giữa đầu tư và thu nhập ở cây Điều........81
Hình 4.5b: Tương quan và hồi quy giữa đầu tư và thu nhập ở cây Xoài........82
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Tiếng Việt
1. Lê Quí An, 2000. Quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các
khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia. Báo cáo hội thảo “Vùng đệm các khu
bảo tồn thiên nhiên Việt Nam”, VNRP – VU – ALA/VIE/94/24.
2. Hoàng Hữu Cải, 2001. Quyền sử dụng tài sản công: các phương thức và điểm
tiếp cận trong nghiên cứu Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng
đồng. Khoa Lâm nghiệp, Đại học Nông Lâm TP Hồ Chí Minh.
3. Hoàng Hữu Cải, 2001. Hội thảo quốc tế về xúc tiến Phát triển công nghệ có sự
tham gia ở Viện Quốc tế tái thiết nông thôn Philippines. Đại học Nông
Lâm Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh.
4. Nguyễn Xuân Cự và Đỗ Đình Sâm, 2003. Tài nguyên rừng. Nhà xuất bản Đại
học quốc gia Hà Nội.
5. Lê Trọng Cúc & T.Rambo, 1995. Một số vấn đề sinh thái nhăn văn ở Việt Nam.
Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
6. Bùi Việt Hải, 2005. Kết quả đánh giá tác động của dự án ETSP tại xã Thương
Nhật, huyện Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên-Huế. Tập san KHKT Nông Lâm
nghiệp, Đại học Nông Lâm TP.HCM, số 3.2005.
7. Bùi Việt Hải, 2007. Phương pháp quản lý tài nguyên dựa trên cộng đồng Nghiên cứu có sự tham gia. NXB Nông nghiệp, TP. Hồ Chí Minh.
8. Nguyễn Hoàng Nghĩa, 1999. Đa dạng sinh học và bảo tồn gen. Nhà xuất bản Nông
nghiệp, Hà Nội.
18. Nguyễn Nghĩa Thìn, 2000. Đa dạng sinh học và tài nguyên di truyền thực vật
rừng, NXB Đại học quốc gia Hà nội.
19. Nguyễn Bá Thụ, 1997. “Giải quyết vấn đề vùng đệm – một nhiệm vụ quan
trọng trong công tác bảo vệ khu bảo tồn”, Tạp chí lâm nghiệp, tháng 11, trang 38 39.
20. Võ Văn Thoan, 1997. Bài giảng cao học môn Lâm nghiệp xã hội. Tủ sách Đại
học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
21. Bộ Nông nghiệp & PTNT, 1998. Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham
gia trong họat động khuyến nông lâm. NXB Nông nghiệp, Hà Nội.
22. Chương trình hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội (SFSP), 2003. Phát triển công nghệ có
sự tham gia. Sổ tay hướng dẫn, Hà Nội.
23. Chương trình hỗ trợ Lâm nghiệp xã hội (SFSP), 2003. Khuyến nông khuyến
lâm, Bài giảng môn học, Hà Nội.
24. FAO, 1990. Khái niệm, phương pháp, công cụ phục vụ luận chứng, kiểm tra,
đánh giá có sự tham gia của quần chúng trong lâm nghiệp cộng đồng. Sổ
tay cẩm nang lâm nghiệp cộng đồng.
25. IDRC và IIRR, 2000. Các phương pháp tham gia trong quản lý tài nguyên ven
biển dựa vào cộng đồng. (Bản tiếng Việt do Trung tâm Nghiên cứu Tài
nguyên và Môi trường Đại học quốc gia Hà Nội dịch và giới thiệu). Nhà
xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội.
26. Ngân hàng thế giới và Chính phủ Việt Nam, 1996. Báo cáo dự án bảo tồn đa
dạng sinh học và phát triển nông thôn Việt Nam - Dự án Chư Mom Ray.
Hà Nội.
27. Nghị định 02/CP, ban hành ngày 15 tháng 1 năm 1994 của Chính phủ về giao
đất Lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng vào mục đích
Lâm nghiệp.
28. Nghị định 01/CP, ban hành ngày 4 tháng 1 năm 1995 của Chính phủ về giao
khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất Nông nghiệp, Lâm nghiệp và
Thuỷ sản trong các doanh nghiệp nhà nước.
chúng. ĐDSH có giá trị lớn đối với con người, là nguồn thức ăn, thuốc chữa
bệnh, cung cấp gỗ củi và các sản phẩm khác cho nhiều ngành kinh tế, là
nguồn giống vô tận cho sản xuất nông lâm nghiệp 13. ĐDSH là yếu tố quan
trọng đối với việc duy trì các quá trình sinh thái cơ bản, tạo ra và giữ vững
cân bằng sinh thái tự nhiên, tạo môi trường sống ổn định và bền vững cho con
người. Mặc dù giá trị của ĐDSH là rất lớn và không thể thay thế, nhưng đã và
đang bị suy thoái trên trái đất.
Khu bảo tồn thiên nhiên và di tích (BTTN&DT) Vĩnh Cửu được hình
thành trên cơ sở sát nhập diện tích của 3 lâm trường thuộc tỉnh Đồng Nai là
Mã Đà, Hiếu Liêm và Vĩnh An. Do những nguyên nhân lịch sử, trong khu
vực hiện có nhiều cụm dân cư phân bố đan xen giữa các khu rừng, ở đây
người dân sinh sống bằng sản xuất nông nghiệp và một phần sống dựa vào tài
nguyên rừng (TNR). Trong thời gian qua, những thay đổi của tự nhiên và xã
hội đã ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người dân nơi đây, đặc biệt là
những người dân sống phụ thuộc vào rừng. Để giải quyết nhu cầu cuộc sống
trong điều kiện kinh tế ngày càng khó khăn, cùng với nhận thức hạn chế, đã
đẩy một số người dân đến với những hành vi vi phạm như lấy cắp lâm sản,
săn bắt động vật rừng, phá rừng làm rẫy, đào ao nuôi trồng thuỷ sản..vv.. Đây
chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến TNR Mã Đà nói riêng và khu vực Vĩnh
Cửu nói chung ngày càng bị giảm sút.
Mặc dù trong những năm qua, các ngành chức năng đã rất cố gắng thực
hiện tốt nhiệm vụ được giao, song do nhiều nguyên nhân khác nhau, rừng ở
2
đây vẫn đang bị xâm hại. Hiện tượng chặt, đốt rừng để làm nương rẫy, khai
thác và buôn bán gỗ, săn bắn động vật vẫn còn diễn ra nhiều, tính ĐDSH ngày
càng bị suy giảm. Vì vậy, việc nghiên cứu hiện trạng tài nguyên của khu bảo
tồn thiên nhiên (BTTN), đánh giá sự phụ thuộc của người dân địa phương vào
đoan có thể xẩy ra liên quan đến khái niệm này: (1) Sự tham gia có thể được
xem là một phương thức hay phương tiện để tạo điều kiện thực hiện một
biện pháp quản lý đã được các cơ quan bên ngoài ấn định trước; (2) Sự tham
gia được xem là mục đích; phát huy sự tham gia là một phương thức phát
huy nội lực của các cộng đồng địa phương để bảo vệ cơ sở tài nguyên của
họ. Trong thực tế, mức độ và hình thức tham gia bị chi phối bởi bối cảnh xã
hội, nhưng điều quan trọng khi đánh giá mức độ tham gia là ý nghĩa cơ bản
của nó: người dân phải tham gia vào các quyết định chi phối đến đời sống
của họ (Bùi Việt Hải, 2007 [7]).
Việc sử dụng phổ biến cụm từ “sự tham gia” phản ánh những quan
điểm khác nhau về mục tiêu và phương thức. Trong nhiều trường hợp, “sự
tham gia” ít khi được định nghĩa rõ ràng và do đó trở nên ít có ý nghĩa khi
thực thi các hoạt động quản lý rừng. Sự suy diễn phong phú các nội dung
khác nhau về sự tham gia đã dẫn tới những định nghĩa phức tạp về các “kiểu
tham gia” . Nói chung, sự phân biệt các kiểu tham gia dựa trên mức độ kiểm
soát tiến trình lập quyết định về tài nguyên giữa những người trong cuộc (hay
đối tượng hưởng lợi) và người ngoài cuộc (hay người khởi xướng) [11].
4
(1) Sự tham gia thường được hiểu ở cấp độ cơ bản và đơn giản nhất, đó
là sự cung cấp thông tin tham vấn khi một cơ quan hay tổ chức tiến hành để
lấy ý kiến của các thành viên trong một cộng đồng trước khi đưa ra các quyết
định hay triển khai các hoạt động có ảnh hưởng đến người dân địa phương.
(2) Ở một mức cao hơn, sự tham gia được hiểu là việc thực thi các hoạt
động, một số nông dân được hợp đồng trồng rừng hay giao khoán quản lý bảo
vệ rừng (QLBVR). Một lần nữa, ở đây, người dân không có quyền quyết định
trồng rừng như thế nào, hoặc QLBVR ra sao, mặc dù họ có thể có quyền ký
hay không ký các hợp đồng này; ở đây, sự tham gia dừng lại ở mức độ đóng
tất cả các thành viên của cộng đồng là người trong cuộc, các dự án dễ có xu
hướng đồng nhất, người có nhiều đất với người không có đất, phụ nữ và nam
giới, nông dân khá giàu và nông dân nghèo. Đối với việc giám sát, điều này
có nghĩa là khi sự tham gia được giả định là chỉ báo của sự phát triển. Thứ ba,
vì sự phân loại ít nhiều mang tính chất phán đoán, nhiều tác giả đã đưa ra các
thuật ngữ như tham gia bắt buộc hay sự tham gia được điều khiển. Tuy nhiên
trong thực tế, không phải mọi người đều mong muốn, có thể và cam kết sẽ
tham gia như nhau trong một tiến trình. Trong thực tế, bối cảnh chính sách và
xã hội địa phương có ảnh hưởng rất lớn đến mức độ và hình thức tham gia
của các nhóm nông dân khác nhau. Do đó, khả năng đạt được sự tham gia
hoàn toàn trong tiến trình lập kế hoạch, giám sát và đánh giá chỉ là một tình
trạng phi thực tế (Hoàng Hữu Cải, 2001) [2].
Trong sự phát triển của lý thuyết về sự tham gia trong quản lý môi
trường và TNTN, cần nhấn mạnh một xu thế: bản thân các vấn đề về quản lý
TNTN nói chung và TNR nói riêng là một tiến trình xã hội (Myint, 2003;
dẫn theo Nguyễn Thị Kim Tài [16]). Tuy nhiên, hành động của con người
trong các cộng đồng ở trong hay gần rừng bị chi phối bởi các quy luật tự
nhiên của các hệ sinh thái đồng thời các quy luật do con người tạo ra. Do đó,
6
để phân tích tương tác giữa cộng đồng với môi trường và tài nguyên theo các
khía cạnh định chế - môi trường, cần xem môi trường và cộng đồng như là
tác nhân hành động hơn là nhân tố trong quản lý tài nguyên.
Bản thân thuật ngữ “cộng đồng” cũng đã được hiểu theo nhiều nghĩa
khác nhau. Trong các tài liệu liên quan đến quản lý TNTN, cộng đồng
thường được hiểu là “một nhóm người chia sẻ những lợi ích, mối quan tâm,
hay các mối liên hệ chức năng hay đạo đức” (Pomeroy và Carlos, 1996; dẫn
theo R. Sarou [11]). Bên cạnh đó, cũng có những cách hiểu khác nhau về
hiện thành công những giải pháp dài hạn cho những vấn đề về môi trường,
cần đưa việc giáo dục về các giá trị của môi trường vào trong các chương
trình giáo dục cho các KBT (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [17).
Việc xây dựng các qui tắc và qui định cho vùng đệm và vùng lõi của
khu BTTN với sự tham gia của các cộng đồng và chính quyền địa phương đã
được Gilmour và Nguyễn văn Sản (1999), Đặng Đình Trân (1997),
Mackinnon (1986), Sayer (1991) đề xuất một số hướng dẫn cho các vùng
quản lý khác nhau như: cấm đốt thảm thực vật trong vùng đệm, tránh trồng
những loại cây dễ bắt lửa, cấm đưa vào trong vùng đệm các loài động vật và
thực vật có nhiều khả năng xâm lấn hay đe doạ khu vực bảo tồn, cấm bất kỳ
một hành động nào có khả năng đe doạ các loài có nguy cơ tuyệt chủng trong
KBT, tránh trồng các loài cây dễ khuyến khích động vật hoang dã ra ăn cỏ
ngoài KBT (dẫn theo Nguyễn Minh Thanh, 2004 [17).
Về chính sách lâm nghiệp, Sheppherd G (1986) cho rằng, đối với cộng
đồng dân cư sống trong và gần các khu BTTN, một giải pháp đề nghị là cho
phép người dân địa phương củng cố quyền lợi của họ theo cách hiểu của các
hệ thống quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cách trồng cây, cho và nhận đất.
Nhà nước cần xác định rõ các quyền lợi chính trị của dân trên mảnh đất mà họ
8
nhận, với mục đích tạo thêm công ăn việc làm, tăng thu nhập và giảm tác
động đến TNR 25.
Tại Nepan, Subedi và cộng sự đã dùng phương pháp đánh giá nhanh
(RRA) để nghiên cứu việc quản lý cây và đất tại hai cộng đồng nông thôn ở
miền Đông Terai. Nghiên cứu được thiết kế nhằm góp sức vào việc phát triển
lợi tức và công ăn việc làm thông qua dự án do cơ quan phát triển Quốc tế
Thuỵ Điển (SIDA) và FAO tài trợ. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cộng
đồng và quản lý của thôn xã, tầm quan trọng của việc thu hút người dân sử
trước mắt ưu tiên cho phát triển kinh tế xã hội và chống đói nghèo nên trong
những năm qua, Việt Nam chưa quan tâm đầy đủ tới mối quan hệ giữa phát
triển và bảo tồn tài nguyên sinh học. Từ những năm 1980, Chính phủ đã bắt
đầu có những quan tâm đặc biệt tới phát triển và sử dụng hợp lý TNTN , bảo
vệ môi trường rừng. Nhiều văn bản pháp qui liên quan đến các KBT đã được
ban hành, nhiều dự án, chương trình lớn được thực hiện đã tạo ra nền tảng để
nâng cao nhận thức và các hoạt động bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam. Tuy nhiên,
sự hiểu biết về BTTN nói chung và KBT nói riêng còn rất nhiều bất cập, nhất
là đối với các cộng đồng sinh sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa 36. Để
ngăn chặn việc khai thác, sử dụng trái phép TNTN ngày càng gia tăng. Thêm
nữa, do yêu cầu ở trong nước và xuất khẩu, tạo sự liên kết và hỗ trợ của Quốc
tế, Chính phủ Việt Nam cũng đã tham gia vào 4 trong 5 công ước Quốc tế liên
quan đến công tác bảo tồn ĐDSH, quản lý KBT và quản lý các loài động thực
vật hoang dã 36.
Đánh giá hiệu quả của công tác bảo vệ các KBT ở Việt Nam, Nguyễn
Bá Thụ (1997) nhận định: Công tác này phụ thuộc rất nhiều vào việc giải
quyết những vấn đề tồn tại trên vùng đệm gồm nâng cao đời sống của nhân
dân vùng đệm; chuyển đổi hoặc thay thế tập quán dùng củi, gỗ bừa bãi và
10
lãng phí của người dân sống trên vùng đệm; nâng cao trình độ kỹ thuật canh
tác nông nghiệp, lâm nghiệp, đẩy mạnh thâm canh, nâng cao năng suất cây
trồng, nhanh chóng từ bỏ lối canh tác du canh, quảng canh; nâng cao trình độ
hiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý và bền vững tài nguyên cho người dân
địa phương 19.
Báo cáo kết quả Dự án bảo tồn ĐDSH và phát triển nông thôn - dự án
khu BTTN Chưmom Ray (1996) đã kết luận: Bảo vệ tính ĐDSH của khu
BTTN trước hết là làm giảm sự phụ thuộc của người dân lên vùng được bảo