Điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý bảo tồn đa dạng sinh học cá tại hồ Ba Bể, Vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn - Pdf 26

iii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC 3
1.2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC CÁ NƢỚC NGỌT
TRÊN THẾ GIỚI 4
1.3. ĐA DẠNG SINH HỌC CÁC LOÀI CÁ NƢỚC NGỌT Ở VIỆT NAM . 5
1.4. CÁC NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÁC LOÀI CÁ NƢỚC
NGỌT Ở KHU VỰC BA BỂ 6
1.5. MỘT SỐ HÌNH THỨC QUẢN LÝ ĐDSH ĐẤT NGẬP NƢỚC HIỆN
HÀNH 8
1.6. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI VƢỜN QUỐC GIA BA
BỂ 11
1.6.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 11
1.6.2. KINH TẾ - XÃ HỘI 15
CHƢƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 19
2.1.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 19
2.1.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 21

KHUYẾN NGHỊ 70
ĐỐI VỚI VQG BA BỂ VÀ CÁC CƠ QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC 70
ĐỐI VỚI CỘNG ĐỒNG DÂN CƢ 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 75
v
PHỤ LỤC 1. DANH LỤC CÁC LOÀI CÁ THU ĐƢỢC Ở HỒ BA BỂ
2006 76
PHỤ LỤC 2. BẢNG PHỎNG VẤN 84
PHỤ LỤC 3. CÁC NGUỒN THU NHẬP CHÍNH CỦA HỘ GIA ĐÌNH 91
PHỤ LỤC 4. MỘT SỐ HÌNH ẢNH KHU VỰC NGHIÊN CỨU
VÀ MỘT SỐ LOÀI CÁ 92
vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Số liệu khí hậu trung bình tháng khu vực Vƣờn Quốc gia Ba Bể 11
Bảng 2. Dân số các xã nằm trong khu vực Vƣờn quốc gia Ba Bể 15
Bảng 3. Số hộ dân các bản sống xung quanh Hồ Ba Bể 16
Bảng 4. Biến động thành phần các loài cá ở Hồ Ba Bể qua các năm 26
Bảng 5. Thành phần các họ, giống, loài ở vùng Hồ Ba Bể và sông Năng 27
Bảng 6. Tỷ lệ thành phần cá ở Hồ Ba Bể đến 2006 28
Bảng 7. Thành phần loài phát hiện thêm ở Hồ Ba Bể và sông Năng 30
Bảng 8. Các loài cá không phát hiện đƣợc so với trƣớc đây 31
Bảng 9. Tính phong phú loài cá Hồ Ba Bể so với các hồ nƣớc ngọt của Việt Nam
32

HÌNH 3.9: SẢN LƢỢNG CÁ HỒ BA BỂ TỪ 1962-2006 49
HÌNH 3.10: GIÁ TRỊ SẢN PHẨM THU ĐƢỢC TRONG NĂM 50
HÌNH 3.11: BIẾN ĐỘNG SẢN LƢỢNG CÁC LOÀI CÁ KINH TẾ 52
HÌNH 3.12: MỨC ĐỘ CÁC NGUYÊN NHÂN SUY GIẢM NGUỒN LỢI CÁ
HỒ BA BỂ 53
HÌNH 3.13: ĐỘ THƢỜNG GẶP CÁC LOÀI CÁ QUÝ HIẾM 55
HÌNH 3.14: TỶ LỆ PHƢƠNG TIỆN ĐÁNH BẮT 57

viii
CÁC CHỮ VIẾT TẮT
cs
Cộng sự
EXSITU
BẢO TỒN NGOẠI VI
ĐDSH
Đa dạng sinh học
ĐNN
ĐẤT NGẬP NƢỚC
GEF
Quỹ môi trƣờng toàn cầu
HST
HỆ SINH THÁI
Insitu
B¶o tån néi vi
IUCN
TỔ CHỨC BẢO TỒN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI
KBT

VƢỜN QUỐC GIA
WCPA
Hội đồng các khu bảo vệ thế giới
WWF
QUỸ QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ THIÊN NHIÊN
1
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trên thế giới, đất ngập nƣớc đƣợc ƣớc tính chiếm khoảng 6% diện tích địa
cầu, có khoảng 8,6 triệu km
2
đất ngập nƣớc trên thế giới tồn tại trong các vùng nhiệt
đới và bán nhiệt đới (Mitsch và Geosselink, 1993). Ở Châu Á có khoảng 120 triệu
héc ta đất ngập nƣớc, không kể các diện tích lúa nƣớc trong vùng Châu Á.
Tại Việt Nam, đất ngập nƣớc (ĐNN) đƣợc kiểm kê là 5.810.000 hecta thuộc
25 khu đất ngập nƣớc (Lê Diên Dực, 1989), trong đó Hồ Ba Bể là 1 trong 25 khu
đƣợc kiểm kê đề xuất bảo vệ. Trong 68 vùng ĐNN của Việt Nam (khoảng 341.833
ha) có tầm quan trọng về đa dạng sinh học và môi trƣờng, thì VQG Ba Bể là một
trong những vùng đa dạng sinh học và môi trƣờng quan trọng đó.
Hệ thống thuỷ vực chính gồm Hồ Ba Bể với diện tích 450 ha, có 3 con sông và
suối đổ vào hồ sông với tổng lƣu vực là 421 km
2
, nƣớc hồ chảy ra sông Năng với
lƣu vực 1420 km
2
(Viện khoa học thuỷ lợi, 2003). ĐNN nằm trong diện tích Vƣờn
Quốc gia Ba Bể chiếm khoảng 22% diện tích của Vƣờn (10.048ha), diện tích bề mặt

quản lý bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nƣớc ở các khu bảo tồn thiên nhiên và vƣờn
quốc gia tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và nhiều bất cập, bên cạnh đó việc điều
tra, đánh giá tài nguyên, đa dạng sinh học thuỷ sinh nói chung và đa dạng sinh học
cá nói riêng cũng chƣa đƣợc quan tâm và tổ chức thực hiện tốt, trong đó có Ba Bể.
Với những lý do trên tôi chọn đề tài:
“Điều tra, đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý bảo tồn đa
dạng sinh học cá tại Hồ Ba Bể, Vƣờn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn”, nhằm
góp phần nêu bật các giá trị đa dạng sinh học và đóng góp cho việc quản lý bảo tồn,
sử dụng bền vững nguồn lợi cá cho VQG Ba Bể nói riêng và các khu bảo tồn thiên
nhiên nói chung.
II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là đa dạng sinh học về các loài cá, điều tra, đánh
giá hiện trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý bảo tồn đa dạng sinh học cá Hồ Ba
Bể.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung chính tại Hồ Ba Bể - VQG Ba Bể, tỉnh
Bắc Kạn.
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về ĐDSH. Đa dạng sinh học đƣợc hiểu
chung là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật
và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những HST vô cùng
phức tạp cùng tồn tại trong môi trƣờng.
Đa dạng sinh học theo công ƣớc ĐDSH, năm 1992, đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
“Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn gen
trong hệ sinh thái trên cạn, ở biển và các hệ sinh thái dƣới nƣớc khác và mọi tổ hợp
sinh thái mà chúng tạo nên; Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa

1.2. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC CÁ NƢỚC NGỌT TRÊN
THẾ GIỚI
Trên thế giới, việc nghiên cứu đa dạng sinh học cá nƣớc ngọt (trong đó cá là
chính) về đa dạng loài, nơi cƣ trú ít đƣợc biết đến so với các loài ở trên cạn. Hiện đã
biết 20.000 loài cá trên thế giới, chiếm khoảng 48% so với tổng số loài trong ngành
động vật có xƣơng sống ("ĐDSH HST nƣớc ngọt” http:// www.nea.gov.vn, 2004).
Về đa dạng loài: ở Thái Lan, các Nhà khoa học cho rằng có khoảng 1000 loài
cá nƣớc ngọt, nhƣng chỉ khoảng 475 loài đƣợc ghi nhận hiện nay; ở sông Amazon
đã có 3000 loài cá, chỉ ít hơn 25% tổng số các loài thú trên toàn trái đất nhƣng cũng
chỉ là con số đƣợc dự đoán. Ngày nay, đa dạng sinh học nƣớc ngọt đang bị đe doạ
nghiêm trọng. Một số nghiên cứu gần đây đã công bố tất cả các loài cá bản địa trong
lƣu vực ở Mexico đã bị tuyệt diệt, ở Malaysia chỉ còn một nửa trong số 266 loài cá
đƣợc biết trƣớc đây. Tại Singapore, 18 trong số 56 loài cá nƣớc ngọt đƣợc ghi nhận
năm 1934 nay đã không còn. Ở Bắc Mỹ, 1/3 loài cá nƣớc ngọt bản địa đã bị tiêu
diệt hoặc bị đe doạ ở mức độ khác nhau ("ĐDSH HST nƣớc ngọt” http://
www.nea.gov.vn, 2004).
Về nơi cƣ trú: các sinh vật trên đất liền hoặc trong biển sống trong các môi
trƣờng mà ít nhiều có sự liên tục trên một vùng rộng lớn và các loài sẽ có sự điều
chỉnh nhất định phạm vi phân bố của chúng khi các điều kiện khí hậu hoặc sinh thái
bị thay đổi. Còn những nơi cƣ trú nƣớc ngọt tƣơng đối không liên tục và nhiều loài
5
nƣớc ngọt không di chuyển dễ dàng qua vùng đất liền phân chia châu thổ sông
thành các đơn vị riêng biệt. Điều này gây ra ba ảnh hƣởng:
- Các loài cá nƣớc ngọt phải tiếp tục tồn tại khi có những thay đổi về khí hậu
và sinh thái ở nơi cƣ trú.
- Đa dạng sinh học cá nƣớc ngọt thƣờng có tính địa phƣơng hoá cao, thậm
chí các hệ thống hồ và suối nhỏ cũng thƣờng có những dạng sống tiến hoá

Ƣớc tính ở Việt Nam, các nhà khoa học đã phát hiện có 544 loài cá nƣớc ngọt
thuộc 228 giống, 57 họ và 18 bộ (Nguyễn Tấn Trịnh, 1996).
Nhƣ vậy, các hoạt động nghiên cứu nguồn lợi thuỷ sản mới đƣợc đẩy mạnh từ
đầu thế kỷ XX (Đặng Ngọc Thanh và cs., 2002), nhƣng các hoạt động nghiên cứu
này cũng chỉ tập trung vào một số loài động, thực vật thuỷ sinh và cá ở các địa điểm
nhất định. Gần đây nhất, Nguyễn Văn Hảo (2001, 2005) đã giám định, tu chỉnh
danh pháp cho các taxon và công bố 1027 loài thuộc 427 giống, 98 họ, 22 bộ cá
trong bộ sách gồm 3 tập "Cá ngƣớc ngọt Việt Nam”. Đây là công trình lớn và mô tả
khá đầy đủ về thành phần loài của khu hệ cá nội địa trên toàn bộ lãnh nƣớc ta.
1.4. CÁC NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC CÁC LOÀI CÁ NƢỚC NGỌT
Ở KHU VỰC BA BỂ
Hồ Ba Bể là hồ tự nhiên nằm trên vùng núi đá vôi, là một trong những hồ tự
nhiên đẹp nhất thế giới và là di sản thiên nhiên, là kỳ tích danh lam thắng cảnh của
các nƣớc vùng Đông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung. Chính những điều đó
đã thu hút nhiều nhà khoa học trong và ngoài nƣớc đến nghiên cứu nhƣ các tác giả:
Pellegrin và Chevey (1936), Chevey và Lemasson (1937), Đào Văn Tiến (1963),
Nguyễn Văn Hảo (1964), Mai Đình Yên và Bùi Lai (1969) Nguyễn Văn Hảo (1975),
các tác giả Mai Đình Yên, Trần Mai Thiên, Nguyễn Văn Hảo (1992), Nguyễn Văn
Hảo (1999), Nguyễn Hữu Dực (2001) Nhìn chung các công trình nghiên cứu trƣớc
đều đã đƣa ra những dẫn liệu nghiên cứu cơ bản trong từng thời kỳ.
- Nghiên cứu sớm nhất về khu hệ cá Hồ Ba Bể là Pellegrin và Chevey
(1936), Chevey và Lemasson (1937) đã báo cáo 3 loài cá trong đó có mô tả
1 loài mới là cá Lợ (Cyprinus multitaeniatus).
- Năm 1963, Đào Văn Tiến báo cáo về nguồn lợi Hồ Ba Bể bao gồm 17 loài
cá.
7
- Năm 1964, Nguyễn Văn Hảo, ngoài các số liệu về thuỷ lý, thuỷ hóa và cơ sở thức


8
môi trƣờng và thành phần tảo ở các hồ trong đó có Hồ Ba Bể và đƣợc báo
cáo ở nƣớc ngoài, trong nƣớc vào tháng 1/2005.
- Bên cạnh những nghiên cứu của các nhà khoa học trong nƣớc thì một số dự
án nƣớc ngoài cũng tiến hành nghiên cứu ở khu vực sông Lô - Gâm trong
đó có sông Năng, Hồ Ba Bể và khu vực Vƣờn Quốc gia Ba Bể nhƣ: Dự án
nghiên cứu tổng quan đa dạng cá nƣớc ngọt Việt Nam của WWF và Ngân
hàng Thế giới, năm 1998; Dự án Bảo tồn và phát triển các 4 loài cá quý
hiếm: Cá Bỗng, cá Lăng chấm, cá Chiên, cá Anh vũ ở thƣợng nguồn sông
Lô-Gâm năm 2002-2003;
- Năm 2003-2004, Dự án PARC nghiên cứu đa dạng sinh học tổ hợp bảo tồn
Ba Bể và Na Hang, trong dự án chủ yếu nghiên cứu đa dạng và bảo tồn trên
cạn mà chƣa nghiên cứu đa dạng sinh học và bảo tồn dƣới nƣớc.
Đến nay, ở Hồ Ba Bể, các nhà khoa học đã phát hiện và ghi nhận 106 loài cá
thuộc 65 giống, 18 họ và 5 bộ; có 138 loài và phân loài thực vật nổi thuộc 8 ngành,
đặc biệt là loài tảo đỏ nƣớc ngọt Batrachospermum sp. ở hồ; 35 loài và nhóm động
vật nổi, 10 loài thân mềm (Bộ NN&PTNT, 2003).
Có thể nói đã có nhiều công trình nghiên cứu về môi trƣờng và nguồn lợi Hồ
Ba Bể, những số liệu và các đánh giá cũng khá phong phú. Tuy nhiên, những
nghiên cứu trên cũng chỉ đánh giá trong từng giai đoạn thời điểm lịch sử nhất định.
Trong giai đoạn hiện nay, do yêu cầu bảo tồn đa dạng sinh học ở nƣớc, bảo tồn
nhiều loài thuỷ sản quý hiếm, những đánh giá về nguồn lợi thuỷ sản và ĐDSH cá
Hồ Ba Bể làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất xây dựng các biện pháp quản lý bảo
tồn và tái tạo nguồn lợi là việc làm rất cần thiết.
1.5. MỘT SỐ HÌNH THỨC QUẢN LÝ ĐDSH ĐẤT NGẬP NƢỚC HIỆN HÀNH
Trên thế giới, việc quản lý các hệ sinh thái đất ngập nƣớc hoặc quản lý bảo tồn
đa dạng sinh học cá và các loài động, thực vật thuỷ sinh đã đƣợc nhiều quốc gia trên
thế giới tham gia bằng việc ký vào Công ƣớc quốc tế về đất ngập nƣớc (RAMSAR),
các nguyên tắc bảo tồn đã đƣợc đề xuất. Một trong những giải pháp bảo tồn đất

HST ĐNN là điểm nóng cần đƣợc bảo tồn;
- Lồng ghép quản lý ĐNN vào kế hoạch phát triển kinh tế địa phƣơng;
10
- Đào tạo đội ngũ cán bộ có trình độ về nghiên cứu, bảo tồn và sử dụng khôn
khéo các HST ĐNN trên cơ sở bảo tồn để phát triển bền vững;
- Tạo những thu nhập thay thế giúp cộng đồng giảm sức ép lên ĐNN. Gắn
hoạt động phát triển kinh tế với bảo tồn;
- Đẩy mạnh công tác truyền thông, giáo dục môi trƣờng nâng cao nhận thức
về ĐNN nói riêng và môi trƣờng nói chung.
Hiện nay, ở Việt Nam bảo tồn đa dạng sinh học ở nƣớc có ở trong các khu
Ramsar, Khu dự trữ sinh quyển, Di sản thiên nhiên, các khu bảo tồn thiên nhiên và
vƣờn quốc gia.
Ở VQG Ba Bể, việc quản lý bảo tồn nguồn lợi thuỷ sản và cá đã đƣợc quan
tâm chú trọng quản lý bảo vệ từ khi thành lập Vƣờn (1992). Các quy định về khai
thác đánh bắt đã đƣợc cụ thể bằng các văn bản: cấm đánh bắt cá, thuỷ sản bằng các
chất độc hại, phƣơng tiện đánh bắt trái với truyền thống. Việc quản lý bảo vệ đƣợc
VQG Ba Bể tổ chức có hiệu quả, bao gồm lực lƣợng kiểm lâm phối hợp với chính
quyền tuần tra, xử lý các vụ vi phạm trong khu vực. Đặc biệt, từ 2004 đến nay
Vƣờn đã phối hợp với chính quyền địa phƣơng xây dựng tổ quản lý bảo vệ hồ với
sự tham gia của các chủ xuồng trực tiếp chở khách du lịch, tuần tra phát hiện các vụ
vi phạm khai thác thuỷ sản trái phép, vệ sinh môi trƣờng hồ…bƣớc đầu có kết quả
tốt. Nhƣng bên cạnh đó những bất cập về quản lý bảo tồn, công tác phối hợp giữa
các cơ quan đơn vị còn nhiều tồn tại, trong đó việc biện pháp bảo tồn chƣa đủ
mạnh, thƣờng xuyên liên tục; biện pháp tổ chức chƣa đồng bộ và các giải pháp
quản lý có tính kỹ thuật chƣa đƣợc áp dụng.
Nhƣ vậy, đa dạng sinh học cá đã đƣợc nhiều nhà khoa học, nhiều tổ chức của
thế giới và trong nƣớc nghiên cứu từ rất lâu. Các nghiên cứu đƣợc tập trung tại một

1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
cả
năm
Nhiệt
độ
0
C
14
15
19
23,2
26,3
27,2
27,5
27
25,8
22,8
18.8
15,3

83
83
(Nguồn: Số liệu thống kê của Trạm Khí tượng Chợ Rã,2005)

Hệ thống thuỷ vực
12
VQG Ba Bể là một phức hệ bao gồm suối, hồ trên vùng núi đá vôi. Hồ Ba Bể
rộng 450 ha, có độ sâu trung bình từ 17 đến 23 m, sâu nhất là 35 m, dài gần 9km,
dung tích chứa khoảng 90 triệu m
3
nƣớc. Về mùa khô mặt hồ ở mức 145,5m so với
mực nƣớc biển; mùa lũ trung bình ở mức 147,5 m (Viện KH thuỷ lợi, 2003). Nƣớc
Hồ chảy theo hƣớng Nam-Bắc ra sông Năng với lƣu tốc dòng chảy 0,5m/s; Hồ chia
làm 3 phần: Hồ 1 có sông Chợ Lèng chảy vào, Hồ 2 có suối Bó lù và Tà Han, Hồ 3
phần phía bắc hồ giáp với sông Năng. Đầu nguồn của Hồ Ba Bể là núi Phia Bjióoc
có độ cao trung bình 800 -1530m, đây là thƣợng nguồn của sông Chợ Lèng. Tổng
lƣu vực khu vực Vƣờn khoảng 1.841 km
2
. Tách biệt cạnh Hồ Ba Bể là Ao tiên giáp
với Hồ 3, có diện tích khoảng 1,2 ha, cũng là một hồ nhỏ đặc biệt.
Hiện trạng các yếu tố môi trƣờng Hồ Ba Bể
Nhiệt độ: tầng mặt dao động từ 23,5 - 25
0
C, ở tầng đáy là 17 - 17,5
0
C. Nhiệt
độ sông, suối thấp hơn, dao động 27,7-31,5


13
đáy. Tại khu vực nông, ô xy tầng đáy (ở độ sâu 5 m) đạt tới 5,3 mg/l, trong khi đó,
mùa khô có nơi ô xy tầng đáy xuống rất thấp, chỉ còn 0,23-0,79 mg/l.
Tầng thay đổi ô xy đột ngột (oxygencline) ở độ sâu 6-10 m. Mức chênh lệch
nhiệt độ giữa khối nƣớc tầng mặt với tầng sâu (trên 20 m trở lên) dao động từ 6,77
đến 8,8 mg/l. Hàm lƣợng ô xy ở khối nƣớc tầng đáy thấp, thậm chí có nơi chỉ còn
0,79 mg/l, biểu thị môi trƣờng đáy hồ có biểu hiện bị yếm khí . Có thể ở đây, hàm
lƣợng các chất hữu cơ lắng đọng trong lớp trầm tích bề mặt đáy cao, lƣợng ô xy đã
đƣợc tiêu dùng tối đa trong quá trình phân huỷ, khoáng hoá lƣợng hữu cơ đó nên đã
bị cạn kiệt.
Độ pH: pH nƣớc hồ bình quân từ 7,18 – 8,4, mùa xuân pH = 8,3 (kiềm yếu).
Phosphorus trong Hồ Ba Bể: PO
4
-P trong hồ có sự biến động. Mức độ biến
động trong hồ giảm dần từ Hồ 1 đến Hồ 3. Trong hồ, PO
4
-P dao động trung bình từ
0,019 – 0,027mg/l. Trong khi đó ở thác Đầu Đẳng trên sông Năng, phosphorus
trung bình là 0,023mg/l (dao động từ 0,011 – 0,029mg/l).
Hàm lƣợng nitrite trên hồ: Nitrite trong hồ dao động từ 0,002 – 0,007mg/l,
trung bình 0,004mg/l (Hồ 1 từ 0,003 – 0,007mg/l, Hồ 2 từ 0,002 – 0,005mg/l, Hồ 3
từ 0,002 – 0,005mg/l). Nitrite trong Hồ 1 cao hơn Hồ 2 và Hồ 3.
Hàm lƣợng chlorophyll-a: Chlorophyll-a giảm dần theo Hồ 1 đến Hồ 3. Hồ1
có chlorophyll-a trung bình là 7,60mg/m
3
, Hồ 2 là 7,16mg/m
3
và Hồ 3 hàm lƣợng
chlorophyll-a là 5,65mg/m

trong Sách đỏ thế giới của IUCN, và 52 loài đặc hữu của Việt Nam .
Về động vật: Đã thống kê đƣợc 81 loài thú, trong đó có 27 loài đƣợc mô tả
trong Sách Đỏ Việt Nam năm 1992, 19 loài đƣợc ghi trong Sách Đỏ IUCN (2004);
322 loài chim, trong đó 21 loài đƣợc ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và 6 loài đƣợc
ghi trong Sách Đỏ IUCN,(2004); 44 loài ếch nhái bò sát, trong đó có 17 loài đƣợc
ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và 17 loài đƣợc ghi trong Sách Đỏ thế giới IUCN
(2003); 106 loài cá trong đó 11 loài đƣợc ghi trong Sách Đỏ Việt Nam và 1 loài
đƣợc ghi trong sách đỏ (IUCN, 2003). Đặc biệt, Ba Bể cũng là vùng sinh cảnh quan
trọng của 2 loài linh trƣởng là Voọc đen má trắng, Voọc mũi hếch và 1 loài bò sát
đặc hữu hẹp là Cá cóc bụng hoa.
Đa dạng sinh học ở nƣớc: Ngoài cá, thuỷ vực khu vực Hồ Ba Bể rất đa dạng
và phong phú, các nhà khoa học đã ghi nhận: Thành phần loài động vật không
xƣơng sống các thủy vực trong cảnh quan vùng núi đá vôi đặc trƣng với sự phong
15
phú các nhóm loài ấu trùng côn trùng ở nƣớc nhƣ Ephemeroptera, Trichoptera,
Plecoptera, các loài cua núi họ Potamidae, các loài ốc suối với giống
Cremnoconchus, không thấy có ở các thủy vực vùng đồng bằng. Sự phong phú
của khu hệ động vật không xƣơng sống nƣớc ngọt ở Hồ Ba Bể và các thủy vực phụ
cận không chỉ thể hiện ở taxon loài mà còn thể hiện ở taxon giống. Cho đến nay, đã
xác định đƣợc 49 loài động vật nổi thuộc các nhóm Trùng bánh xe, Giáp xác râu
ngành, Giáp xác chân chèo, có bao và 29 loài động vật đáy thuộc các nhóm trai, ốc,
tôm, cua ở Hồ Ba Bể và các thủy vực phụ cận. Ngoài ra, mới xác định đƣợc 32 họ
ấu trùng côn trùng nƣớc thuộc 8 bộ có trong các thủy vực suối, sông ở khu vực này.
Số lƣợng các loài động vật không xƣơng sống đã xác định đƣợc nhƣ trên còn thấp
hơn so với thực tế bởi nhiều nhóm động vật nguyên sinh (Prrotozoa), giun ít tơ
(Olygochaeta) chƣa đƣợc nghiên cứu (Lê Hùng Anh, Hồ Thanh Hải,2003).
Cho đến nay đã thống kê, xác định đƣợc 179 loài thực vật nổi thuộc các ngành

148
2747
252
2922
3
Lao động chính
36
59
1020
108
1223
4
Số hộ vùng cao
15
-
63
12
90
16
(Nguồn: VQG Ba Bể, 2005)
Số dân đƣợc hƣởng trực tiếp nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên của hồ và sông Năng
chủ yếu là 5 thôn (vùng thấp) của Nam Mẫu với 276 hộ (chiếm 53,90%) và một số
hộ ở xã Cao Thƣợng. Cuối năm 2006, có 58 hộ của bản Tà Kèn di dân theo chƣơng
trình thuỷ điện Tuyên Quang ra khỏi Vƣờn Quốc gia Ba Bể. Tại xã Nam Mẫu dân
số của Nam Mẫu sẽ còn 454 hộ, số dân 5 bản quanh hồ sẽ là 218 hộ (chiếm 48%)
với thu nhập bình quân đầu ngƣời: 370kg thóc/ngƣời/năm. Hầu hết các hộ dân cƣ
sống ven vùng hồ đều là các hộ sản xuất nông nghiệp kết hợp với khai thác cá trong

5
Bản Cám
61
54
60
Tổng số
276
234
Trung bình: 73%
(Nguồn: UBND xã Nam Mẫu, 2006)
Thành phần các dân tộc sống quanh vùng hồ bao gồm 4 dân tộc: Tày, Dao,
Mông, Kinh. Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 94,5% diện tích tự nhiên, còn lại
khoảng 5,5% đất nông nghiệp trồng lúa và hoa màu.
Tình hình gia tăng dân số sống xung quanh hồ là khá lớn, đời sống của nhân dân
còn nghèo nàn lạc hậu, trình độ dân trí thấp, việc kiếm kế sinh nhai chủ yếu vẫn dựa
vào thiên nhiên Chính vì vậy, đã gây áp lực không nhỏ đối với công tác quản lý bảo
tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên trong vùng Vƣờn Quốc gia Ba Bể.
Từ thị trấn Chợ Rã (Ba Bể) có thể theo sông Năng bằng thuyền máy đi vào và
đi đƣờng bộ theo đƣờng tỉnh lộ 258 đến trung tâm VQG Ba Bể. Việc du lịch và đi
lại trong khu vực Hồ chủ yếu bằng phƣơng tiện là thuyền độc mộc và thuyền máy,
sự phát triển dạng thuyền có động cơ đi ê gen càng ngày càng gia tăng do đầu tƣ rẻ,
nhƣng gây tiếng động, làm tăng thêm sự ô nhiễm cho vùng lòng hồ và làm mất đi
17
vẻ tĩnh mịch linh thiêng tự nhiên vốn có của nó. Việc mở các tuyến đƣờng nhƣ
đƣờng Cao Trĩ – Quảng Khê, đƣờng Quảng Khê - Đồng Phúc, Hoàng Trĩ ở vùng
đầu nguồn Hồ Ba Bể có ƣu điểm là tạo đƣờng giao thông đi lại thuận lợi để mở
mang tri thức, nâng cao đời sống văn hoá, kinh tế cho dân bản song cũng có những

nguy cơ từ phát triển du lịch, sự bồi lấp hồ…Đây đang là những yếu tố ảnh hƣởng đến
bảo tồn VQG Ba Bể trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài nếu không có chính sách và cơ chế
quản lý tốt, không có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phƣơng thì sẽ có nhiều
hậu quả xấu khó lƣờng. Cho nên, cần có những giải pháp thật cụ thể để đáp ứng đƣợc
hai mục tiêu quan trọng là bảo tồn đa dạng sinh học và đảm bảo đời sống của cộng
đồng dân cƣ địa phƣơng.

19
CHƢƠNG 2. ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
Đề tài đƣợc nghiên cứu tại vùng lõi của Vƣờn Quốc gia Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
nằm ở vùng đông Bắc Việt Nam, có toạ độ địa lý (Hình 2.1):
Từ 22
0
16’12” đến 22
o
33’45” Vĩ độ Bắc
Từ 105
0
28’31” đến 105
o
47’20” Kinh độ Đông
Hình 2.1: Địa điểm nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status