BÁO CÁO THAM LUẬN:
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, VAI TRÒ VÀ TẦM
QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI VIỆC BẢO TỒN ĐA DẠNG
SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA ĐỒNG
BẰNG BẮC BỘ VÀ VIỆT NAM
TS. Trần Đình Nghĩa
Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội Hà Nội, 9-2007
MỤC LỤC BÁO CÁO
án xây dựng khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2 53
5.4. Du lịch sinh thái ở Vườn Quốc gia Tam Đảo 55 1
VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO, VAI TRÒ VÀ TẦM QUAN TRỌNG ĐỐI VỚI
VIỆC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG CỦA
ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ VÀ VIỆT NAM
I. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ VƯỜN QUỐC GIA TAM ĐẢO
I.1. Tam Đảo – địa danh nổi tiếng đối với nghiên cứu đa dạng sinh học
Khu nghỉ mát Tam Đảo (nay là thị trấn Tam Đảo, Tam Đảo 1) đã trải qua hơn
100 năm xây dựng và phát triển. Thời điểm được tính từ khi người Pháp khởi công xây
dựng con đường từ chân núi lên thị trấn vào năm 1904. Thời gian xây dựng con đường
này kéo dài tới 12 năm, hoàn thành vào năm 1916. Từ đó việc đi lại từ Hà Nội lên Tam
Đảo dễ dàng hơn, các hoạt động du lịch nghỉ dưỡng, thưởng ngoạn và khảo sát thiên
nhiên triển khai rầm rộ. Các hoạt động khảo sát thực vật học đã được tiến hành rất
sớm, ngay từ khi người Pháp phát hiện ra Tam Đảo, bằng chứng là Trà hoa vàng ở
Tam Đảo đã được phát hiện và công bố vào năm 1910. Các nhà lâm học, nông học,
các nhà nghiên cứu nghiệp dư người Pháp khác đã thu thập nhiều mẫu động, thực vật
cung cấp cho các viện nghiên cứu, các bảo tàng thiên nhiên ở Pháp cũng như nhiều
nước khác. Rất nhiều loài mới đã được phát hiện và sức thu hút của Tam Đảo ngày
càng tăng trong giới những người yêu thích thiên nhiên và khảo cứu vạn vật học chẳng
những ở Pháp, mà cả ở các nước khác. Tính đặc sắc của Tam Đảo còn ở chỗ là vùng
núi cao bị bao quanh bởi đồng bằng, giống như một hòn đảo, cách li với vùng núi cao
ở phía bắc Việt Nam nên tỉ lệ các loài đặc hữu cao, tồn tại cả các đặc hữu hẹp như Cá
cóc Tam Đảo. Tam Đảo được liệt vào một trong sáu địa danh nổi tiếng cho nghiên cứu
sinh học ở Việt Nam, lại ở gần Hà Nội, đi lại dễ dàng nên là địa điểm rất thuận tiện
cho các nghiên cứu giám sát môi trường dài kì.
Tam Đảo là một trong những khu rừng cấm quốc gia đầu tiên của Việt Nam,
được thành lập vào năm 1977, sau khi dất nước hoàn toàn giải phóng, sau đó được
nâng lên thành Vườn Quốc gia Tam Đảo vào năm 1996. Quá trinh hình thành, xây
dựng, phát triển của VQG được tóm lược như sau:
Ngày 24.1.1977 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 41/TTg về việc thành
lập khu rừng cấm Tam Đảo:
- Diện tích là 19.000 ha.
- Nằm trên địa phận của 3 tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Thái và Tuyên Quang .
- Ranh giới khu rừng cấm Tam Đảo được xác lập từ độ cao 400 m (so với mực nước
biển) trở lên và giao cho Chi cục kiểm lâm 3 tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Thái và Tuyên
Quang có trách nhiệm quản lý và bảo vệ khu rừng cấm Tam Đảo .
Còn diện tích rừng và đất rừng của núi Tam Đảo từ độ cao 400 m trở xuống vẫn
giao cho các lâm trường quốc doanh là Tam Đảo , Lập Thạch của tỉnh Vĩnh Phú ; Lâm
trường Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang và lâm trường Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên
để tổ chức sản xuất và kinh doanh như trồng rừng và khai thác rừng .Chính vì vậy mà
rừng tự nhiên của núi Tam Đảo từ độ cao 400 m trở xuống cơ bản đã bị tàn phá hết
trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến 1990.
Ngày 9.8.1986 Chủ tich hội đồng bộ trưởng ( nay là Thủ tướng Chính phủ ) đã
ra quyết định số 194/CT về việc công nhận một hệ thống các khu rừng cấm của Việt
Nam, trong đó có khu rừng cấm Tam Đảo . Đồng thời giao trách nhiệm cho bộ Lâm
nghiệp (cũ) và UBND các tỉnh, thành phố có rừng cấm sớm điều tra, quy hoạch xây
dựng luận chứng kinh tế kỹ thuật cho các khu rừng cấm để trình cấp có thẩm quyền
phê duyệt.
3
Thực hiện tinh thần quyết định trên, Bộ Lâm nghiệp đó giao nhiệm vụ cho viện
điều tra quy hoạch rừng phối hợp với UBND tỉnh và các cơ quan Lâm nghiệp của 3
tỉnh Vĩnh Phú, Bắc Thái và Tuyên Quang để lập dự án khả thi đầu tư xây dựng Vườn
quốc gia Tam Đảo . Công tác điều tra, khảo sát để có cơ sở xây dựng dự án khả thi đầu
tư cho Vườn quốc gia Tam Đảo được bắt đầu từ cuối năm 1990. và sau một số lần
+ Chức năng: bảo vệ được rừng hiện có; khoanh nuôi rừng nơi còn khả năng
tái sinh tự nhiên; trồng rừng mới nơi đất trống nhằm phục hồi diện tích
rừng đã bị phá hoại và bảo vệ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt.
Phân khu nghỉ mát, du lịch:
4
+ Diện tích: 2.302 ha (bao
gồm cả diện tích đất thị
trấn Tam Đảo )
+ Nằm ở sườn núi Tam Đảo
thuộc địa phận tỉnh Vĩnh
Phú (nay là Vĩnh Phúc),
bao quanh thị trấn Tam
Đảo.
+ Chức năng: Tạo điều kiện
thuân lợi để phát triển khu
du lịch sinh thái, thu hút
khách du lịch trong và
ngoài nước đến nghỉ ngơi và tìm hiểu thiên nhiên Việt Nam.
Hình 1.2: Trụ sở VQG Tam Đảo tại Km 13 xã
Hồ Sơn, Huyện Tam Đảo, Vĩnh Phúc
Ngày 15.5.1996, thực hiện quyết định số 136/TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ
Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã ra quyết định số 601.TC-BNN về việc thành
lập Vườn quốc gia Tam Đảo trực thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn .
Vườn quốc gia Tam Đảo đã được thành lập từ đó và hoạt động theo các nhiệm vụ
được quy định tại quyết định số 136/TTg của Thủ tướng Chính phủ.
1.3. Các hoạt động và thành tựu của VQG Tam Đảo.
- Hoàn thiện bộ máy hành chính và các phòng ban, trung tâm chức năng:
+ Trụ sở VQG đặt tại: Km 13 xã Hồ Sơn huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc .
+ Hệ thống quản lý bảo vệ rừng gồm 17 trạm kiểm lâm bảo vệ rừng.
phẳng (có người gọi là thung lũng) trên dẫy núi Tam Đảo, có thể sử dụng để xây dựng
khu dân cư hoặc khu nghỉ mát (du lịch). Tam Đảo 1 là vùng được phát hiện đầu tiên và
người Pháp đã xây dựng ngay vào đầu thế kỉ trước thành Khu nghỉ mát, sau này được
gọi là Thị trấn Tam Đảo. Tam Đảo 2 được phát hiện muộn hơn, cách Khu nghỉ mát
đến 19km đường đi bộ (khoảng gần 11km đường chim bay) về phía tây-bắc nhưng lại
hấp dẫn hơn do diện tích rộng gấp ba lần, lại ở độ cao hơn tới 200m. Ý tưởng sử dụng
cho các hoạt động du lịch đã xuất hiện và thực thi từ trước năm 1954. Dựa vào các dấu
tích còn lại (các đường mòn xếp kè đá) thì hình thức hoạt động có lẽ là du lịch khảo
cứu và thưởng ngọan thiên nhiên (du lịch sinh thái). Do vậy ranh giới của “Tam Đảo
1”, “Tam Đảo 2” là ranh giới tự nhiên, rất xa nhau, không phải từ Đỉnh Rùng Rình trở
đi là bắt đầu Tam Đảo 2 như một số người lầm tưởng.
“Vùng Tam Đảo 2” là phần đất bằng phẳng được phát hiện muộn hơn (Tam Đảo
2) bao gồm cả phần đất ngập nước, thường xuyên hoặc tùng thời kì (Ao Dứa) và vùng
rừng cao hơn cho đến sát địa giới Vĩnh Phúc – Thái Nguyên, kéo dài về phía đông đến
quèn núi đi sang xã Ký Phú (huyện Đại Từ, Thái Nguyên). Vùng này được người dân
gọi là Rừng ma ao dứa.
“Vùng Dự án Tam Đảo 2” là một khái niệm có thể đã được hiểu theo nhiều cách.
Nếu chỉ là 300 hécta như các thông tin thường đề cập thì chỉ là vùng xây dựng thị trấn
du lịch và chỉ gồm phần giữa và phần phía tây của Rừng ma ao dứa kéo về phía bắc
cho đến địa giới tỉnh; như vậy diện tích làm đường từ Đạo Trù lên, đường bộ, đường
thoát hiểm, đường cáp treo,…từ Tam Đảo 2 về Tây Thiên và Tam Đảo 1 là chưa được
đề cập đến. Còn nếu bao gồm tất cả các hạng mục theo ý tưởng thiết kế Dự án thì diện
tích thực tế mà Dự án Tam Đảo 2 sử dụng sẽ tăng lên nhiều, đến vài ba lần.
2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VQG TAM ĐẢO
2.1. Vị trí địa lí:
Vườn Quốc gia Tam Đảo nằm trong khoảng 21
o
21’ đến 21
o
42’ độ vĩ bắc, 105
39’ 46” độ vĩ bắc,
105
o
35’ 41” đến 105
o
37’ 32” độ kinh đông
Tam Đảo 2 là vùng tương đối bằng phẳng, nằm giáp với đường đỉnh núi, về phía
Vĩnh Phúc, bên trên khu Tây Thiên, kéo dài về phía đông đến quèn núi đi sang xã Ký
Phú (Đại Từ, Thái Nguyên).
2.2. Địa hình, địa mạo
Vườn Quốc gia Tam Đảo chiếm giữ toàn bộ hệ núi Tam Đảo, có cấu tạo hình
khối đồ sộ, nằm ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, chạy dài theo hướng tây-bắc – đông-
nam. Cả khối núi có đặc điểm chung là đỉnh nhọn, sườn rất dốc, độ chia cắt sâu và
dầy. Chiều dài khối núi gần 80km, có gần 20 đỉnh cao sàn sàn trên 1000m được nối
với nhau bằng đường dông núi sắc, nhọn. Đỉnh cao nhất là đỉnh Nord (1592m) là ranh
giới địa chính của ba tỉnh Vĩnh Phúc, Tuyên Quang và Thái Nguyên. Chiều ngang biến
động trong khoảng 10-15km. Núi cao, bề ngang lại hẹp nên sườn núi rất dốc, bình
quân 25-35 độ, nhiều nơi trên 35 độ nên rất hiểm trở và khó đi lại.
Dựa vào độ cao, độ dốc, địa mạo có thể phân chia dãy núi Tam Đảo thành bốn
kiểu địa hình chính:
- Thung lũng giữa núi và đồng bằng ven sông suối: độ cao tuyệt đối <100m, độ dốc
cấp I (<7)
o
. Phân bố dưới chân núi và ven sông suối.
- Đồi cao trung bình: Độ cao tuyệt đối 100-400m. Độ dốc cấp II (8
o
– 15
o
) trở lên.
Phân bố xung quanh chân núi và tiấp giáp với đồng bằng.
Địa hình sườn dốc
7.Sườn đổ lở, dốc trên 45
o
8.Sườn bóc mòn dốc trên 30
o
, nhạy cảm đổ lở đá
9.Sườn bóc mòn - xâm thực dốc 20 – 30
o
, nhạy cảm trượt lở đất
10.Sườn bóc mòn - xâm thực dốc 15 – 20
o
, nhạy cảm trượt lở đất
Địa hình thung lũng và trũng trên núi
11.Đáy trũng rửa trôi - tích tụ
12.Bề mặt rửa trôi - tích tụ rìa đáy trũng
13.Sườn rửa trôi - tích tụ nghiêng thoải rìa trũng
14.Đáy khe suối xâm thực - tích tụ thoải
15.Đáy khe suối xâm thực dốc
Vị trí cũng như tương quan diện tích các dạng địa hình này được thể hiện trên
bản đố của tác giả kèm theo dưới đây.
Hình 2.2: Bản đồ Địa mạo Khu vực Tam Đảo 2
(Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi trường
phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2.)
9
2. 3. Địa chất
2.3.1.Cấu tạo địa chất:
Dãy núi Tam Đảo được cấu tạo từ đá phun trào axít tuổi Triat thuộc hệ tầng Tam
Đảo (T
hạt thô, dễ bị xói mòn và rửa trôi, nhất là những nơi có độ dốc cao hơn 35
o
. Đất bị xói
mòn rất mạnh để trơ lại tầng đá gốc cứng rắn. Nếu vì một lí do nào đó làm lớp phủ
rừng bị phá hoại trên lập địa này, thì dù có đầu tư cao cũng khó phục hồi lại lớp phủ
rừng như xưa.
(Nguồn: FIPI, 1992: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo).
Khu vực Tam Đảo 2 cấu tạo chủ yếu từ đá riolit có nhiều mạch thạch anh, bị ép
tấm và dập vỡ mạnh làm giảm độ gắn kết.
(Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi
trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2).
10
2.3.2. Vỏ phong hóa và lớp thổ nhưỡng
Trong phạm vi toàn bộ dãy núi Tam Đảo, các nhà Lâm học đã phân biệt 4 loại
đất và khái quát chúng trong bảng sau:
Bảng 2.1.: Đặc trưng các loại đất VQG Tam Đảo
Loại đất Diện tích Các đặc trưng Phân bố
1. Đất feralit
mùn vàng nhạt
trên núi trung
bình
8968 ha
17,1%
Phát triển trên đá mácma axit kết tinh
chua riolit, dacit, granit. Tầng đất rất
mỏng. Tầng mùn và thảm mục khá dày và
chỉ xuất hiện nơi có đọ dốc nhỏ. Nơi độ
dốc lớn tầng đất bị xói mòn trơ lại đá gốc.
và trung bình, cao 100-
400m xung quanh dãy núi
Tam Đảo
4. Đất phù sa
và bồi tụ sông
suối
9794 ha
18,1%
Đất phù sa và dốc tụ do sông suối và
sườn tích, mầu nâu đen, tầng dày. Thành
phần cơ giới trung bình, mầu mỡ, độ ẩm
cao. Đã được sử dụng để trồng lúa và
hoa màu.
Phân bố trong các thung
lũng hẹp giữa núi và ven
các sông suối lớn
(Nguồn: FIPI, 1992: Báo cáo Lập địa Khu Bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo).
Sự hình thành vỏ phong hóa và lớp thổ nhưỡng ở khu vực Tam Đảo 2 đã được
các nhà khoa học ở ĐHKHTN chú ý sâu hơn. Theo đó Tam Đảo 2 nằm trong vùng khí
hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, có lượng mưa lớn, thảm thực vật dày, địa
hình cao và dốc, các đá phun trào axit hệ tầng Tam Đảo bị phong hóa, kết quả tạo
thành lớp vỏ phong hóa có độ dày 1-1,5m, được Đặng Mai (2006) chia thành 3 kiểu
vỏ:
- Kiểu vỏ Saprolit trên các sườn đồi độ dốc lớn (trên 30
o
), lộ đá gốc, lớp đất mỏng,
xen sạn sỏi thạch anh và mảnh vỡ vụn của đá phun trào.
- Kiều vỏ Sialit phát triển trên đai cao hơn 1000m, trên nền aluvi-deluvi nơi phát
triển rừng kín thường xanh hoặc trên những phần thấp của địa hình, nơi thường
xuyên ẩm ướt ở vùng lòng chảo khu trung tâm.
- Vùng có nguy cơ trượt lở thấp gồm các bề mặt đỉnh, vai địa hình và trung tâm lòng
chảo, chiếm diện tích lớn nhất.
- Vùng có nguy cơ ngập lụt ở trung tâm lòng chảo (Dự án gọi là vùng đất ướt tiềm
năng). (Xem thêm trên bản đồ các dạng Địa hình sườn dốc, số kí hiệu 7, 8, 9, 10)
(Nguồn: Đặng Trung Thuận 2006: Báo cáo đánh giá tác động môi trường sơ bộ
Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái bền vũng Tam Đảo 2).
Trần Nghi và nnk (2006) còn chú ý thêm ảnh hưởng của các hoạt động thực thi
Dự án (Xây dựng cơ sở hạ tầng như mở các tuyến đường, xây dựng các khu nhà
nghỉ, ) sẽ tác động trực tiếp đến môi trường tự nhiên, làm thay đổi một số điều kiện tự
nhiên: giảm độ che phủ, phá hủy cân bằng sườn, thu hẹp diện tích thấm nước bề mặt,
tăng diện tích bê tông hóa. Đã đề xuất thêm một vùng có nguy cơ tai biến tiềm năng
nữa là Vùng có nguy cơ bị lũ quét bao gồm các thung lũng suối Thác Lác (xã Đạo Trù)
và Suối Đông Thỏng (Các nhánh suối vùng đất ướt tiềm năng và hệ thống Suối Bòn
Bọt (Đông Thỏng 2) cùng đổ xuống Tây Thiên).
(Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi
trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2).
Như vậy trong vùng Dự án Tam Đảo 2 đã ghi nhận tới 5 vùng có nguy cơ tai biến
địa chất có thể gây ra trượt lở, ngập lụt, lũ quét mà sự tác động vào vùng đất này đòi
hỏi một sự cẩn trọng rất cao.
12
2.4. Khí hậu
Dãy Tam Đảo là dãy núi lớn, bao gồm một vùng lãnh thổ rộng và có sự phân hóa
theo độ cao rất đa dạng, vì vậy khái quát hóa các đặc trưng khí hậu toàn vùng không
phải là vấn đề đơn giản. Các nhà lâm học (FIPI) dựa trên các số liệu khí tượng của
trạm Tam Đảo và các trạm xung quanh (Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Đại Từ) để đưa ra
các nhận định khái quát cho toàn vùng như sau:
Thuộc chế độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng cao. Dựa vào các số liệu quan
trắc bình quân nhiều năm của các đài khí tượng Đại Từ, Tuyên Quang, Vĩnh Yên, Tam
Đảo (thị trấn Tam Đảo) (Bảng 2.2)
lượng mưa không đáng kể, chỉ chiếm dưới 10% lượng mưa năm.
- Số ngày mưa khá nhiều, sườn tây trên 140 ngày/năm, sườn đông và vùng đỉnh trên
190 ngày/năm.
- Cường độ mưa rất lớn, có nhiều trận mưa trên 350mm/ngày.
- Tần suất xuất hiện những trận mưa to và rất to trong mùa mưa trên 20%, tập trung
vào các tháng 6, 7, 8, 9; cao nhất là các tháng 8 và 9 (đỉnh mưa đều nằm trong
tháng 8), xói mòn và những trận lũ lớn đều xảy ra vào những thời gian này.
- Hàng năm có trên 60 ngày dông tại trạm và một trận bão đi qua với tốc độ gió trên
cấp 8. Vì thế khi xây dựng các công trình trong vùng đều có hệ thống chống sét và
gió giật cẩn thận, điển hình là cột phát sóng truyền hình trên đỉnh Tam Đảo.
13
- Do điều kiện địa hình, địa mạo đã chi phối mạnh mẽ đặc điểm khí hậu trong vùng
nên nhiệt độ vùng thấp biến động từ 22,9
o
C đến 23,7
o
C, tháng lạnh nhất trên 15
o
C
(tháng 1), tháng nóng nhất trên 28
o
C (tháng 7). Riêng vùng đỉnh có nền nhiệt độ
thấp hơn cả, bình quân 18
o
C, lạnh nhất là 10,8
o
C (tháng 1), nóng nhất 23
o
C (tháng
C.
Lượng mưa năm: Trung bình nhiều năm là 2355mm, cao hơn nhiều so với lượng
mưa bình quân cả nước (1960mm/năm) và của tỉnh Vĩnh Phúc (1500-1800mm/năm).
Lượng mưa ngày lớn nhất đạt 318,6mm. Bình quân hàng năm có khoảng 203 ngày
mưa, tập trung chủ yếu trong tháng 6. Mùa mưa ở Tam Đảo kéo dài hơn so với các nơi
khác của tình Vĩnh Phúc (5 tháng). Mỗi năm xuất hiện bình quân 60 ngày có dông.
Một vài năm còn xuất hiện hiện tượng mưa đá.
Độ ẩm: Độ ẩm tương đối bình quân nhiều năm là 87,7%; độ ẩm tương đối trung
bình thấp nhất bình quân nhiều năm là 76,2%; độ ẩm tương đối thấp nhất tuyệt đối là
6%. Độ ẩm tuyệt đối trung bình là 19,1%.
Sương mù: Hàng năm bình quân có 118 ngày có hiện tượng sương mù.
Tổng lượng mây: Trung bình nhiều năm bằng 8.
Số giờ nắng: Một năm bình quân có 1212 giờ.
Tổng lượng bốc hơi: Bình quân nhiều năm là 512mm, là khá thấp so với bình
quân bốc hơi toàn quốc.
Tốc độ gió: Bình quân là 3,0m/s; tốc độ gió cực đại đến 30m/s.
Nhìn chung các đặc trưng khí hậu Tam Đảo 2 tương tự khu Tam Đảo 1. Sự khác
nhau chút ít về nền nhiệt độ và độ ẩm là do mức cao địa hình gây nên.
(Nguồn: Đặng Trung Thuận 2006: Báo cáo đánh giá tác động môi trường sơ bộ
Dự án xây dựng khu du lịch sinh thái bền vũng Tam Đảo 2).
14
Trong khi đó Trần Nghi (2006) quan tâm đến tính địa đới của khí hậu Tam Đảo
và cho rằng Khí hậu khu vực Tam Đảo 2 thuộc loại khí hậu nhiệt đới gió mùa núi cao
với nhiều đặc điểm mang tính nhiệt đới và một số đặc thù không mang tính nhiệt đới.
Những đặc trưng khí hậu chủ yếu thể hiện tính nhiệt đới bao gồm:
- Về bức xạ thiên văn: Độ cao mặt trời khá lớn và thời gian chiếu sáng khá đồng đều
trong năm.
- Về hoàn lưu khí quyển: Trong mùa hè thịnh hành không khí nhiệt đới xích đạo, còn
về mùa đông chịu sự chi phối của không khí nhiệt đới và không khí cực đới biến
Ngay trên biểu đồ sinh khí hậu đã thể hiện một số thông tin cần thiết như:
- Số năm của chuỗi số liệu (38 năm đối với nhiệt độ, 39 năm đối với lượng mưa)
15
- Độ cao của trạm khí tượng so với mực nước
biển (897m a.s.l.)
Hình 2.3: Biểu đồ sinh khí hậu thị
trấn Tam Đảo
- Nhiệt độ trung bình năm
o
C (18,0)
- Lượng mưa trung bình năm mm (2631)
- Nhiệt độ tối cao tuyệt đối
o
C (33,1)
- Nhiệt độ tối cao trung bình tháng nóng nhất
o
C (`26,2)
- Biên độ nhiệt độ ngày trung bình năm
o
C (5,0)
- Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng lạnh nhất
o
C (9,0)
- Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối
o
C (0,2)
- Thời kì nhiệt độ tối thấp trung bình tháng
xuống dưới 15
núi. Từ chân núi trở đi sông lại có dạng uốn khúc phức tạp trên mặt cánh đồng khá
bằng phẳng, tương ứng với dạng địa hình đã tạo ra nó.
16
Mật độ sông suối khá dày (trên 2km/km
2
), các suối có thung lũng hẹp, đáy nhiều
ghềnh thác, độ dốc lớn, khả năng điều tiết nước kém, chúng là kết quả của quá trình
xâm thực.
Do đặc điểm khí hậu mưa lớn, mùa mưa dài, lượng bốc hơi ít (ở đỉnh Tam Đảo)
nên cán cân nước dư thừa. Đó là nguyên nhân làm cho các dòng chảy từ đỉnh Tam Đảo
xuống có nước quanh năm.
Nhưng chế độ thủy văn lại chia thành hai mùa khá rõ rệt: mùa lũ và mùa cạn.
Mùa lũ trùng với mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10), mùa cạn từ tháng 11 đến tháng 3
năm sau. Lũ lớn thường xảy ra vào tháng 8, lũ thường tập trung nhanh và rút cũng
nhanh. Sự phân phối dòng chảy rất không đều giữa hai mùa (xem bảng)
Bảng 2.4: Sự phân phối dòng chảy theo mùa của hai hệ thống sông
Tên sông
Tên trạm
Diện tích
lưu vực
(km
2
)
Lưu lượng
bình quân
(m
3
(l/s/km
2
)
Mô đun cực đại
(l/s/km
2
)
Mô đun cực tiểu
(l/s/km
2
)
Phó Đáy Quảng Cư 40 318 2 - 3
Công Tân Cương 50 918 4 - 5
Lưu lượng dòng chảy lớn nhất tuyệt đối là 331m
3
/s, so với lưu lượng nhỏ nhất
tuyệt đối 3,7m
3
/s thì lớn gấp 90 lần.
Độ đục lớn nhất 541g/m
3
, gấp 100 lần độ đục nhỏ nhất.
Lượng bùn cát lơ lửng 3,2kg/s với tổng lượng bùn cát là 101.000T/năm
Môđun xâm thực trên sông Phó Đáy tới 84,8T/km
2
.
Dòng chảy mùa cạn do không có mưa to nên nguồn nước cung cấp cho sông
hoàn toàn là do nước ngầm (phụ thuộc vào lớp vỏ phong hóa địa chất và lượng mưa
phùn mùa đông). Cả hai sông đều có dòng chảy rất nhỏ. Như vậy khả năng cung cấp
dốc lớn, tốc độ dòng chảy mạnh. Lòng suối hẹp từ 1-3m ở thượng nguồn và mở rộng
đến 5-7m phía hạ lưu. Khoảng 0,6km đoạn đầu nguồn, sông chính chảy qua các vách
đá, có độ dốc rất lớn, tạo nên nhiều thác nhỏ. Phía hạ lưu (khoảng 0,4km) lòng sông
thoải dần. Đáy sông nhiều nơi trơ đá gốc. Vật liệu đáy bao gồm cát, sỏi và đá nhỏ, rất
nhiều tinh thể thạch anh vỡ vụn đường kính khác nhau. Suối chảy trong thung lũng với
thảm thực vật là rừng tạp, chủ yếu là rừng vầu. Hai bờ ít bị xói lở, về mùa lũ nước tràn
lên hai thành bờ. Vách bờ phía hạ lưu , nơi thấp nhất có độ cao khoảng 0,5m. Cảnh
quan của suối Thác Lác khá đẹp, có thể tạo đường bộ hành ven suối, phục vụ du khách
thưởng ngoạn cảnh rừng và các thác nước.
Suối Bến Tắm chảy theo hướng đông-bắc – tây-nam có chiều dài tất cả các
nhánh là 4,1km, trong đó lòng chính là 1,02km. Nhánh chính có nước chảy thường
xuyên. Các nhánh phụ chỉ có nước vào mùa mưa. Trên lòng chính, trong khu vực Tam
Đảo 2 có 6 thác nước có chiều cao từ 20 – 40 m, cảnh quan đẹp, kỳ vỹ. Lòng suối hẹp,
thẳng, chảy trên đá gốc. Dưới chân thác là các vực sâu (có độ sâu khoảng 3m), vách đá
dựng đứng.
Thảm thực vật là rừng gỗ tạp, chủ yếu là rừng tre nứa. Vật liệu đáy gồm mảnh
vụn riolit và thạch anh. Nhiều mạch nước ngầm phát lộ từ các khe nứt. Chất lượng
nước ngầm tốt, có thể sử dụng trực tiếp cho sinh hoạt.
18
Hình 2.4: Bản đồ thủy văn khu vực Tam Đảo 2.
(Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi
trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2)
Suối Đồng Thỏng trong khu Dự án gồm hai hợp phần chính. Hợp phần thứ nhất
gồm các nhánh suối ở lưu vực Đồng Thỏng 1 (Vùng đất ướt tiềm năng trong khu Dự
án), hợp phần thứ hai là hệ thống các suối ở lưu vực Đông Thỏng 2 (nằm sát phía đông
và nam vùng đất ướt tiềm năng). (Ở độ cao thấp hơn chúng hợp lại và đổ vào suối
chảy qua khu di tích Tây Thiên)
2.6. Phân vùng sinh thái VQG Tam Đảo
Qua công tác khảo sát và đánh giá điều kiện tự nhiên, các nhà lâm học (FIPI,
1992) phân chia khu bảo tồn thiên nhiên Tam Đảo thành bốn vùng sinh thái khác nhau.
Bảng 2.6: Các vùng sinh thái VQG Tam Đảo
Các tiêu chí Vùng 1.
Vùng núi cao
trung bình Tam
Đảo (Vùng đỉnh)
Vùng 2.
Vùng núi thấp
và đồi cao sườn
tây Tam Đảo
Vùng 3.
Vùng núi thấp
và đồi cao sườn
đông Tam Đảo
Vùng 4.
Thung lũng và
đồng bằng chân
Tam Đảo
Khí hậu
Nhiệt độ trung
bình/ năm (
o
C)
Nhiệt độ trung
bình tháng lạnh
nhất
Lượng mưa bình
quân/năm
2000-2500mm
>190
3
20-24 15-19
1500-2000mm
140-190
3-4
Địa hình
Núi cao trung
bình 700-1700m.
Độ dốc* cấp V
Đồi cao và núi
thấp >100 đến
700m. Độ dốc
cấp III-IV
Đồi cao và núi
thấp >100 đến
700m. Độ dốc
cấp IV
Thung lũng và
thị nhẹ - trung
Đất dốc tụ hoặc
phù sa, thịt trung
binhg, giàu dinh
dưỡng
20
bình.
Thảm thực vật
Rừng lá rộng
thường xanh -
Rừng lùn đỉnh
núi
Rừng kín lá rộng
thường xanh
vùng đồi và núi
thấp
Rừng kín lá rộng
thường xanh
vùng đồi và núi
thấp
Lúa và cây màu
– cây lâu năm
Động vật
Đăc trưng khu hệ
động vật vùng
núi cao phía bắc
với các loài quý
hiếm: voọc mũi
hếch, cá cóc
rẫy nhưng chưa
có dân ở trong
vùng
Rừng đã bị tác
động nặng nề,
khai thác, làm
rẫy nhưng chưa
có dân ở trong
vùng
Là nơi định cư
của nhân dân
trong vùng, toàn
bộ đất đai đã
được khai phá
làm ruộng.
*Các cấp độ dốc: I (Bằng phẳng, <7
o
), II (Sườn thoải, 8
o
– 15
o
), III (Sườn dốc,
16
o
– 25
o
), IV (Rất dốc, 26
o
– 35
o
còn khả năng phát hiện thêm các loài mới thuộc nhóm động vật này, nhất là ở các sinh
cảnh trên độ cao như vùng Ao Dứa (Tam Đảo 2), vùng này thực ra vẫn còn rất ít được
quan tâm.
Vùng Tam Đảo 2, theo các số liệu của Lê Vũ Khôi (2006) thì;
- Tam Đảo 2 có các đại diện thuộc cả 3 bộ Ếch nhái: không chân, có đuôi và không
/đuôi. Có 7/8 họ có mặt ở Tam Đảo.
- Tỷ lệ số loài của một số họ có ở Tam Đảo 2 so với số loài trong toàn vùng như sau:
họ Cá cóc (Salamandridae) 1/1 loài, họ Ếch giun (Ichthyophidae) 1/1 loài, họ Ếch
nhái (Ranidae) có 12/20 loài, họ Ếch cây (Rhacophoridae) có 7/15, họ Cóc bùn
(Megophryidae) có 7/10 loài, họ Nhái bén (Hylidae) có 3/3 loài và họ Cóc
(Bufonidae) có 1 / 2 loài. (tổng cộng của 5 họ trên là 30/50 loài = 60% số loài của
các (5) họ trên).
- Hai loài đặc hữu hẹp cho Tam Đảo là Cá cóc bụng hoa (Cá cóc Tam Đảo,
Paramesotriton deloustali) và Ếch giun (Ichthyophis bananicus) đều có ở Tam Đảo
2. Ngoài ra còn có 6 loài đặc hữu rộng cho Việt Nam. Như vậy tổng số các loài đặc
hữu là 8.
- Cả 8 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam có ở VQG Tam Đảo thì đều
gặp ở Tam Đảo 2; trong đó E (1), V (1), R (3), và T (3).
(Nguồn: Lê Vũ Khôi 2006: Khu hệ Lưỡng cư, đánh giá những giá trị bảo tồn tại
Khu vực Tam Đảo 2 )
(Phasianidae), họ này có đến 5 lòai được ghi nhận tại Tam Đảo, trong đó có những loài
quý và đẹp như Gà lôi trắng (Lophura nychthemera), Gà tiền (Polyplecton
bicalcaratum). Sự hiểu biết về tính đa dạng các loài chim Tam Đảo cũng tăng dần theo
các hoạt động nghiên cứu bảo tồn tại VQG. Căn cứ vào Dự án khả thi xây dựng VQG,
lúc đó mới chỉ ghi nhận được 158 loài thuộc 43 họ, 15 bộ với 7 loài có giá trị bảo tồn,
thì hiện nay đã lên tới 186 loài, 45 họ, 17 bộ và 8 loài có giá trị bảo tồn ở các cấp trạng
thái khác nhau (E (2), V (2), R (1), T (3)). Ở vùng Dự án Tam Đảo 2 đã ghi nhận được
135 loài, 38 giống, 13 bộ đạt 72,58% số loài, 84,44% số họ và 76,47% số bộ so với
toàn bộ VQG Tam Đảo. Số loài quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam cũng rất cao
(7/8=87.5%) so với toàn VQG. Cụ thể là E (2/2), V (2/2), R (1/1), T (2/3). Các loài có
giá trị bảo tồn được ghi nhận là:
Gà lôi trắng (Trĩ
bạc, Lophura
nychthemera, E), Gà
tiền (Polyplecton
bicalcaratum, E), Dù dì
phương đông (Ketupa
zeulanensis, T), Cú
hoang cổ (Otus
bakkimoena, V), Niệc
hung (Pyilolaemus
tickelli, T), Ác là (Pica
pica, V), Chim khách
(Kitta formosae, R).
(Nguồn: Lê Vũ
Khôi, 2006: Tính đặc
hữu địa-động vật, đánh
giá những giá trị bảo
tồn tại Khu vực Tam
Đảo 2)
hiên các tuyến khảo sát thực địa trên 6
vùng khác nhau của VQG, trong đó có
2 điểm trực tiếp nằm trong vùng Dự án
Tam Đảo 2 là tuyến thượng nguồn suối
Tây Thiên-Ao Dứa-đỉnh Thạch Bàn
(thuộc xã Đạo Trù và Đại Đình) và
thượng nguồn Ngòi Lạnh (Dốc Cáp)
thuộc xã Đạo Trù.
Các loài thú đặc sắc ở VQG Tam Đảo là Voọc đen má trắng (Trachypithecus
francoisi), Báo lửa (Catopuma temminskii), Nai (Cervus unicolor), Cheo cheo
(Tragulus javanicus),…
Tại Khu vực Tam Đảo 2, những thông tin của Lê Vũ Khôi (2006) về thú cho biết:
Hình 3.5. Nai (Cervus unicolor)
Nguồn: GS Võ Quý
- Khu vưc Tam Đảo 2, có 38 loài thuộc 23 họ, 7 bộ, chiếm 46,9% khu hệ thú VQG
Tam Đảo. Trong đó, ở khu vực dự định xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch và dịch vụ
sinh thái Tam Đảo 2 (50ha) chỉ tìm thấy 25 loài thú nhỏ và 1 loài Cu li (Tỉ lệ
26/70=37,1%).
- Trong 38 loài thú được ghi nhận ở Tam Đảo 2, có 13 loài nguy cấp cần ưu tiên bảo
vệ. (Nếu so sánh con số này với 23 loài thú có giá trị bảo tồn của toàn bộ VQG thì
tỉ lệ không nhỏ, 13/23=56,5% (!)).
(Nguồn: Trần Nghi 2006: Xác định cơ sở khoa học để đánh giá tác động môi
trường phục vụ Dự án xây dựng Khu Du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2).
24