Một số giải pháp về quản lý nhằm nâng cao chất lượng công trình tại Công ty Tây hồ - Pdf 30

MỞ ĐẦU
Vấn đề hội nhập, toàn cầu hóa hiện nay đang được bàn đến rất nhiều trên
các thông tin đai chúng, đặc biệt sau khi Việt Nam ra nhập tổ chức thương
mại WTO. Đảng và Nhà nước đã khẳng định điều này sẽ mang đến nhiều cơ
hội những cũng sẽ ẩn chứa nhiều thách thức mà ta sẽ phải đối mặt.
Muốn Việt Nam vững bước trên con đường hội nhập thì ta phải giải
quyết triệt để các vấn đề nổi cộm trong xã hội hiện nay. Hiện nay, một trong
những vấn đề gây bức xúc nhiều trong giới dư luận chính là việc các công
trình đầu tư lớn của Nhà nước bị đổ sập. Năm vừa qua là năm liên tiếp sập các
công trình xây dựng như vụ sập cầu Cần thơ, cao ốc Pacific cuối năm
1997 . . . Nó thật sự là thảm họa đã cướp đi sinh mạng của nhiều người và gây
thiệt hại hàng tỷ đồng cho ngân sách nhà nước. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế
nào để giải quyết được tình trạng chất lượng công trình đang ngày càng bị vi
phạm một cách nghiệm trọng như vậy. Phải chăng chúng ta nên quan tâm
đúng mức hơn nữa đến vấn đề nâng cao chất lượng công trình? Đúng vậy, vấn
đề này đã trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết trong toàn xã hội, trong đó doanh
nghiệp xây dựng giữa vai trò hết sức quan trọng bởi họ chính là những người
trực tiếp thực hiện các công trình. Do vậy, các doanh nghiệp cần chủ động
hơn nữa trong việc nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng để tránh xảy ra
những tình trạng đáng tiếc như trong năm vừa qua.
Công ty Tây Hồ là đơn vị thuộc tổng cục Công nghiệp quốc phòng, được
thành lập năm 1996, từ đó đến nay Công ty đã tham gia nhiều công trình xây
dựng cơ bản và tất cả các công trình đến nay vẫn trong quá trình sử dụng tốt.
Nhưng cũng có một số công trình trong khi đang thi công đã gặp sự cố về chất
lượng. Mặc dù Công ty đã kịp thời phát hiện và khắc phục nhưng dù sao thì
nó cũng đã gây tổn thất về mặt tài chính cho Công ty và làm giảm sức cạnh
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
tranh của Công ty với các đối thủ trên thị trường xây dựng. Thật ra đây là vấn
đề cũng hay mắc phải của các doanh nghiệp Việt Nam, do trình độ máy móc
kỹ thuật không cao và quan trọng hơn là trình độ quản lý chất lượng công
trình còn yếu vì khái niệm quản lý chất lượng công trình chỉ mới du nhập vào

giản. Bởi đây là một phạm trù phức tạp phản ánh tổng hợp các nội dung kỹ
thuật, kinh tế và xã hội. Đứng ở những góc độ khác nhau và tùy theo mục
tiêu, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh có thể đưa ra những quan niệm về chất
lượng sản phẩm thành những nhóm chủ yêu sau:
- Quan niệm siêu việt: cho rằng chất lượng là sự tuyệt vời và hoàn hảo
nhất của sản phẩm.
Quan niệm này quá tính trừ tượng bởi chất lượng sản phẩm không thể
xác định một cách chính xác.
- Quan niệm theo hướng công nghệ: cho rằng chất lượng sản phẩm là
tồng hợp những đặc tính bên trong sản phẩm, có thể đo được hoặc so sánh
được, phản giá trị sử dụng và chức năng của sản phẩm đó đáp ứng yêu cầu
định trước cho nó, trong những yêu cầu xác định về kinh tế xã hội.
Ưu điểm của quan niệm này là có thể dễ dàng đánh giá được chất lượng
đơn thuần về mặt kỹ thuật và ở mặt tương đối tĩnh.
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
Tuy nhiên, nó cũng có nhược điểm là dễ dẫn đến nguy cơ làm cho chất
lượng không kịp thời cải tiến, không gắn chặt với nhu cầu thị trường và dẫn
đến kết quả là tiêu thụ sản phẩm kém.
- Quan niệm theo hướng khách hàng: theo hướng này có rất nhiều
chuyên gia nổi tiếng như:
Theo W.E.Deming: “ Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng
đều và có thể tin cậy được, tại mức chi phí thấp và được thị trường chấp
nhận”.
Theo Philip B.Crosby trong quyển “ Chất lượng là thứ cho không” đã
diễn tả: “ Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu”.
Theo A. Feigenbaum: “ Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản
phẩm dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được
mong đợi của khách hàng”.
Hầu hết các tác giả đều khẳng định chất lượng sản phẩm chính là mức độ
thỏa mãn nhu cầu hay sự phù hợp với những đòi hỏi của khách hàng. Từ đó

sản phẩm được phác thảo trên cơ sở nghiên cứu thị trường được định ra để
sản xuất, chất lượng thiết kế được thể hiện trong các bản vẽ, bản thiết kế, các
yêu cầu về vật liệu chế tạo, những yêu cầu về gia công, sản xuất chế tạo, yêu
cầu về bảo quản, về thử nghiệm và những yêu cầu hướng dẫn sử dụng. Chất
lượng thiết kế còn gọi là chất lượng chính sách nhằm đáp ứng đơn thuần về lý
thuyết đối với nhu cầu thị trường, còn thực tế có đạt được điều đó hay không
thì nó còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
Chất lượng chuẩn: là loại chất lượng mà thuộc tính và chỉ tiêu của nó
được phê duyệt trong quá trình quản lý chất lượng và người quản lý chính là
các cơ quan quản lý và chính chỉ có họ mới có quyền phê chuẩn. Sau khi phê
chuẩn rồi thì chất lượng này trở thành pháp lệnh, văn bản pháp quy.
Chất lượng thực tế: là mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản
phẩm và nó được thể hiện sau quá trình sản xuất, trong quá trình sử dụng sản
phẩm.
Chất lượng cho phép: là mức độ cho phép về độ lệch giữa chất lượng
chuẩn và chất lượng thực tế của sản phẩm. Chất lượng cho phép do cơ quan
quản lý chất lượng sản phẩm, cơ quan quản lý thị trường, hợp đồng quốc tế,
hợp đồng giữa đôi bên quy định.
Chất lượng tối ưu: biểu thị khả năng toàn diện đáp ứng nhu cầu của thị
trường trong điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất. Nó nói
lên mối quan hệ giữa chất lượng sản phẩm và chi phí.
Chất lượng toàn phần: là mức chất lượng thể hiện mức tương quan giữa
hiệu quả có ích cho sử dụng sản phẩm có chất lượng cao và tổng chi phí để
sản xuất và sử dụng sản phẩm đó.
1.1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nhưng ta có thể chia
thành hai nhóm yếu tố chủ yếu. Đó là nhóm yếu tố bên ngoài và nhóm yếu tố
bên trong.
* Nhóm yếu tố bên ngoài:

Hiệu lực quản lý nhà nước là đòn bẩy quan trọng trong việc quản lý chất
lượng sản phẩm, đảm bảo cho sự phát triển ổn định của sản xuất, đảm bảo uy
tín và quyền lợi của nhà sản xuất và người tiêu dung.
Mặt khác, nó còn góp phần tạo tính tự chủ, độc lập, sáng tạo trong cải
tiến chất lượng sản phẩm của các tổ chức, hình thành môi trường thuận lợi
cho việc huy động các nguồn lực, các công nghệ mới, tiếp thu ứng dụng
những phương pháp quản lý chất lượng hiện đại.
* Nhóm yếu tố bên trong tổ chức.
Trong phạm vi một tổ chức thì có 4 yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất
lượng sản phẩm ( được biệu thị bằng quy tắc 4 M), đó là:
- Men (con người): lực lượng lao động trong tổ chức (bao gồm tất cả
thành viên trong tổ chức, từ cán bộ lãnh đạo đến nhân viên thừa hành). Năng
lực, phẩm chất của mỗi thành viên và mối liên kết giữa các thành viên có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng.
- Methods (phương pháp): phương pháp công nghệ, trình độ tổ chức
quản lý và tổ chức sản xuất của tổ chức. Với phương pháp công nghệ thích
hợp, với trình độ quản lý và tổ chức sản xuất tốt sẽ tạo điều kiện cho tổ chức
có thể khai thác tốt nhất các nguồn lực hiện có, góp phần nâng cao chất lượng
sản phẩm.
- Machines (máy móc thiết bị): khả năng về công nghệ, máy móc thiết
bị của tổ chức. Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị có tác động rất lớn trong
việc nâng cao những tính năng kỹ thuật của sản phẩm và nâng cao năng suất
lao động.
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
- Materials (nguyên vật liệu): vật tư, nguyên nhiên liệu và hệ thống tổ
chức đảm bảo vật tư, nguyên nhiên liệu của tổ chức. Nguồn vật tư, nguyên
nhiên liệu được đảm bảo những yêu cầu chất lượng và được cung cấp đúng số
lượng, đúng thời hạn sẽ tạo điều kiện đảm bảo và nâng cao chất lượng sản
phẩm.
[1]

lượng” bằng “quản lý chất lượng”. Khái niệm “quản lý chất lượng” không chỉ
dành cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, mà còn
cho tất cả các tổ chức khác như tổ chức sự nghiệp: Nhà trường, bệnh viện,
viện nghiên cứu…và cả các cơ quan hành chính nhà nước, các tổ chức chính
trị. Nghĩa là có thể áp dụng cho tất cả những tổ chức nào muốn nâng cao hiệu
quả hoạt động của mình nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu ngày càng tăng của
khách hàng khi sử dụng sản phẩm của mình. Khái niệm sản phẩm ở đây theo
đó cũng hết sức rộng: ‘nó là kết quả của một quá trình hoạt động của con
người’. Đây cũng là hệ quả tất yếu của quá trình quản lý chất lượng của thế
giới trước tác động của quá trình toàn cầu hóa nói chung và tự do hóa thương
mại nói riêng đang ngày càng sâu rộng. Các phương pháp quản lý chất lượng
gồm:
- Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các
sản phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi
các sản phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có
sản phẩm đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng.
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
- Kiểm soát chất lượng (Quality Control – QC) với mục tiêu ngăn ngừa
việc tạo ra, sản xuất ra các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải
kiểm soát các yếu tố như con người, phương pháp sản xuất, tạo ra sản phẩm
(như dây truyền công nghệ), các đầu vào (như nguyên, nhiên vật liệu…),
công cụ sản xuất (như trang thiết bị công nghệ) và yếu tố môi trường (như địa
điểm sản xuất).
- Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) với mục
tiêu kiểm soát tất cả các quá trình tác động đến chất lượng kể cả các quá trình
xảy ra trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm, như khảo sát thị trường,
nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển, thiết kế và mua hàng; và lưu kho, vận
chuyển, phân phối, bán hàng và dịch vụ sau khi bán hàng.
- Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management – TQM) với
mục tiêu của TQM là cải tiến chất lượng sản phẩm và thỏa mãn khách hàng ở

còn vượt cao hơn sự mong đợi của họ.
Nguyên tắc 2: Sự lãnh đạo.
Lãnh đạo thiết lập sự thống nhất đồng bộ giữa mục đích và đường lối của
doanh nghiệp. Lãnh đạo cần tạo ra và duy trì môi trường nội bộ trong doanh
nghiệp để hoàn toàn lôi cuốn mọi người trong việc đạt được các mục tiêu của
doanh nghiệp.
Nguyên tắc 3: Sự tham gia của mọi người.
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
Con người là nguồn lực quan trọng nhất của một doanh nghiệp và sự
tham gia đầy đủ với những hiểu biết và kinh nghiệm của họ rất có ích cho
doanh nghiệp.
Nguyên tắc 4: Quan điểm quá trình.
Kết quả mong muốn sẽ đạt được một cách hiệu quả khi các nguồn và các
hoạt động có liên quan được quản lý như một quá trình.
Nguyên tắc 5: Tính hệ thống.
Việc xác định, hiểu biết và quản lý một hệ thống các quá trình có liên
quan lẫn nhau đối với mục tiêu đề ra sẽ đem lại hiệu quả của doanh nghiệp.
Nguyên tắc 6: Cải tiến liên tục.
Cải tiến liên tục là mục tiêu, đồng thời cũng là phương pháp của mọi
doanh nghiệp. Muốn có khả năng cạnh tranh và mức độ chất lượng cao nhất,
doanh nghiệp phải liên tục cải tiến.
Nguyên tắc 7: Quyết định dựa trên sự kiện.
Mọi quyết định và hành động của hệ thống quản lý hoạt động kinh doanh
muốn có hiệu quả phải được xây dựng dựa trên việc phân tích dữ liệu và
thông tin.
Nguyên tắc 8: Quan hệ hợp tác cùng có lợi với người cung ứng.
Doanh ngiệp và người cung ứng phụ thuộc lẫn nhau và mối quan hệ
tương hỗ cùng có lợi sẽ nâng cao năng lực của cả hai bên để tạo ra giá trị.
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
1.2. QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH.

thể phục vụ mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình
vào khai thác, sử dụng;
- Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu
tư phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu
thực hiện các hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế,
thi công xây dựng...
- Vấn đề môi trường: cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự án
tới các yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại, tức là tác
động của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án.
[1]
1.2.2. Nội dung cơ bản của hoạt động quản lý chất lượng công trình.
Chất lượng công trình là tổng hợp của nhiều yếu tố hợp thành, do đó để
quản lý được chất lượng công trình thì phải kiểm soát, quản lý được các nhân
tố ảnh hưởng đến chất lượng công trình, bao gồm: con người, vật tư, biện
pháp kỹ thuật và áp dụng các tiêu chuẩn tiên tiến. Cụ thể các yếu tố như sau:
1.2.2.1. Về con người.
Để quản lý chất lượng công trình tốt thì nhân tố con người là hết sức
quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng công trình. Cán bộ phải là
những kỹ sư chuyên ngành có nhiều kinh nghiệm trong công tác, có phẩm
[
1] TS. Bùi Ngọc Toàn - Nguồn tin: T/C Giao thông vận tải, số 12/2006
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
chất, đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm cao. Và công nhân phải có tay nghề
cao, có chuyên ngành, có sức khỏe tốt và có ý thức trách nhiệm cao và đều là
công nhân được đào tạo cơ bản qua các trường lớp. Nếu kiểm soát tốt chất
lượng cán bộ, công nhân thì sẽ kiểm soát được chất lượng công trình góp
phần vào việc quản lý tốt chất lượng công trình. Nội dung về quản lý nguồn
nhân lực gồm có:
- Nguồn nhân lực phải có năng lực dựa trên cơ sở được giáo dục, đào
tạo, có kỹ năng và kinh nghiệm thích hợp.

thiện chất lượng công trình. Trong đó quản lý thi công công trình là một khâu
quan trọng trong quản lý chất lượng công trình. Phương pháp công nghệ thích
hợp, hiện đại, với trình độ tố chức quản lý tốt thì sẽ tạo điều kiện tốt cho việc
nâng cao chất lượng sản phẩm.
Quản lý thi công công trình là tổng hợp các hoạt động từ xây dựng hình
thức tổ chức thi công thể hiện tính khoa học và kinh tế đến quản lý quy phạm,
quy trình kỹ thuật, định mức khối lượng, …, quản lý hệ thống hồ sơ công
trình theo quy định.
Quy trình quản lý thi công như sau:
a) Các hình thức tổ chức thi công.
Có 03 hình thức tổ chức thi công chính:
- Quản lý tập trung có giao khoán chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật cho CNCT.
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
- Giao khoán gọn việc tổ chức thi công cho Đội (từng giai đoạn hoặc cả
công trình).
- Giao khoán toàn bộ hợp đồng cho Đội.
b) Các quyết định điều kiện cơ sở cho quy trình.
- Giám đốc quyết định hình thức tổ chức thi công.
- Phòng QLTC đề xuất để Giám đốc quyết định vị trí CNCT.
- Lập và duyệt biện pháp kinh tế kỹ thuật.
- Phòng TC-HC lập và trình Giám đốc ký quyết định thành lập BCH công
trình.
- Thực hiện thương thảo và ký Hợp đồng giao khoán.
c) Nội dung, trình tự thực hiện quy trình.
* Chuẩn bị tổ chức thi công:
- Ký hợp đồng giao khoán cho tổ đội thi công -> Theo Quy trình hợp
đồng.
- Ký hợp đồng lao động thời vụ -> Theo quy trình ký kết hợp đồng.
- Phòng QLTC, CNCT lập danh sách BCH, công nhân, đăng ký tạm trú,
tạm vắng.

• Quản lý kỹ thuật tiến độ :
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
- Căn cứ tiến độ từng giai đoạn hoặc tiến độ hàng tháng, CNCT giao
nhiệm vụ, khối lượng thi công hàng ngày cho các tổ đội thi công và trợ lý kỹ
thuật trong cuộc họp công trường vào cuối ngày hôm trước. Nội dung cuộc
họp được ghi lại bằng Nhật ký nội bộ.
- Việc thực hiện thi công phải theo đúng trình tự, biện pháp chi tiết của
Biên bản kỹ thuật đã được phê duyệt.
- Căn cứ nhiệm vụ được giao, trợ lý kỹ thuật kiểm tra, tính toán khối
lượng công việc thực hiện được trong mỗi ngày, ghi chép vào Sổ theo dõi
công việc hàng ngày để báo cáo CNCT vào buổi họp cuối mỗi ngày (kể cả
công việc không tính toán cụ thể được thì đánh giá tỉ lệ % hoàn thành). Song
song với việc kiểm soát khối lượng, việc kiểm tra chất lượng phải được thực
hiện và báo cáo hàng ngày bằng các cập nhật vào sổ theo dõi công việc hàng
ngày.
- Tất cả mọi vấn đề (khối lượng công việc thực hiện được, chất lượng thi
công, nhân lực) thực tế khác với kế hoạch hàng ngày đều phải được ghi nhận,
cộng dồn và dự đoán để báo cáo CNCT vào buổi họp cuối ngày. Nội dung
phải được ghi hàng ngày vào nhật ký nội bộ kể cả khi CNTC vắng mặt.
- Căn cứ vào kết quả công việc hàng ngày, CNCT sẽ quyết định duy trì
hoặc điều chỉnh mức độ công việc để công trường hoạt động đúng kế hoạch
đề ra. Khi có sự sai khác vượt mức độ kiểm soát của CNCT, CNCT phải lập
báo cáo đột xuất để đề xuất xin ý kiến xử lý về Phòng QLTC hoặc Ban giám
đốc để có biện pháp điều chỉnh, kiểm soát lại công tác thi công tại công
trường.
• Nghiệm thu công việc nội bộ :
- Quá trình nghiệm thu được thực hiện liên tục song song với công tác
thi công của công nhân trên công trình. Trợ lý kỹ thuật có trách nhiệm đo đạc,
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
kiểm tra, nhắc nhở sửa chữa (nếu có sai sót) trong suốt quá trình thao tác thi

+ Xuất kho: Hàng hoá, vật liệu xuất kho để sử dụng thi công do Trợ lý
kỹ thuật ghi lệnh vào Phiếu xuất kho (theo mẫu in sẵn) căn cứ trên dự kiến
công việc hàng ngày.
+ Báo cáo Nhập - Xuất - Tồn vật liệu: Hàng tháng vào ngày 30, Thủ kho
lập báo cáo trình CNCT ký xác nhận để gửi về Phòng KH-VT trước ngày 5
tháng sau.
• Quản lý an toàn lao động, vệ sinh môi trường :
- CNCT phân chia khu vực vào giao nhiệm vụ quản lý an toàn lao động,
vệ sinh môi trường cho từng cán bộ chuyên trách hoặc trợ lý kỹ thuật.
- Mỗi công nhân thi công trên công trường đều phải được hướng dẫn,
huấn luyện về an toàn lao động và vệ sinh môi trường. Kết quả của việc
hướng dẫn, huấn luyện phải được cập nhật vào biên bản và danh sách.
- Ban chỉ huy công trình lập phiếu đề nghị cấp trang thiết bị an toàn lao
động và tiến hành kiểm tra, đánh giá chất lượng trang thiết bị an toàn lao
động, vệ sinh môi trường mỗi tháng 1 lần. Kết quả kiểm tra đánh giá được ghi
vào biên bản kiểm tra có xác nhận của cán bộ an toàn lao động và CNCT.
- Công tác kiểm tra an toàn lao động, vệ sinh môi trường của cán bộ
được phân công được thực hiện liên tục trong suốt thời gian thi công của công
trường, kết quả kiểm tra được báo cáo hàng ngày vào nhật ký nội bộ.
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
- Trước khi triển khai một số công tác như: Đổ bê tông, lắp đặt cấu kiện
BTCT, kết cấu sắt thép, lợp mái, lắp đặt hệ thống kỹ thuật và một số công tác
có nguy cơ mất an toàn lao động cao như tháo dỡ coffa, hoàn thiện bên ngoài
phải tiến hành kiểm tra các điều kiện về an toàn là lập biên bản kiểm tra.
• Quản lý các công việc phát sinh :
- Các công tác phát sinh do yêu cầu của Chủ đầu tư:
Ban chỉ huy công trình phải thực hiện đúng những việc sau:
+ Lập biên bản xử lý hiện trường xác nhận nguyên nhân, nội dung, khối
lượng phát sinh có đủ chữ ký A, B, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát.
+ Theo dõi, thực hiện đôn đốc quy trình trình duyệt hồ sơ phát sinh. Từ

+ Lập bảng tổng hợp giá trị công việc hoàn thành căn cứ trên khối
lượng công việc được nghiệm thu và giá dự thầu.
+ Hệ thống toàn bộ biên bản nghiệm thu (Công việc, giai đoạn) và các
chứng chỉ chất lượng vật liệu, chứng chỉ kiểm nghiệm sản phẩm hoàn thành
đóng thành tập.
+ Lập bản vẽ hoàn công các công việc hoàn thành được nghiệm thu.
+ Lập phiếu đề nghị kiểm tra hồ sơ. Chuyển hồ sơ thanh toán gồm 3
nội dung trên về phòng quản lý thi công để kiểm tra, trình ký.
+ Sau khi nhận được hồ sơ đã kiểm tra (hoặc Công ty đã ký) thì tiếp tục
đề nghị các bên liên quan (tư vấn giám sát, chủ đầu tư) ký đồng ý cho thanh
toán khối lượng công việc hoàn thành.
SV: Nguyễn Bích Ngọc Lớp: QLKT 46B
+ Chuyển hồ sơ thanh toán đã đầy đủ pháp lý, phiếu giá thanh toán đến
bộ phận kế toán của Chủ đầu tư, lập phiếu giao nhận hồ sơ và chuyển một bản
của phiếu giao nhận hồ sơ cho Phòng tài chính - Kế toán.
- Phòng quản lý thi công
+ Kiểm tra hồ sơ thanh toán do Ban chỉ huy công trình chuyển về theo
đúng các quy định đã thống nhất với Chủ đầu tư và Nghị định về quản lý chất
lượng của Nhà nước.
+ Xác nhận vào phiếu đề nghị kiểm tra và trình ký
+ Trường hợp hồ sơ còn thiếu sót thì yêu cầu và phối hợp với Ban chỉ
huy công trường để hoàn chỉnh trong thời gian sớm nhất.
- Phòng Tài chính kế toán:
+ Khi nhận được phiếu giao nhận hồ sơ giữa Ban chỉ huy công trường
và cơ quan thanh toán vốn, Phòng tài chính kế toán đưa vào danh mục theo
dõi nguồn vốn chuẩn bị được thu hồi.
+ Liên hệ cơ quan thanh toán vốn để đôn đốc việc thanh toán vốn.
Trường hợp hồ sơ thanh toán còn gặp vướng mắc thì phối hợp với Ban chỉ
huy công trường để giải quyết.
+ Khi thu hồi được nguồn vốn, tổng hợp và báo cáo trong các hội nghị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status