BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG
CÓ SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ LIÊNG SRÔNH,
HUYỆN ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP & PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG CÓ
SỰ THAM GIA CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI XÃ LIÊNG SRÔNH, HUYỆN
ĐAM RÔNG, TỈNH LÂM ĐỒNG
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 60.62.60
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Hà Nội, 2012
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan mọi thông tin và số liệu được sử dụng trong luận văn
được thu thập công khai chính xác và có nguồn gốc rõ ràng. Các số liệu này
chưa được sử dụng cho công trình nghiên cứu khoa học hoặc bảo vệ cho học vị
nào.
Tác giả
ii
LỜI CẢM ƠN
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI 21
CHƯƠNG 4 34
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
CHƯƠNG 5 78
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BQL: Ban quản lý
BVR: Bảo vệ rừng
BV&PTR: Bảo vệ và Phát triển rừng.
DVMT: Dịch vụ môi trường
HĐKT: Hợp đồng kinh tế
HĐND: Hội đồng nhân dân
HKL: Hạt kiểm lâm
KTXH: Kinh tế xã hội
LNCĐ: Lâm nghiệp cộng đồng
LNXH: Lâm nghiệp xã hội
NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NGTK: Niên giám thống kê
PCCCR: Phòng cháy chữa cháy rừng
QLBVR: Quản lý bảo vệ rừng
QLRCĐ: Quản lý rừng cộng đồng.
TNR: Tài nguyên rừng.
TN&MT: Tài nguyên và Môi trường
UBND: Ủy ban nhân nhân
WWF: Quỹ quốc tế vệ bảo vệ thiên nhiên
v
DANH SÁCH HÌNH
CHƯƠNG 4 34
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
CHƯƠNG 5 78
vi
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
7
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cộng đồng tham gia quản lý rừng là một trong những hình thức quản lý
rừng đang thu hút sự quan tâm ở cấp Trung ương và địa phương. Ở Việt Nam,
rừng cộng đồng đã tồn tại từ lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn và tín ngưỡng của
các cộng đồng dân cư sống dựa vào rừng. Trong những năm gần đây, xuất phát
từ yêu cầu quản lý rừng, một số địa phương đã triển khai giao đất, giao rừng cho
cộng đồng quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp. Theo đó,
cộng đồng với tư cách như một chủ rừng, ngoài ra, các cộng đồng còn tham gia
nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng của các tổ chức Nhà
nước. Thực tiễn một số nơi đã chỉ rõ quản lý rừng với sự tham gia của các cộng
đồng địa phương sống gần rừng là mô hình quản lý rừng có tính khả thi về kinh
tế - xã hội, phù hợp với tập quán sản xuất truyền thống của nhiều dân tộc ở Việt
Nam.
Xã Liêng Srônh, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng có ranh giới hành chính
phần lớn nằm trong gianh giới của Ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pôk quản
lý. Đây là địa bàn có 11 dân tộc thiểu số đang sinh sống như người K
’
Ho, Mạ,
Cil, vv Đa số đồng bào ở đây sống thành thôn bản tập chung, với tập quán sản
xuất đốt nương làm rẫy, khai thác lâm sản tùy tiện, chăn thả gia súc tự do gây
ảnh hưởng trực tiếp đến suy giảm tài nguyên rừng. Bên cạnh đó một số đồng bào
dân tộc miền núi phía bắc di cư tự do đến địa bàn đã mang lại rất nhiều khó khăn
cho công tác xắp xếp dân cư ổn định và gây ảnh hưởng lớn đến tài nguyên rừng
không nâng cao nhận thức trong nhóm mục tiêu về các giá trị sinh thái và giá trị
vô hình của khu bảo tồn thiên nhiên thì rừng sẽ tiếp tục bị xem như là một tài
nguyên có thể khai thác. Để thực hiện thành công những giải pháp dài hạn cho
những vấn đề về môi trường, cần đưa việc giáo dục về các giá trị của môi trường
vào trong các chương trình giáo dục cho các khu bảo tồn 13.
Nick Salafky và các cộng sự (trong Biodiversity Support Program,
Washington, DC, USA, 2000) cho rằng vào những năm 90 của thế kỷ trước, các
nhà bảo tồn bắt đầu phát triển một cách tiếp cận mới nhằm đáp ứng nhu cầu về
lợi ích kinh tế và bảo tồn. Những cách tiếp cận này dựa vào việc thực hiện các
hoạt động sinh kế độc lập và có mối liên hệ trực tiếp với bảo tồn. Đặc điểm cơ
bản của chiến lược này là mối liên hệ giữa đa dạng sinh học và con người xung
quanh. Các chủ thể địa phương có cơ hội huởng lợi ích trực tiếp từ đa dạng sinh
10
học và như vậy sẽ có thể hạn chế được các tác nhân gây hại từ bên ngoài đối với
đa dạng sinh học. Sinh kế sẽ giúp cho bảo tồn đa dạng sinh học chứ không phải
cạnh tranh với nhau. Hơn nữa chiến lược này công nhận vai trò của người dân
địa phương trong bảo tồn đa dạng sinh học. Cũng trong chiến lược này, các nhà
bảo tồn có thể giúp cho người dân địa phương khai thác, sử dụng lâm sản ngoài gỗ
(LSNG) hoặc phát triển du lịch sinh thái 16.
Quĩ Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (WWF), 2001 đã đưa ra một thông điệp
chung rất đơn giản: “Hoạt động bảo tồn phải đề cập đến vấn đề xoá đói giảm
nghèo như là một phần quan trọng của chính sách bảo tồn tài nguyên rừng” 21.
Tại Nepan, Subedi và cộng sự đã dùng phương pháp đánh giá nhanh nông
thôn để nghiên cứu việc quản lý cây và đất tại hai cộng đồng nông thôn ở miền
đông Terai. Nghiên cứu được thiết kế nhằm góp sức vào việc phát triển lợi tức
và công ăn việc làm thông qua dự án do SIDA và FAO tài trợ. Nhiều vấn đề lý
luận và thực tiễn cộng đồng và quản lý của thôn xã, tầm quan trọng của việc thu
hút người dân sử dụng tài nguyên và những nhóm sử dụng trực tiếp tham gia vào
việc phát triển, cách giải quyết vấn đề khan hiếm tài nguyên và công bằng xã hội
đã được thảo luận 20.
chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng các giá trị của Vườn quốc gia.
Hợp tác quản lý ở đây đã giải quyết hài hoà mâu thuẫn giữa chính sách của
chính quyền và bản sắc truyền thống của người dân, đảm bảo cho sự thành công
của công tác bảo tồn hoang dã và bảo tồn các di sản văn hoá.
Các nghiên cứu trên thế giới mới chỉ có những phân tích định tính về sự
phụ thuộc của các cộng động dân cư vào tài nguyên và khẳng định cần thiết phải
có sự tham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn TNR. Tuy nhiên chưa
12
có các nghiên cứu định lượng xác định những tác động của cộng đồng vào TNR
và những nguyên nhân cụ thể dẫn tới những tác động đó vào TNR.
1.2. Trong nước
Các hình thức quản lý rừng ở Việt Nam là khá đa dạng, liên quan đến việc
Nhà nước trao quyền sử dụng rừng cho nhiều chủ thể khác nhau. Ngoài việc các
chủ rừng tự quản lý rừng của mình còn xuất hiện nhiều hình thức liên kết khác
để quản lý rừng. Nhìn chung sự tồn tại của một hình thức quản lý rừng nào đó
đều mang tính lịch sử và là kết quả của quá trình phát triển, phản ánh đặc thù về
chủ rừng và tài nguyên rừng ở địa phương.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc công bố hiện trạng
rừng toàn quốc năm 2011, tính đến 31/12/2011, tổng diện tích rừng trên toàn
quốc là: 13.515.064 ha ( Độ che phủ là 39,7%). Trong đó diện tích rừng do các
BQL rừng phòng hộ và rừng đặc dụng quản lý là 4.522.184 ha; Các doanh
nghiệp nhà nước quản lý là 1.971.477 ha; Các tổ chức kinh tế khác quản lý là
143.199 ha; Đơn vị vũ trang quản lý là 264.885 ha; Hộ gia đình quản lý là
3.510.336 ha; Diện tích rừng và đất rừng giao cho cộng đồng là 298.984 ha [4].
Thực tế cho thấy, đối với các diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng thì
việc quản lý các khu rừng đó sẽ cực kỳ khó khăn nếu không nhận được sự đồng
thuận của người dân địa phương cũng như thiếu sự hỗ trợ của các tổ chức khác
liên quan. Các ban quản lý rừng gần như bất lực trước các hiện tượng xâm hại
tới tài nguyên rừng một cách trắng trợn. Việc tàn phá các cá thể Nghiến tại Vườn
Quốc gia Ba Bể hay vụ ăn trộm cây Sưa cổ thụ tại Phong Nha – Kẻ bang là các
ở khái niệm và lý thuyết cơ bản, nhưng việc triển khai các dự án tập huấn về
đồng quản lý đã mang lại một làn gió mới trong công tác quản lý bền vững tài
nguyên rừng dựa vào cộng đồng tại Việt Nam.
14
Hiện nay công tác giao khoán QLBV của các hộ được Ban QLR thông qua
bằng các HĐKT, có các biên bản cam kết của người dân thông qua việc người
dân tự bình chọn nhóm trưởng và có quy ước riêng của nhóm hộ nhận giao
khoán. Thông qua thực hiện các quy ước bảo vệ rừng do người dân xây dựng từ
đó người dân trong cộng đồng đoàn kết giử gìn trật tự trị an trên địa bàn. Tình
trạng khai thác, phát rừng làm nương rẫy, bẫy bắt động vật trong rừng cộng đồng
và hộ gia đình giảm hẳn, các vụ cháy rừng ít xẩy ra. Vì vậy rừng được sinh
trưởng, phát triển tốt góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ nguồn nước
chống sạt lở xói mòn đất. Bảo vệ hệ sinh thái cảnh quan rừng tại địa phương [4].
Tóm lại, mặc dù có thể được gọi dưới nhiều cái tên khác nhau, tuy nhiên
quản lý rừng có sự tham gia trước hết nhấn mạnh vào việc lôi cuốn người dân
hay cộng đồng cư dân địa phương vào quản lý rừng. Như vậy việc phát huy năng
lực của người dân địa phương để quản lý rừng được xem như bí quyết thành
công của các chương trình bảo tồn, tất nhiên không thể thiếu vai trò hỗ trợ, thúc
đẩy của các cơ quan, đoàn thể, hay tổ chức có liên quan.
15
16
CHƯƠNG 2
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài này là góp phần đề xuất một số giải pháp thúc
đẩy sự tham gia của cộng đồng vào quản lý rừng, góp phần nâng cao hiệu quả
công tác quản lý rừng tại ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk.
Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá được hiện trạng các hoạt động quản lý rừng có sự tham gia của
cộng đồng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Sê Rê Pốk
Hộ Sê Rê Pốk;
(2) người dân có sử dụng tài nguyên rừng trong các hoạt động phát triển
kinh tế;
(3) có cộng đồng người K Ho, Mạ, Cil sinh sống. Đây là những cộng đồng
có kiến thức và kinh nghiệm trong quản lý tài nguyên rừng tại địa phương.
Kết quả lựa chọn được 04 thôn bao gồm các thôn: thôn 3; thôn 4; thôn 5 và
thôn 6 của xã Liêng Srônh, huyện Đam Rông, tỉnh Lâm Đồng
2.4.2. Phương pháp xác định đối tượng điều tra
2.4.2.1. Xác định dung lượng mẫu điều tra
Mẫu điều tra, phỏng vấn là một phần tổng thể được lựa chọn theo cách thức
nhất định và với một dung lượng hợp lý. Mẫu có tính đại diện để có thể suy rộng
thông tin thu được cho tổng thể.
Với nghiên cứu này, đề tài chọn cách xác định dung lượng mẫu không lặp
lại theo công thức sau:
18
222
22StdN
StN
n
+
=
(2.1)
Trong đó: n: Dung lượng mẫu cần chọn, N: Số hộ của xã điều tra, t: Hệ số
ứng với mức tin cậy (t = 95%), d: Sai số mẫu (cho trước d = 5 - 10%), S
2
:
Phương sai của tổng thể (cho trước S
- Thảo luận nhóm áp dụng với các cán bộ địa phương, cán bộ thuộc Ban
Quản lý Rừng Phòng Hộ Sê Rê Pốk và nhóm nông dân để phân tích các hoạt
động quản lý tài nguyên rừng.
- Phân loại kinh tế hộ gia đình để lựa chọn các hộ phỏng vấn có thể phân
chia nhóm theo hộ nhận giao khoán Quản lý Bảo vệ rừng.
- Phỏng vấn hộ gia đình (mỗi nhóm hộ phỏng vấn ít nhất 10 hộ) để xác
định sự phụ thuộc vào tài nguyên rừng, nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng trong
phát triển kinh tế và các vấn đề cần thu thập trong nội dung nghiên cứu.
- Phỏng vấn bán định hướng áp dụng với các nông dân chủ chốt ( khoảng
30% số nông dân từ độ tuổi 18 trở lên, có quan tâm đến giới) để đánh giá kiến
thức, kinh nghiệm của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng.
- Điều tra phỏng vấn hộ bằng cách sử dụng bảng câu hỏi và ghi chép sổ, ghi
âm, chụp ảnh tư liệu. Điều tra nhằm thu thập thông tin về hộ, công tác tham gia
quản lý tài nguyên rừng, nguồn lao động trong nông nghiệp, vật nuôi, nguồn và
mức độ thu nhập, các nhân tố ảnh hưởng trực triếp tới đời sống của người dân
trong vùng dự án
2.4.3.3. Phương pháp tổng hợp và phân tích số liệu
- Sử dụng phương pháp thống kê và khoanh vẽ trên bản đồ để phân tích
hiện trạng tài nguyên rừng
- Sử dụng phương pháp thống kê để phân tích sự phụ thuộc vào tài nguyên
rừng và nhu cầu sử dụng tài nguyên rừng trong phát triển kinh tế.
20
- Sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để phân tích các hoạt động quản
lý tài nguyên rừng và đánh giá vai trò và khả năng tham gia quản lý tài nguyên
rừng của cộng đồng.
- Sử dụng phương pháp chuyên gia để đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự
tham gia của cộng đồng, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài
nguyên rừng.
21
CHƯƠNG 3
- Địa hình thung lũng hợp thủy hẹp: Đây là dạng địa hình chính trồng cây
hàng năm của xã, độ dốc phổ biến từ 3o - 8o. Ngoài khu vực dự án Đoàn thanh
niên có diện tích tập trung, còn lại các khu vực khác đa số có diện tích nhỏ,
manh mún, phân tán, gây khó khăn cho công tác tổ chức sản xuất và đời sống.
22
- Địa hình đồng bằng hẹp ven sông: Độ dốc phổ biến từ 0o - 8o. Đây là
dạng địa hình thuận lợi nhất đối với sản xuất nông nghiệp và xây dựng cơ sở hạ
tầng phục vụ đời sống. Thực tế ở Liêng Srônh là: tất cả đất đai ở dạng địa hình
trên (nằm trong ranh giới 364 của xã Liêng Srônh) lại do xã Rô Men quản lý sử
dụng.
3.1.3. Khí hậu
Liêng Srônh nằm trong vùng núi cao phía Bắc huyện Đam Rông. Dạng khí
hậu chủ đạo trong vùng là khí hậu nhiệt đới xích đạo gió mùa, khí hậu tuy phân
hóa theo mùa nhưng quanh năm đều mát mẻ, thuận lợi cho đời sống con người
và phát triển nhiều loại cây trồng vật nuôi có giá trị. Liêng Srônh là một xã có
vùng khí hậu tương đối đồng nhất với nên khí hậu thời tiết tương đối là mát mẻ.
Nhiệt độ trung bình mùa năm 21,1
0
C, số giờ nắng trung bình trong năm 2.343,4
giờ. Mùa khô từ giữa tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau độ ẩm trung bình
thấp nhất 70 % vào tháng 2, tháng 3, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, lượng
mưa chiếm phần lớn lượng mưa trong trong năm, độ ẩm trung bình 86,0 %,
lượng mưa trung bình hàng năm 1.644,9mm.
3.2. Các nguồn tài nguyên
3.2.1. Tài nguyên đất
Theo kết quả kiểm kê đất đai đến ngày 01/01/2010, tổng diện tích tự nhiên
của xã là 24.053,01ha, chiếm 27,94% diện tích tự nhiên toàn huyện, trong đó:
- Đất nông nghiệp là 23.744,34ha, chiếm 98,72% DTTN toàn xã.
- Đất phi nông nghiệp 168,63ha, chiếm 0,71% DTTN toàn xã.
- Đất chưa sử dụng còn 140,04ha, chiếm 0,58% DTTN toàn xã.