TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KHOA MÔI TRƯỜNG
--------------------------
BÁO CÁO THU HOẠCH THỰC TẬP THIÊN NHIÊN
Tìm hiểu đa dạng sinh học của kẹp kìm (Lucanidae) ở Vườn Quốc Gia Tam Đảo,
vai trò của kẹp kìm (và ấu trùng) đối với môi trường Vườn Quốc Gia Tam Đảo.
Đề xuất các biện pháp bảo tồn và kiểm soát nhóm động vật này
Sinh viên: Đặng Nguyệt Anh
Nguyễn Quỳnh Anh
Chử Hoàng Lan
Phạm Mỹ Linh
Lê Việt Anh
Nguyễn Tuấn Anh
Lớp:
ĐH2QM6
Nhóm:
06
Hà Nội, 06/2014
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của chuyên đề thực tập
Họ Lucanidae, tên Việt Nam là kẹp kìm, bọ ngà, bọ sừng hươu, là một họ thuộc bộ
Cánh cứng. Có khoảng 1400 loài đã được ghi nhận trên toàn thế giới (Fujita,2010). Ở Việt
7h00 sáng xuất phát từ trường Đại học
Tài Nguyên & Môi Trường HN
- Đi theo tuyến đường Phạm Văn Đồng
(hướng cao tốc Thăng Long – Nội Bài)
- Tiếp tục đi theo hướng TX.Phúc Yên
(qua huyện Mê Linh rồi qua Tiền Châu)
- Sau đó đi hướng TP.Vĩnh Yên,vào
thành phố khoảng hơn 10km rồi rẽ phải
- Vào thị trấn Tam Đảo, rồi lên Vườn
Quốc Gia lúc 9h00 sáng
- Sau 3 buổi thực địa và thăm quan các địa điểm ở KDL Tam Đảo, sáng 10-6 đoàn đã lên
đường về Hà Nội kết thúc tốt đẹp chuyến đi.
3
1.2. Tuyến hành trình và các vị trí các điểm khảo sát
- Chiều ngày 8/6, bắt đầu tuyến khảo sát thực tế lên Tháp Truyền Hình. Trải qua 1567 bậc
thang. Tháp truyền hình: cao 93 m trên đỉnh Thiên Nhị với độ cao 1.375 m. Ðường đi lên
tuy vất vả nhưng lãng mạn, nên thơ. Dọc đường lên là hoa phong lan, hoa cúc quỳ và các
loài hoa dại không tên khác nở đầy lối đi, tỏa hương thơm lạ, mầu sắc rực rỡ... Ở nơi đây
nhiều loại bướm đủ mầu rập rờn trên hoa lá, đậu, bay theo du khách như các sứ giả đón
khách ghé thăm. Lên tới đỉnh, phóng tầm mắt ra bốn phía là mênh mông trời, đất, gió,
mây...
- Sáng ngày 9/6, dự định đi lên Đỉnh Mỏ Quạ nhưng do không rõ đường nên chuyển sang
Thác Bạc. Từ trung tâm thị trấn Tam Đảo, rẽ phải theo lối mòn, hút xuống thung lũng sâu,
thác Bạc giấu mình trong núi, bí ẩn đổ xuống dòng nước trắng bạc, lóng lánh ánh mặt trời
phản chiếu sắc cầu vồng. Một dòng suối nhỏ từ trên cao 50 m ào ào tuôn nước, thả vào
gió tiếng suối, tiếng rừng, tiếng lá dội vào vách đá nghe thâm u như tiếng ngàn xưa... Con
thập các tài liệu cơ bản về khu vực nghiên cứu có liên quan đến đề tài để từ đặc điểm hình
thái bên ngoài của loài nhận biết được những loài trong các giống của họ Lucanidae
Từ sự quan sát nhận biết ra các loài của họ Lucanidae, tiến hành chụp lại để lấy cơ
sở nghiên cứu và phân tích cụ thể đặc điểm hình thái
Quan sát các mẫu để nhận biết thêm về hình thái, tập tính… của chúng
2.3. Phương pháp ghi chép, mô tả
Mỗi lần quan sát nhận thấy mẫu, loài, tiến hành ghi lại vị trí, độ cao (ước chừng)
để xác định vị trí sinh sống của phân loài
So sánh, phân loại trên cơ sở tranh, hình ảnh, sự mô tả các loài, phân loài đã được
in ấn công bố từ trước tới nay
2.4 Thu thập mẫu vật
Thu thập, sưu tầm tất cả các mẫu thuộc họ Lucanidae
6
PHẦN 3: Giới thiệu khái quát đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi
trường, kinh tế - xã hội các khu vực nghiên cứu
Tam Đảo là tên của 3 đỉnh Thiên Thị, Thạch Bàn và Phú Nghĩa nổi lên trên biển
mây trắng trong dãy núi Tam Đảo. Dãy Tam Đảo rộng từ 10-15 km, chạy dài trên 80km
theo hướng Tây Bắc – Đông Nam trên địa bàn 3 tỉnh: Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên
Quang, cách thủ đô Hà Nội 75km về phía Bắc
Rừng tự nhiên Tam Đảo giữ vai trò điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ
môi trường sống cho một phần đồng bằng Bắc Bộ trong đó bao gồm cả thủ đô Hà Nội
Đầu thế kỷ XX, người Pháp đã chọn Tam Đảo xây dựng thành khu nghỉ mát ở độ
cao 950m so với mực nước biển với nhiều biệt thự kiểu dáng Châu Âu. Khí hậu mát mẻ,
trong lành mang sắc thái như vùng ôn đới
Tài nguyên rừng Tam Đảo rất phong phú và đa dạng với trên 2000 loài thực vật và
hàng trăm loài động vật, côn trùng tạo tên tính đa dạng sinh học cao; trong số đó có nhiều
loài quý hiếm và đặc hữu không chỉ riêng cho Tam Đảo còn cho Việt Nam. Rừng núi
Tam Đảo đẹp, hùng vĩ, từ lâu đã được nhiều người trong và ngoài nước biết đến với khu
cải thiện môi trường sống cho đồng bằng trung du Bắc Bộ và Hà Nội
Tham gia tổ chức việc tham qua du lịch và nghỉ mát
Góp phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân trong vùng đệm
3.1. Điều kiện tự nhiên
3.1.1. Vị trí địa lý
VQG Tam Đảo nằm trải dài từ 21021 – 21042 độ vĩ Bắc và từ 105023-105044 độ
kinh Đông, nằm trên địa phận 3 tỉnh : Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang. Đây là
dãy núi lớn dài 80km, chạy theo
hướng Tây Bắc – Đông Nam.
Phía Bắc giáp xã Quân Chu;
Phía Nam giáp xã Hướng Đạo;
Phía Đông giáp xã Minh Quang;
Phía Tây giáp xã Tam Quan;
Phía Đông Bắc khu Tam Đảo
giới hạn bởi quốc lộ 13A, từ ranh
giới huyện Phố Yên – Đại Từ(Thái
Nguyên) đến Đèo Khế(Tuyên
Quang). Phía Tây Nam là đường ô
8
tô mới mở kéo dài từ quốc lộ 13A chỗ gần chân Đèo Khế dọc chân núi Tam Đảo đến xã
Mỹ Khê, ranh giới huyện Bình Xuyên và huyện Mê Linh(Vĩnh Phúc).
Trung tâm VQG Tam Đảo cách thủ đô Hà Nội 75 km về phía Tây Bắc và cách
Thành phố Vĩnh Yên 13 km về phía Bắc.
3.1.2. Địa hình, địa chất thổ nhưỡng
Địa hình
Địa hình Tam Đảo có đặc điểm là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu, dày bởi
nhiều dông phụ gần như vuông góc với dông chính. Phía Đông Bắc các suối chính đều
Nguồn: Số liệu Dự án thành lập VQG Tam Đảo
Nhìn chung, khí hậu ở Tam Đảo tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, đặc biệt
vùng Tam Đảo núi có chế độ khí hậu lý tưởng cho việc phát triển các khu nghỉ mát và
phát triển du lịch sinh thái.
10
3.1.4. Thuỷ văn
Trong khu vực có hai hệ thống sông chính là sông Phó Đáy ở phía Tây và sông
Công ở phía Đông. Đường phân thủy của hai hệ thống sông trên chính là dông núi Tam
Đảo chạy theo Đèo Khế( Sơn Dương) đến Mỹ Khê( Bình Xuyên).
Mạng lưới sông suối hai sườn Tam Đảo dồn xuống chân núi, lưu lượng nước
lớn.Khi xuống tới các chân núi, suối thường chảy dọc theo các chân thung lũng dài và hẹp
trước khi đổ ra vùng đồi và vùng đồng bằng.
Sông suối trong vùng không có khả năng vận chuyển thủy, chỉ có khả năng làm
thủy điênh nhỏ.Việc đắp đập tạo hồ có thể thực hiện được ở nhiều nơi quanh chân núi để
phục vụ sản xuất
3.2. Tài nguyên thiên nhiên
3.2.1. Hệ thực vật rừng Tam Đảo
Tam Đảo nằm trong vùng Đông Bắc Việt Nam, là một trong 9 vùng địa lý sinh học
có sự đa dạng cao về thành phần hệ thực vật. Hơn nữa, đây còn là nơi giao lưu của các
vùng địa lý sinh học khác như Hoàng Liên Sơn, Bắc Trung Bộ. Đặc điểm về địa hình,
hướng phơi, độ cao, khí hậu, thủy văn, tác động của con người kết hợp với đặc tính sinh
thái của từng loài cây làm cho hệ thực vật VQG Tam Đảo càng đa dạng và phong phú.
Nhìn chung, hệ thực vật Tam Đảo khá phong phú, được phân bố trên nhiều sinh
cảnh khác nhau như tràng cây bụi, tràng cỏ, các loài cây gỗ trên núi đất và núi đá.Đến
nay, thống kê sơ bộ hệ thực vật rừng Tam Đảo (chỉ tính thực vật bậc cao có mạch) gồm
213 họ, 478 chi và 904 loài, trong đó 38 loài mang nguồn gen quý hiếm và nguy cấp
được Sách Đỏ Việt Nam ghi nhận, cần được ưu tiên trong bảo tồn.
1296
Nguồn:Số liệu Dự án thành lập VQG Tam Đảo
11
Tỷ lệ(%)
29,40
8.41
12.19
28.94
2.47
6.63
11.73
0.39
100.00
3.2.2.Hệ động vật rừng Tam Đảo
Trong khu vực Tam Đảo đến nay đã phát hiện được 840 loài động vật bao gồm 64
loài thú, 240 loài chim, 75 loài bò sát, 28 loài ếch nhái và 434 loài côn trùng, trong đó có
39 loài và phân loài đặc hữu
Bảng 3. Thành phần hệ động vật Tam Đảo
Lớp
Thú
Chim
Bò sát
Lưỡng cư
Côn trùng
Tổng số
Số bộ
3.3. Tình hình dân sinh – kinh tế xã hội
3.3.1. Đặc điểm chung của vùng đệm
Vùng đệm VQG Tam Đảo nằm trên địa phận 23 xã, thuộc 6 huyện thi của 3 tỉnh:
Vĩnh Phúc, Thái Nguyên và Tuyên Quang với diện tích 53.469 ha và dân số là 183.996
người (số liệu điều tra năm 2004).
Dân bản đại tại khu vực này gồm 2 thành phần chính là người Kinh và nhóm cộng
đồng các dân tộc thiểu số gồm: Dân tộc Sán Dìu, Dao, Nùng, Hoa, Sán Chỉ và Tày.
3.3.2.Các lễ hội
Lễ hội Tây Thiên( Đại Đình- Tam Dương- Vĩnh Phúc) lễ hội chính vào ngày 15
tháng 2 năm âm lịch. Hàng năm Ủy ban nhân dân huyện Tam Dương thay mặt ủy ban
nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đứng ra chủ trì lễ hội. Trong những ngày lễ hội khác rất đông,
ngoài đại diện của các tỉnh lân cận còn có rất nhiều đoàn khách từ các tỉnh phía Nam và
miền Trung cùng các du khách trên mọi miền tổ quốc về dự( Theo thống kê chưa đầy đủ
của Ban quản lý khu danh thắng Tây Thiên năm 1999 có 120.000 lượt người thăm viếng)
Đền Tây thiên thờ nữ chúa Tam Đảo Năng Thị Siêu, sau khi giúp vua Văn Lang
đánh giặc ở thành Phong Châu, bà đã kết duyên cùng Lang Liêu( vua Hùng Thứ 6). Bởi
vậy sắc phong đời sau tôn bà là” Quốc mẫu Tây Thiên”.Huyền thoại kể rằng bà là một
trong bảy nàng tiên xuống núi chữa bệnh, trừ bạo nghich, cứu đọ chúng sinh. Đức độ của
Quốc mẫu Tây Thiên được tôn thờ tới ngày nay và được công nhận là di tích lịch sử văn
hóa.
12
3.3.3. Du lịch ở Tam Đảo
Tam Đảo có nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp, có thế mạnh trong phát triển phát
triển du lịch và xây dựng các khu nghỉ mát cuối tuần như:
- Vùng Tam Đảo núi quanh năm có mây mù bao phủ tạo ra cảnh quan thiên nhiên nên
thơ, tuyệt diệu.
- Một số thác nước và mặt nước các công trình thuỷ lợi đẹp như thác Thác Bạc, Thậm
Serrognathus; Nigidius; Katsuraius; Rhaetulus; Hexarthrius cùng chỉ có 1 loài, chiếm 3%
tổng số loài của cả khu hệ
Với 42 loài có mặt ở vườn Quốc gia Tam Đảo (39 loài đã được ghi nhận bởi
Fujita) cho thấy tiềm năng đa dạng cùa nhóm côn trùng này tại khu vực nghiên cứu. Có
thể thấy rõ hơn đa dạng loài của nhóm côn trùng này, nếu so với khu hệ Lucanidae của
Việt Nam (132 loài) quần xã Lucanidae chiếm khoảng 31,82%, bằng gần 1/4 số loài số
loài đã được phát hiện trong cả nước.
15
4.2. Đặc trưng phân bố của các loài thuộc họ Lucanidae ở Tam Đảo
4.2.1. Phân bố theo sinh cảnh
Kết quả thống kê số loài trong các sinh cảnh được trình bày trong bảng 4.2 cho
thấy, ở các sinh cảnh khác nhau thì số loài Lucanidae thu được cũng khác nhau.
Cụ thể: Sinh cảnh rừng nguyên sinh có số lượng loài thu được nhiều nhất (25 loài,
chiếm 85,33% tổng số loài tìm thấy trong khu vực điều tra); tiếp đến là sinh cảnh rừng
đệm (thu được 18 loài chiếm 60%); rừng nhân tác có số loài Lucanidae ít nhất (14 loài
bằng 46,66 % tổng số loài có trong khu vực). Như vậy đặc trưng của thảm rừng hay mức
độ tác động của con người đã ảnh hưởng rõ rệt đến thành phần loài côn trùng thuộc họ
Lucanidae trong khu vực nghiên cứu, theo chiều hướng mức độ tác động con người lên
thảm rừng càng mạnh mẽ thì số loài của Lucanidae tồn tại trong đó càng ít
Bảng 4.2. Phân bố của các loài Lucanidae trong các sinh cảnh khác nhau tại khu vực
VQG Tam Đảo
STT
Loài thu được
1
2
3
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
Rừng nhân
tác
X
X
X
X
Rừng đệm
X
O
X
X
Rừng nguyên
sinh
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
O
X
O
X
X
X
X
X
X
X
X
X
X
16
21
22
23
24
25
O
O
30 Nigidius laoticus
O
O
Tổng số loài xuất hiện
14
18
%
46,66
60,0
Sô loài chỉ gặp trong 1
3
2
sinh cảnh
Ghi chú: “X”: Có xuất hiện; “O”: Không xuất hiện
X
X
X
O
O
O
X
X
X
X
25
83,33
7
Lucanidae theo các đai độ cao rất rõ rệt. Ở dải độ cao > 900m , thu được 29loài trên tổng
số 30 loài được phát hiện ở VQG Tam Đảo, chiếm 96,7%. Độ cao từ 700m đến 900m thu
được 12 loài, chiếm 40% tổng số loài. Ở độ cao từ 300m đến 700m ,chỉ thu được 4 loài,
chiếm 13,3%. Như vậy ở Vườn Quốc gia Tam Đảo Lucanidae phân bố chủ yếu ở độ cao
trên 900m, chúng cũng phân bố ở các dải độ cao thấp hơn nhưng với số lượng loài ít hơn
nhiều. Chỉ có 3 loài gặp ở cả 3 dải độ cao (Odontolabis siva, Odontolabis cuvera,
Neolucaus parryi) chúng được xem là những loài phân bố rộng theo độ cao, trong khi có
tới 18 loài phân bốhẹp theo độ cao, chúng chỉ gặp ở đai độ cao trên 900m.
21
4.3. Một số giống được ghi nhận ở Tam Đảo
4.3.1. Giống Prosopocoilus
Prosopocoilus suturalis
Prosopocoilus oweni
Prosopocoilus crenulidens
Phân bố: Trung Quốc, Thái Lan và Lào.
Ở Việt Nam loài này đã được ghi nhận
chủ yếu ở miền Bắc Việt Nam: Lạng
Sơn, Hòa Bình, Chiêm Hóa, và Tam Đảo
(Vĩnh Phúc)
4.3.2. Giống Serrognathus
22
đôi; Tấm ngực trước có một tấm da ở giữa kéo dài lên phía trước tạo thành một cái gai lớn
4.3.4.Giống Hexarthrius
Giống Hexarthrius viatalisi tsukamotoi được phát hiện tại núi Đại Dao tỉnh
Quảng Tây Trung Quốc gần biên giới với Việt Nam. Loài này có cánh màu sắc hơi đỏ, rất
đẹp. Răng trong (càng) của con đực mọc khá rõ ràng, kích thước lớn nhất của chúng được
ghi nhận là 81mm. Con cái nhỏ hơn con đực, cánh ngoài con cái có màu đen bóng trong
khi đó con đực có màu nâu đỏ.
Đây là loài được ghi nhận là sống
nhờ hút chất dịch trong cây (thụ dịch) của
những cây cao có nhánh nhỏ. Chúng xuất
hiện vào khoảng tháng 6 đến tháng 8, những
con ở vùng núi cao có bề ngoài khỏe hơn.
24
4.3.4 Giống Katsuraius
Chiều dài thân tối đa được ghi nhận là: 44 m m
Càng con đực của loài kẹp kìm này
có hình cưa nên chúng được gọi tên là kẹp
kìm càng hình cưa. Thoạt nhìn loài này rất
giống
với
loài Prismognathus
katsurai nhưng nó lại có những đặc trưng
của 2 loài kẹp kìm bản hẹp đỏ và kẹp kìm
bóng.
Đặc điểm chính của con cái là càng
chĩa ra giống hình miệng ly và đây là loài
có khả năng thay đổi hình dạng mặt để