Nghiên cứu đa dạng sinh học động vật chân khớp ở đất ở vườn quốc gia Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HẢ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HOC Tự NHIÊN
ĐỂ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU ĐO DỌNG SINH HỌC ĐỘNG VỘT
• • • •
CHÂN KHỚP Ở ĐẤT Ở VƯỜN QUÔC Gin TAM ĐẢO,
TỈNH VĨNH PHÚC
Mà số: QT -07 -31
CHÚ TRÌ DẾ TÀI: ThS. B ù i Thanh Ván
CẤC CÁN BỘ THAM GIA:
TS. Nguyen Văn Quảng
- CN. Ngo Minh Thu
KTV. Nguyẻn Thị Pham
I H Ọ C G U Ố C G IA HÀ N Ộ I Ị
kUNG ĨA Í'/' TH'_ NO TIN TH*J V EN
L d ị - L ì Ấ l
HẢ NỘI - 2008
BÁO CÁO TÓM TẮT
a. Tên đề tài: Nghiên cứu da dạng sinh hoc dộng vật chán khớp ở dát o Vườn quóc
gia Tam Đảo, tính Vĩnh Phúc
c. Các cán hộ Iham gia: Nguyễn Vãn Quàng, Ngó Minh Thu và Nguyễn Thị Pham
d. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu:
- Mục tiêu: Sử dụng các chí sỏ đa dạng sinh học đê đánh giá da dạng sinh học động
vật chân khớp ở đất ớ Vườn quốc gia Tam Đáo. tính Vĩnh Phúc.
Nội dung:
+ Thu thập vật mẫu dộng vật chân khớp ở dát theo phưưng pháp cua c. Philip
Wheater và Helen J. Read (1996) tại Vườn quốc gia Tam Đáo vào thane
+ Phân tích mẫu vật dộng vật chân khớp ớ đất trong phòng ihí nnhiệm;
+ Xứ lý sô liệu và tính loán các chí so da dạng sinh học.
c. Các kết quá đạt được:
- Thu được 721 mẫu vật dộng vậl chân khớp;

148 species of 40 families. 13 orders were recognized.
- The biodiversity indcxs (Mariialef (d). Fisher (a). Shannon - Weiner ill’).
Simpson (C)) W’CI'C calculatcd.
MỤC LỤC
Trang
1. Mở đầu 1
2. Sơ bộ về tình hình nghiên cứu đa dạng sinh học ở Vườn quốc 2
gia Tam Đảo trong những năm gần đáy
3. Thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu 6
3.1. Sơ bộ về điều kiện tự nhién của khu vực nghiên cứu 6
3.2. Thời gian và địa đicm nghiên cứu 7
3.3. Phương pháp nghiên cứu 7
4. Kết quả nghiên cứu 11
4.1. Thành phần loài động vật chán khớp ở đất ở Vườn quốc gia 11
Tam Đảo
4.2. Đánh giá tính đa dạng động vật chân khớp ở đất ở Vườn 15
quốc gia Tam Đảo
5. Kcì luận và đề nghị 19
Tài liệu tham khảo 22
Phụ lục 25
1. MỞ ĐẦU
Động vật chán khớp nói chung khá đa dạng về hình thái và chức năng,
chúng giữ những vai trò thiết yếu trong hệ sinh thái như là sinh vật ăn cỏ,
sinh vật thụ phấn, sinh vật phán huỷ, sinh vật hỗ sinh, sinh vật ãn thịt và là
con mồi cho bò sát, chim và thú (Wilson 1987; Samways 1994). Nhiều
nhóm động vật chân khớp có vòng đời ngắn, do vậy sự dao động về số
lượng cá thể trong quần thể có thể diễn ra một cách nhanh chóng, phản ánh
kịp thời những biến đổi về chất lượng nơi sống và các quá trình sinh thái
(Wolda 1978; South wood, Brown & Reader 1979; Brown & South wood
1983; Andersen 1990; Williams 1993). So với động vật có xương sống, mật

phần ỉớn dãy núi Tam Đao và phân bô O' độ cao dưó‘i 800m, với nhiêu tâng
tán và những loài cây có giá trị kinh tế như: Chò chi (Shorea chinensis),
gioi (Michelia SP), re {Cinamomum Itaỉ), trườna mật (Pawiesia
aimamensis)
- Rùng kín thường xanh mưa âm á nhiệt đới núi thâp: Kiêu rừne này
phân bố từ độ cao 800m trở lên và trong quân hệ thực vật cua kiêu rừng
này không còn các loài thuộc họ dầu (Dipterocarpaceae). Thực vật ờ đây
gồm các loài trong họ re (Lauraceae), họ dẻ (Faeaceae), họ chè (Theaceae),
họ mộc lan (Macroliaceae), họ sau sau (Hamamelidocene) Từ độ cao
lOOOm trở lên xuất hiện một số loài thuộc ngành hạt trần như: Thông nànc
(.Daciycarpus imbìTĨcatus), pơ mu (Fokieria /lờdginsii), thông tre
(Podocarpus neriifolicv), kim giao (Nageia fleun'i) Dưới tán kiêu rừnẹ
nàv thườne có các loài như: vầu đẳne, sặt gai. Các loài cây bụi thuộc họ cà
phê (Rubiaceae), đơn nem (Myrsiraceae), họ thâu dâu (Euphorbiaceae)
- Rừng lùn trên đinh núi: Là kiêu phụ đặc thù cua rừnc kín thườne
xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp mà thực vật chu vêu là các loài cây thuộc
họ đỗ quyên (Ercaceae), họ re (Lauraceae), họ de (Faeaceae), họ hôi
(Illiciaceae), họ thích (Aceraceae) Kiểu rừna này xuất hiện ơ các đỉnh
núi cao khoảng lOOOm trở lên.
- Rừng tre nứa: ở Vườn quốc gia Tam Đảo rừng tre nứa không có
nhiều (chỉ có 884 ha) và thường phân bố ở độ cao trên 800 m, có các loài
tiêu biểu là: vầu, sặt gai ơ độ cao 500 (800m là cây giang và dưcri 500m là
nứa).
2
- Rừng phục hồi sau nương rẫy, sau khai thác: Trước khi thành lập
Vườn quốc gia Tam Đảo, rừng ở đây chỉ được bảo vệ từ độ cao 400m trơ
lên, dưới 400m là rừng kinh tế, nên rừng ở đây các lâm trường đã khai thác
gỗ với cường độ cao và một phần diện tích ở đây được dân làm nươne. rẫy.
Ngày nay diện tích này được bảo vệ phục hồi rùng với các loài câv: Dung
(Sympiocos SP), màng tang (Litsea cubeba), dền (.Xyỉopia vielana), ba soi

Nam và có tới 38 loài mang nguồn gen quý hiếm được ghi trong sách đò
Việt Nam.
Hệ thực vật rừng của Tam Đảo rất đa dạng, có nhừng loài rất quý
hiếm như: Kim tuyến; vù hương: kim eiao; de tùne dọc trắng: trầm
hương Tam Đảo có nhiêu loại thực vật có giá trị vê mặt bao tôn.
0 đảv có
tới 42 loài đặc hữu và 64 loài quỷ hiếm cần được bao vệ.
Trong các loài thực vật trên có 42 loài đặc hữu và 64 loài quý hiếm
cẩn được bảo tôn và bảo vệ như: Hoàng thao Tam Đao (Dendrobium
daoensis), trà hoa dài (Camellia ỉongicaudata), trà hoa vàne Tam Dao
('Camellia peteỉotii), hoa tiên (Asarum peteỉotii), chuỳ hoa leo (Molas
tamdaoensis), trọng lâu kim tiên (Paris delavavi)
2.2. v ề động vật có xương sống
Khu hệ động vật có xương sông VỌG Tam Đảo đã được nhiêu tác
giả người Pháp nghiên cứu và công bố vào nhữnc năm 30 và 40 cua thế ky
20 như: Delacour (1931), Ossood (1932), Bourret (1943) Sau năm 1954
các nhà khoa học Việt Nam đã bẳt đầu thực hiện các nghiên cưú độns vật
tại Tam Đảo. Tổng hợp các kết quả điều tra, đã thổne kê được ơ Tam Đao
có 406 loài động vật có xươne. sống, trone đó có 64 loài thú. thuộc 8 bộ. 25
họ, 48 giống; 239 loài chim, thuộc 16 bộ, 50 họ. 140 giống; 75 loài bò sát.
thuộc 3 bộ, 14 họ, 46 giống và 28 loài lường cư, thuộc 3 bộ, 7 họ, 11 giống.
Lớp thú, tính đa dạng loài cao nhất là bộ ăn thịt có 23 loài; gặm nhấm có 20
loài; bộ Linh trưởng có 6 loài; bộ Dơi và bộ Guốc chằn, mồi bộ có 5 loài;
bộ ăn sâu bọ có 2 loài; bộ nhiều răng và bộ Tê tê mồi bộ có 1 loài.
Lóp chim có 239 loài, trong đó bộ có tính đa dạng cao nhất là bộ
chim sẻ có 147 loài, tiếp đến là bộ Gõ kiến có 15 loài; bộ Sả có 12 loài; bộ
Cu cu có 12 loài
4
Lớp bò sát có 75 loài, tính đa dạng cao nhất có các bộ: bộ có vảy có
69 loài; bộ rùa có 6 loài.

Quá trình nghiên cứu ở các giai đoạn khác nhau đã chứng minh được
tính đa dạng côn trùng của VQG Tam Đảo. Năm 2003, Trương Xuân Lam
đã ghi nhận có 18 loài bọ xít ăn sâu trên các câv trồng ở vùng đệm VQG
Tam Đảo [11]. Trong danh lục côn trùng của VQG Tam Đảo năm 2001 mới
chỉ ghi nhận 11 loài bọ xít ăn sâu [24]. Trong các năm 2002-2004. Vũ
Quang Côn, Trương Xuân Lam đã xác định được 38 loài bọ xít ăn sáu thuộc
9 phân họ tài VQG Tam Đảo và vùng đệm, trong đó có 34 loài thu được tại
vùng lõi, chiếm 42,5% số loài có mặt ở miền Bắc Việt Nam [4],
Năm 2004, Trương Xuân Lam ghi nhận có 39 loài bưóm đêm thuộc
họ Sphingidae, trong đó phân họ Sphingidae có 8 loài (chiếm 20.51%).
phân họ Smerinthinae có 15 loài (chiếm 38.46%) và phán họ
Macroglossinae có 16 loài, chiếm 41,02% [12].
Những nghiên cứu về từng nhóm côn trùng cụ thể trong nhũng nãm
gần đây cho thấy ở Tam Đảo đã thống kê được 30 loài cánh thẳng, thuộc 5
họ (Lưu Tham Mun, Lê Xuân Huệ, Nguyễn Đức Hiệp) [15]. 85 loài kiến,
thuộc 38 giống, 7 phán họ (Bùi Tuấn Việt) [23]; 360 loài bướm thuộc 11 họ
bướm ngày (Vũ Văn Liên) [14]; 23 loài chán chạy Carabidae thuộc bộ cánh
cứng Coleoptera (Nguyễn Đức Hiệp, Vũ Quang Côn) [9]; 72 loài nhện,
trong đó có 32 loài nhện nhảy (Phạm Đình sắc và các cộng sự) [20, 21], 21
loài ong (Nguyễn Thị Phương Liên, Khuất Đăng Long) [13], 38 loài mối
thuộc 4 họ. 15 giống (Nguyễn Văn Quảng, Lê Ngọc Hoan và Nguyễn Thuý
Hiền) [19] và 43 loài bọ xít ăn thịt trên các cây trồng ở vùng đệm Vườn
quốc gia Tam Đảo (Vũ Quang Côn, Trương Xuân Lam) [3].
3. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
3.1. So bộ về điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu
Vườn quốc gia Tam Đảo được thành lập vào năm 1996, trải dài từ
21 °21 ’ đến 21°23’ vĩ độ Bắc và 105°23‘ đến 105°44’ kinh độ Đông, nằm
trên địa phận 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên. Tuyên Quang. Vườn quốc
gia nằm trong khối núi dài 80km, chạy theo hướng Đống Bắc - Tâv Nam,
từ huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) đến huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc). Diện

Đối với phương pháp thu mẫu định lượng, chúng tôi sử dụng các cốc
nhựa có đường kính 6 cm, chiều cao 10 cm, làm thành các bẫy (pitfall traps)
để thu động vật chân khớp ở đất (theo phương pháp của c. Philip Wheater
7
và Helen J. Read (1996)). Bẫy được đặt khít trong các hồ sao cho miệng
bẫy ngang bằng với mặt đất. Bên trong chứa nước xà phòng hoặc nước muối
để hấp dẫn động vật chân khớp và đồng thời có tác dụng lưu giữ, bảo quản
mẫu vật.
Tại mỗi điểm nghiên cứu, chúng tôi tiến hành đặt 24 bẫy. Các bảy
được xếp thành 4 hàng dọc, mỏi bẫy cách nhau 5 m.
Cứ sau 2 ngàv, mẫu vật được thu lại, làm sạch, sau đó định hình trong
cồn 75°, ghi eteket và đưa về phân tích tại phòng thí nghiệm của Bộ môn
ĐVKXS, trường ĐHKHTN - ĐHQG Hà Nội với sự hỗ trợ của các tài liệu
phân loại động vật chân khớp chính như: Tài liệu phân loại kiến của Bolton
(1997), Plowes & Patrock (2000); phân loại cánh cứng của Jameson &
Ratcliffe (2000) và các tài liệu phân loại của Wheater & Read (1996),
Choate (2003), Dindal (1990)
Việc phân tích mẫu được thực hiện theo nguyên tắc: Đối với các
nhóm côn trùng xã hội, đi kiếm ăn theo đàn (kiến, mối) thì chỉ tính tới 5 cá
thê'/ một loài/ một bẫy. Đối với một số nhóm phân loại, do tài liệu phân loại
8
chưa đầy đủ và thời gian hạn hẹp, chúng tôi chỉ xác định được đến "dạng
loài" làm cơ sở cho việc tính các chỉ số đa dạng.
Các chỉ số đa dạng sinh học được sử dụng:
1. Chỉ sỏ phong phú loài của Margalef (d)
d = (S-l )/lnN
Với:
d: chỉ số phong phú loài Margalef
S: Tổng số loài trong mẫu
N: Tổng số lượng cá thể trong mảu

n,: số cá thể của loài i
Chỉ số ưu thế c thấp khi đa dạng loài cao và ngược lại.
Từ 1 -3: Đa dạng sinh học khá
Trong đó: 2-3: Trung bình khá
1-2: Trung bình kém
< 1: Đa dạng sinh học kcm và rất kém.
10
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Thành phần loài động vật chân khớp ở đất ỏ Vườn quốc gia
Tam Đảo
Bằng phương pháp thu mẫu định tính và định lượng, chúng tồi đã thu
được 148 loài động vật chân khớp, thuộc 40 họ, 13 bộ (Hvmenoptera.
Dermaptera, Pseudoscorpionida. Diplura, Opliones, Chilopoda. Hemiptera.
Blattoptera, Isoptera, Isopoda, Orthoptera Coleoptera và Aranca). Trong đó.
chúng tôi thu được 68 loài, thuộc 24 họ, 11 bộ ỏ' sinh cảnh rừng tự nhiên ít
bị tác động; 80 loài, thuộc 25 họ, 11 bộ ở sinh cảnh ven rừng và 58 loài,
thuộc 21 họ, 10 bộ ở sinh cảnh đất canh tác (Bảng 1).
Bảng 1: Thành phần động vật chân khớp thu được ỏ Vườn quốc gia
Tam Đảo vào tháng 6/2007
Bộ
Tống sô RTNIBTĐ Ven rừng Đất canh tác
Số họ
Số
loài
Số họ
Số
loài
Số họ
Số
loài

Hemiptera
2 2
1 1
1 1
Blattoptera 2
3
1 1
1
1 1
1
Isopoda
2
4
1
3
2
2
2
2
Ám
Orthoptera 4 8
3
4 3
5 2 3
Coleoptera
9
28
7
11
7

Số họ
sỏ loài Sỏ họ
Só loài
SL
% SL %
SL
% SL % SL %
SL
%
Isoptera
2
8,3
18
26,4
3 12,0 20 24.9 2 9.5 9
15.5
Hymenoptera
1 4.2 22 32.3 1 4.0
28
34.9 1
4.8 22
38.0
Dermaptera 1 4,2
1
1,5
Pseudoscorpionida
1 4,2
1
1,5
Diplura

4,4
2
8,0
2 2.5 2
9.5 2
3.4
Orthoptera
3
12,5 4 5,9
3
12,0 5 6,3 2 9.5
3
5.2
Coleoptera 7
29,1 11
16,2
7
28,0
13
16.2
5
23,7 12
20,8
Aranea 4 16.6 4
5,9
4 16,0 7 8,8 4 19.0 5 8,6
Tổng 24 100
68
100 25 100 80 100 21 100 58 100
Tuy nhiên, ở tất cả các sinh cảnh nghiên cứu. bộ Hymenoptera lại có

Sô cá
thể
Số loài
Số cá
thể
Số loài
Sô cá
thê
HYMENOPTERA
1
Formicidae
22 128 28 155
22
140
DERMAPTERA
2
Forficulidae
1
1
PSEUDOSCORPIONIDA
3
Cheliferidae
1 1
DIPLURA
4
Japygidae
1
1
1 1
OPLIONES

2
13
Hemiptera
1
1
BLATTOPTERA
14
Blattidae
1
1
15
Blattellidae
1 5
1
2
ISOPTERA
16
Termitidae 1
3
1
1
1
1
ISOPODA
17 Ligiidae
3
11 1
1
1
7

24
Scarabaeidae
1
1
3
5
2
8
25
Hydrophilidae
2
2
1
1
26
Carabidae
3
4 2
2
27 Lucanidae 1 1
28
Psetaphidae 1
4
1 9
29
Elateridae
1 1
2 2 2
2
30

36
Lycosidae
2
14
2 4
37
Thomicidae
1
2
14
38
Hexathelidae
1
1
Tổng
51
208
61
289
224
50
ở tất cả các sinh cảnh nghiên cứu. bộ Hvmenoptera có số lượng loài
và số lượng cá thể rơi vào bẫy nhiều nhất, chiếm gần mội nửa tổng số loài
và hơn một nửa tổng số lượng cá thê thu được của tất cả các bộ (rừng tự
nhiên ít bị tác động: 22 loài, chiếm 43,1%; ven rùng: 28 loài, chiếm 45,9%;
đất canh tác: 22 loài, chiếm 44,0%).
Tuy nhiên, bộ cánh đều (Isoptera) lại rơi vào bẫy rất ít, chi có 1 loài
mối đất Macrotermes annandaìei với số lượng lừ 1-3 con.
4.2. Đánh giá tính đa dạng động vật chán khóp ở đát ỏ Vườn
quốc gia Tam Đảo

61 289
10,589
5,163
23,601 0,037
Đất canh tác 11
20
50
224
9,055
4,928
19.982
0.046
Chỉ số đa dạng Fisher (a) của khu hệ chân khớp ở đất cao nhất ở sinh
cảnh ven rừng (oCvr = 23,601), tiếp theo là sinh cảnh rừng tự nhiên ít bị lác độns
(aRWIKrĐ = 21,555) và thấp nhất ở sinh cảnh đất canh lác (a{x:r = 19,982).
15
Tương tự, chỉ số phong phú MargaJef (d) của khu hệ chân khớp ở đất
cũng cao nhất ở sinh cảnh ven rừng (dvR= 10.589), tiếp theo là sinh cảnh rừng tự
nhiên ử bị tác đớng< djfJJ,= 93681 và tháp nhái ở sinh cảnh đái earth lác
ídb;j=9jQ55).
Bên cạnh đó, chỉ số Simpson (C) của khu hệ chân khớp ớ sinh cảnh rừng
tự nhiên ít bị tác động lại cao hơn ở sinh cảnh ven rừng và thấp hơn ở sinh cảnh
20
15
10
0
Hình 1. Chì so phong phú loài M argalef (<l), chì so <ta (lạng Fisher <(J)
và chi so ƯII the Simpson (C) cùa (tộng vật chau khóị) ó các sinh canh
Iigỉiiéii cứu
□ RTNIBTĐ H Veil lừng □ ĩ)át canh rác

3,859
7,337 0,089
Chỉ số đa dạng Shannon - Weiner (H') của các loài kiến thu được
trong 3 sinh cảnh đều lớn hơn 3 (H,K1-NimĐ=3.856; H ’vK=4,142;
H V ,=3 ,859), cho thấy kiến ớ cả ba sinh cảnh nghiên cứu đều có mức độ đa
dạng sinh học khá cao.
Chỉ số đa dạng Fisher (ot) của kiến cao nhất ở sinh cảnh ven rừng (a VR
= 9,981), tiếp theo là sinh cảnh rừng tự nhiên ít bị tác động (aR1Nmm = 7,651)
và thấp nhất ở sinh cảnh đất canh tác (alXT = 7,337).
Tương tự, chỉ số phong phú Margalef (d) của kiến cũng cao nhất ớ sinh
cảnh ven rừng (dvR= 5,354), tiếp theo là sinh cảnh rừng tự nhiên ít bị tác động
(dR|NI]ỉm=4,328) và thấp nhất ở sinh cảnh đất canh tác (dfx-1=4,250).
d ( l o à i)
Hìiih 2. Chì so phoug phú loài Margalef (<l), chì so (ta (lạng Fisher (U)
và chì so ƯU thế Simpson (C) cùa kién ờ các sinh cành nghién cíni
□ RTNIBTĐ ■ Ven rừng □ Đất canh tác
-MI H Ọ C Q U Ộ C G IA HÀ NỘI
RUNG TẨM THÒNG TIN ĨHƯ VIỀN
DT / 3
u
17
Bên cạnh đó, chỉ số Simpson (C) của khu hộ chân khớp ở sinh cảnh rừng
tự nhiên ít bị tác động (CRTNIBTĐ=0,086) lại cao hơn ở sinh cảnh ven rừng
(0^=0,072) và thấp hơn ở sinh cảnh đất canh tác (Cqct^O.OSỌ).
Các kết quả trên cũng phản ánh lên mức độ đa dạng của kiến ở các sinh
cảnh nghiên cứu: sinh cảnh ven rừng có độ đa dạng cao nhất, tiếp đến là sinh
cảnh rừng tự nhiên ít bị tác động, sinh cảnh đất canh lác có độ đa dạng thấp
nhất.
Như vậy, các chỉ số đa dạng sinh học dựa trên các dẫn liệu thực
nghiệm điều tra đã cho thấy, mặc dù cả ba sinh cảnh nghiên cứu đều có tính

10,589) và cao hơn ở sinh cảnh đất canh tác (19.982 và 9,055), trong khi giá trị
chỉ số ưu thế Simpson (C) ở sinh cảnh rừng tự nhiên ít bị tác động lại cao hơn ở
sinh cảnh ven rừng và thấp hơn ở sinh cảnh đất canh tác. Kết quả trên phản ánh
khu hệ động vật chân khớp ở đất ở sinh cảnh ven rừng có độ đa dạng cao nhất
tiếp đến là sinh cảnh rừng tự nhiên ít bị tác động và sinh cảnh đất canh lác có độ
đa dạng thấp nhất.
19
Kết quả nghiên cứu này, cùng với kết quả nghiên cứu về đa dạng
động vật chân khớp ở đất ở khu vực Mã Đà và Vườn quốc gia Cát Tiên
(Đồng Nai) [118] đã mở ra một hướng nghiên cứu mới: sử dụng các chỉ số
đa dạng sinh học để đánh giá đa dạng sinh học động vật chán khớp ở đất.
Phương pháp này sẽ góp phần hữu ích bổ trợ cho việc nghiên cứu đa dạng
sinh học của những nhóm chân khớp cụ thể.
Đề nghị: Cần tiến hành thêm nhiều nghiên cứu tương tự để hoàn
chỉnh hơn phương pháp nghiên cứu, nhằm đưa phương pháp này trở thành
một cổng cụ hữu ích để nghiên cứu đa dạng sinh học của chân khóp nói
chung hoặc từng nhóm chân khớp cụ thể.
20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bolton B., 1997. Identification Guide to the Ant Genera of the world.
Harvard University Press. London, England.
2. Brown, A. L., M. A., Biol, F. I., 1980. Ecology of soil Organisms.
Heinemann Educational Books. England.
3. Vũ Quang Côn, Trương Xuân Lam. 2003. Vai trò của bọ xít ăn thịt
(Heteroptera) trên các cây trồng ở vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo.
Nhùng vấn để nghiên círu cơ bản trong khoa học sự song. Nxb. Khoa
học kỹ thuật. Hà Nội: 574-578.
4. Vũ Quang Côn, Trương Xuân Lam, 2004. Dần liệu bước đầu về sự đa
dạng của nhóm côn trùng thuộc họ bọ xít ăn sâu Reduviidae (Heteroptera )
tại Vườn quổc gia Tam Đảo. Những vấn đề nghiên cừu CO' ban trong khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status