Bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình - Pdf 26


i
MỤC LỤC
Trang
Mục lục
i
Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt
iv
Danh mục các bảng
v
Danh mục các hình, bản đồ, biểu đồ
vi
Lời cảm ơn
vii
Lời cam đoan
viii
MỞ ĐẦU
1
Lý do chọn đề tài
1
Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn của đề tài
2
Mục tiêu nghiên cứu
2
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2
Phương pháp nghiên cứu
3
Kết cấu luận văn
3
Chương 1: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

23
2.1.2 Địa hình, địa chất
25
2.1.3 Thổ nhưỡng
26
2.1.4 Khí hậu thủy văn
26
2.1.5 Tài nguyên rừng
29
2.2 Thời gian nghiên cứu
32
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
32
2.3.1 Phương pháp luận
32
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu
33
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
34
3.1 Tầm quan trọng của các loại đất và rừng
34
3.1.1 Tầm quan trọng của các loại đất
34
3.1.2. Tầm quan trọng của rừng
36
3.2. Hoạt động quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng của Ban quản lý Vườn
Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng hiện nay
38
3.2.1. Chức năng và nhiệm vụ của Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
38

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
78
Kết luận
78
Kiến nghị
79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
Tài liệu trong nước
81
Tài liệu nước ngoài
83
PHỤ LỤC
84


v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
2.1: Diện tích các xã thuộc Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
24
2.2: Diện tích các phân khu chức năng của vùng nghiên cứu
25
2.3: Thống kê các loại đất chính trong khu vực Vườn Quốc gia
26
2.4: Diện tích các kiểu thảm thực vật và sinh cảnh của VQG PN - KB
30
2.5: Thống kê hệ thực vật Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
32
2.6: Thống kê hệ động vật Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
32
3.1: Tầm quan trọng của các loại đất tại địa phương dựa trên hạng mục sử dụng
35
3.2: Tầm quan trọng của rừng dựa hạng mục sử dụng
35
3.3 : Cơ cấu cán bộ Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
41
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Trang
1.1: Sơ đồ các bước chính của cộng đồng tham gia vào dự án sử dụng
bền vững tài nguyên đa dạng sinh học
9
2.1: Bản đồ Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
23
2.2: Rừng kín thường xanh điển hình cho VQG PN - KB
29
2.3: Bản đồ thảm thực vật rừng của VQG PN - KB
29
3.1: Biểu đồ phân loại đất theo mức độ quan trọng (tất cả các nhóm)
36
3.2: Biểu đồ tầm quan trọng của các loại rừng (tất cả các nhóm)
37
3.3: Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
42
3.4: Khu nuôi thả linh trưởng bán hoang dã của VQG PN - KB
51
3.5: Trạm cứu hộ động vật hoang dã của VQG PN - KB
51
3.6: Loài Bách xanh núi đá ở VQG PN - KB
53
3.7: Những ngôi nhà mới xây ở bản 61

Trường Sơn có tính đa dạng sinh học rất cao, được đánh giá là một trong 200 trung
tâm đa dạng sinh học của thế giới[26]. Sự phong phú của địa chất, địa mạo đã tạo ra
cho PN - KB có 15 kiểu sinh cảnh rộng lớn với 10 kiểu thảm thực vật quan trọng.
Độ che phủ của rừng PN - KB đạt 93,57% và diện tích rừng nguyên sinh đạt trên
83,74% nên PN - KB là khu bảo tồn có độ che phủ và tỷ lệ rừng nguyên sinh lớn
nhất trong các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam. Đặc biệt, ở đây còn tồn tại kiểu
rừng kín thường xanh nhiệt đới trên núi đá vôi ở độ cao 700m với diện tích
22.500ha là kiểu rừng độc đáo nhất ở Việt Nam và trên thế giới.
Tuy nhiên, do đặc điểm tự nhiên và dân số, công tác bảo vệ ở đây cực kỳ khó
khăn, luôn đối mặt với người dân địa phương. Cộng đồng dân cư các xã ven đồi thu
nhập chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp không có nghề phụ, trình độ canh tác
lúa nước, phong tục tập quán lạc hậu, các nhu cầu cần thiết như gỗ, củi đều từ
VQG. Mặt khác mâu thuẫn giữa người dân địa phương và Ban quản lý VQG PN -
KB luôn xảy ra. Chính vì vậy mà việc quản lý và bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của
cộng đồng tại VQG PN - KB là một giải pháp tối ưu hiện nay mà nó đã được các
nước trên thế giới cũng như một số VQG, KBT của Việt Nam áp dụng có kết quả
tốt.
Trong bối cảnh đó, các vấn đề nghiên cứu được đặt ra như sau:

2
- Làm thế nào để công tác quản lý và bảo tồn ĐDSH ở VQG PN - KB được
hiệu quả.
- Làm thế nào để người dân sống quanh VQG PN - KB hiểu được giá trị của
tài nguyên thiên nhiên và ĐDSH để từ đó họ nhận thức được và tham gia một cách
tự giác vào công tác bảo tồn ĐĐSH ở VQG PN – KB trên cơ sở sinh kế bền vững.
Để giải quyết các vấn đề nêu trên, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bảo
tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ
Bàng huyện, Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình”.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa khoa học: Đây là cơ sở khoa học có thể áp dụng cho việc nghiên cứu xây

Chương 2: Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
4
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm về đa dạng sinh học, nguyên nhân cụ thể của suy thoái đa dạng
sinh học
Đa dạng sinh học là sản phẩm của một quá trình tiến hóa lâu dài. Trong quá
trình đó mỗi loài đã tích lũy cho mình những gen chống chịu được bệnh tật, thích
nghi được với các điều kiện sinh thái đặc thù.


- Sự xâm nhập của các loài sinh vật lạ, cạnh tranh nơi ở và thức ăn với loài
bản địa dẫn đến sự suy vong của các loài bản địa này.
- Những nguyên nhân khác như việc xây dựng đường sá, cầu cống, đường
dây điện, hồ chứa nước, đập thuỷ điện
Nguyên nhân sâu xa: từ hậu quả của chiến tranh, sự tăng dân số đã gây ra
những biến động lớn về phân bố dân cư. Với gần 80% dân số sống ở nông thôn, đời
sống phụ thuộc vào nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên đã tạo nên thói quen xấu
trong việc khai thác và sử dụng tài nguyên cũng góp phần quan trọng làm suy thoái
đa dạng sinh học. Toàn cầu hoá cũng đòi hỏi phải sản xuất hàng hoá để thỏa mãn
nhu cầu thị trường ngày càng rộng lớn và cân bằng chi thu của những nước nghèo
nên ảnh hưởng tiêu cực đến đa dạng sinh học[15].
1.1.2 Khái niệm về bảo tồn đa dạng sinh học
Loài người đang phá huỷ một trong những nguồn tài nguyên quí giá nhất mà
không thể thay thế được trên thế giới là ĐDSH, cơ sở của sự sống còn, sự thịnh
vượng và sự phát triển bền vững của xã hội loài người. Tất cả các tài sản quí giá đó
rất cần thiết để đáp ứng các nhu cầu hàng ngày của loài người hiện nay, trong tương
lai cũng như đã đáp ứng cho tổ tiên trước kia. Thế nhưng chúng ta đã không biết giữ
gìn nguồn tài nguyên quí giá đó mà lại đang khai thác quá mức, tiêu hao và phá huỷ
nó với danh nghĩa là để phát triển. Sự suy thoái ĐDSH trên Trái đất đang hàng ngày
hàng giờ âm thầm phá huỷ khả năng phát triển của loài người[13].
Để đảm bảo sự phát triển bền vững phải bảo tồn ĐDSH và biết cách sử dụng
nó một cách bền vững. Đối với các loại tài nguyên sinh học, là dạng tài nguyên có
khả năng tái tạo được, điều quan trọng là tạo được sản lượng ổn định tối đa mà

6
không làm cạn kiệt nguồn tài nguyên cơ sở. Sản lượng này hoàn toàn có hạn và
không thể khai thác quá khả năng chịu đựng, nếu không muốn làm giảm năng suất
trong tương lai. Vấn đề là phải biết kiềm chế, biết cách sử dụng một cách khôn
khéo, và làm ổn định nhu cầu trong giới hạn cho phép bằng cách sớm ổn định dân
số, nâng cao nhận thức của mọi người về ĐDSH đối với cuộc sống của họ, và tăng

Bảo tồn chuyển vị bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi
sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng. Mục đích của việc di dời
này là để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1)
nơi sinh sống bị suy thoái hay huỷ hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên,
(2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới,
để nâng cao kiến thức cho cộng đồng. Bảo tồn chuyển vị bao gồm các vườn thực
vật, vườn động vật, các bể nuôi thuỷ hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo
tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy Do các sinh vật
hay các phần của cơ thể sinh vật được lưu giữ trong môi trường nhân tạo, nên chúng
bị tách khỏi quá trình tiến hoá tự nhiên. Vì thế mà mối liên hệ gắn bó giữa bảo tồn
chuyển vị với bảo tồn nguyên vị rất bổ ích cho công tác bảo tồn ĐDSH[13].
1.1.3 Khái niệm về cộng đồng
Cộng đồng nói chung thường được hiểu là những nhóm người, được tập hợp
dưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp, theo huyết
thống, theo tổ chức đoàn thể, v.v…
Tuy nhiên cộng đồng được nới tới ở đây là một đơn vị cấp địa phương của
một tổ chức xã hội bao gồm các cá nhân, gia đình, thể chế và các cấu trúc khác
đóng góp cho cuộc sống hàng ngày của một xã hội, một nhóm người trong một khu
vực địa lí xác định, có thể được biến đổi bởi quá trình vận động lịch sử[16].
Hay nói cách khác, cộng đồng là tập hợp những người sống gắn bó với nhau
thành một xã hội nhỏ có những điểm tương đồng về mặt văn hóa, kinh tế, xã hội
truyền thống, phong tục, tập quán, có quan hệ trong sản xuất và đời sống gắn bó với
nhau và có ranh giới không gian trong một thôn bản. Theo quan niệm này, “cộng
đồng” chính là cộng đồng dân cư thôn bản” (sau đây “thôn bản” được gọi chung là
“thôn’ cho phù hợp với Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004)[7].

8
Theo Điều 3 Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 “cộng đồng dân cư
thôn là tập hợp toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, ấp,
buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương”.


Nguồn: Isobel W. Heathcote, 1998
Hình 1.1: Sơ đồ các bước chính của cộng đồng tham gia vào dự án sử dụng
bền vững tài nguyên đa dạng sinh học
1. Hiểu biết về dự án: Thông tin cho cộng đồng có liên quan về nội dung,
mục tiêu của dự án để cộng đồng có thể tham gia bàn bạc xem có nên thực hiện dự
án ấy hay không và tác động (tích cực và tiêu cực) của dự án như thế nào đến cộng
đồng và họ cũng có thể tham gia vào các quyết định của dự án ngay từ đầu. Đó là
điều tối cần thiết của một dự án dựa vào cộng đồng.
2. Đồng thuận về thay đổi: Những dự án về sử dụng bền vững tài nguyên
thiên nhiên thường là những dự án về thay đổi từ sử dụng không bền vững sang bền
vững. Những thay đổi ấy phải có được sự đồng thuận của cộng đồng vì đấy chính là
chìa khoá thành công của dự án. Vì cộng đồng là nguồn lực chính thực hiện dự án.

Hiểu biết về dự án Đồng thuận về thay đổi Thiết lập quá trình thay đổi

4. Mô tả đặc trưng của hệ thống: Phần này tập trung mô tả các bên liên quan
trong dự án quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng bao gồm:
- Các cán bộ có liên quan từ trung ương đến địa phương (đặc biệt là những
cán bộ ra quyết định và thông thạo về quy hoạch).
- Các cán bộ dự án thông hiểu về dự án và các cộng đồng có năng lực làm
việc dễ dàng với cộng đồng và tiếp thụ được ý tưởng của những người đại diện cho
cộng đồng.
- Những công ty tư nhân và những cơ quan khác quan tâm tới ý nghĩa kinh tế
của dự án (đặc biệt là những người làm công tác kinh doanh các mặt hàng liên quan
đến dự án).
- Những nhóm sở thích (những nhóm được thành lập để đại diện cho những
lợi ích cụ thể của người dân nói chung) bao gồm từ những người lãnh đạo đến
những thành viên bình thường của những nhóm này. Những người làm công tác
giúp dân xây dựng mô hình nên trước hết phải thành lập đựơc những nhóm này để
làm hạt nhân cho việc xây dựng mô hình, sau đó mới tìm cách nhân rộng nếu mô
hình thành công.
- Những nhóm và cá nhân khác trong cộng đồng bao gồm cả những cá nhân
công dân, những nhà chuyên môn về luật, y và những cá nhân khác nói chung
nhưng không nhất thiết phải có quan hệ kinh tế trong dự án. Nếu tất cả những cán
bộ, các nhóm và các cá nhân khác nhau tìm được một đồng thuận về mục tiêu của
dự án thì chắc chắn sẽ thành công.
5. Xác định mục tiêu của cộng đồng: Nếu đã đồng thuận về thay đổi thì việc
xác định mục tiêu sẽ trở nên đơn giản hơn. Tuy nhiên mục tiêu phải thể hiện được
quyền lợi thiết thân của cộng đồng nếu không thì việc tham gia của họ chỉ là chiếu

11
lệ và như vậy thì dự án sẽ không thành công. Mặt khác thì mục tiêu cũng phải thể
hiện và thực hiện được những thay đổi theo chiều hướng sử dụng bền vững tài
nguyên đa dạng sinh học.
6. Đưa ra những khả năng thay đổi: Trước khi quyết định thay đổi như thế

ngày càng có nhiều người sử dụng tài nguyên tham gia vào quản lý nguồn tài
nguyên ven biển và trách nhiệm quản lý mang tính chất địa phương. ý thức trách
nhiệm, sự tuân thủ pháp luật do đó cũng tăng lên.
Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là hoạt động nhằm định
hướng các vấn đề thông qua kiểm soát quản lý tài nguyên mang tính địa phương
hơn. Khi quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng trở nên tiến bộ hơn nó sẽ giải quyết
các vấn đề của cộng đồng ven biển một cách toàn diện hơn. Quản lý tài nguyên dựa
vào cộng đồng là một nỗ lực làm cho cộng đồng “được kiểm soát hơn”.
Trong tương lai, sinh kế bền vững không chỉ đơn thuần là “ Sinh kế thay thế”
mà nó còn bao gồm cả các khía cạnh văn hoá, xã hội và chính trị đang tác động một
cách mạnh mẽ đến cuộc sống của con người. Nếu muốn con người có trách nhiệm
trong việc quản lý, thì lợi ích của họ phải rõ ràng, thực chất, công bằng, những mục
đích thương mại đơn thuần là không thể chấp nhận được. Việc đánh giá một cách
toàn diện là thực sự cần thiết. Hầu hết các hệ sinh thái bị suy thoái vì nguyên nhân
này hay nguyên nhân khác đều phải được hồi phục. Kiểm soát việc sử dụng và lạm
dụng tài nguyên sẽ mang lại năng suất tiềm năng cho vùng ven biển và cộng đồng
ven biển, với sự chăm sóc và quan tâm thích đáng, có thể cải thiện được phúc lợi
của chính cộng đồng ven biển trước mắt cũng như trong tương lai.
Quản lý tài nguyên ven biển dựa vào cộng đồng là chiến lược toàn diện
nhằm xác định những vấn đề mang tính chất nhiều mặt ảnh hưởng đến môi trường
ven biển thông qua sự tham gia tích cực và có ý nghĩa của cộng đồng ven biển. Điều
quan trọng là chiến dịch này tìm cách xác định vấn đề cốt lõi của sự tiếp cận tài
nguyên một cách tự do cùng với tất cả hậu quả bất công và không hiệu quả, bằng

13
cách tăng cường sự tiếp cận và kiểm soát của cộng đồng đối với nguồn tài nguyên
của họ.
Ngoài ra còn phải quan tâm đến những khía cạnh khác của Quản lý bảo tồn
như: Những nguyên tắc của Quản lý bảo tồn dựa vào cộng đồng bao gồm: tăng
quyền lực (trao quyền), sự công bằng, tính hợp lý về sinh thái và sự phát triển bền

nó đã và đang nhận được sự quan tâm đáng kể của các nhà nghiên cứu môi trường,
các nhà khoa học và nhà hoạch định chính sách trong toàn khu vực Đông Nam Á.
Đây là kết quả của sự quan tâm của chính phủ Viêt nam, cụ thể là của Trung
tâm Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng (RCFEE), Viện Khoa học Lâm
nghiệp Việt Nam (FSIV), Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE), và là đóng góp
đáng kể của đối tác RUPES, trong đó có Tổ chức Winrock Quốc tế, Trung tâm
Nông Lâm nghiệp thế giới (ICRAF), Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế
(CIFOR), Quỹ Quốc Tế Bảo Vệ Thiên Nhiên (WWF), Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên
Thế giới (IUCN) trong 5 năm qua.
Những nỗ lực đóng góp này gồm:
- Lồng ghép chi trả dịch vụ môi trường vào Luật đa dạng sinh học do Bộ Tài
nguyên và Môi trường dự thảo.
- Các chính sách hỗ trợ cho chi trả dịch vụ môi trường đã thử nghiệm cơ chế
trong nỗ lực trả lời câu hỏi ‘bao nhiêu phần trăm mức chi trả từ người sử dụng điện
nên được chi trả cho những người bảo vệ vùng đầu nguồn?’ Cơ chế này được thực
hiện bởi Bộ Kế hoạch và Đầu tư (MPI) với sự hỗ trợ của Ngân hàng Phát triển
Châu Á (ADB).
Với cách làm này thì từng người dân của cộng đồng có thể được hưởng lợi
trực tiếp từ dịch vụ họ mang lại. Nói cách khác, những người cung cấp dịch vụ môi
trường cần phải được chi trả hoặc bồi hoàn cho những gì họ làm để duy trì chức
năng của hệ sinh thái, và những người sử dụng dịch vụ môi trường nên chi trả cho
những dịch vụ này. Ở Việt Nam, thuật ngữ dịch vụ hệ sinh thái được sử dụng phổ
biến hơn thuật ngữ dịch vụ môi trường bởi vì dịch vụ môi trường đang được hiểu là
theo nghĩa bảo vệ môi trường như các vấn đề ô nhiễm. Thuật ngữ dịch vụ hệ sinh

15
thái được sử dụng trong dự thảo Luật Đa dạng sinh học và khung chính sách thí
điểm của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn.
Phí chi trả dịch vụ môi trường rừng (MTR) là loại phí nhằm thực hiện xã hội
hóa nghề rừng, để bảo vệ, phát triển rừng cùng các hệ sinh thái. Đặc biệt là bảo vệ

Do đó, Có 3 loại dịch vụ MTR sẽ thực hiện trong đợt thí điểm này là dịch vụ
về du lịch, dịch vụ về điều tiết, cung ứng nguồn nước và dịch vụ về bảo vệ đất, hạn
chế xói mòn, chống bồi lắng lòng hồ.
Trong thời gian thí điểm, phí dịch vụ sẽ tính với các biểu giá tuỳ vào đối
tượng. Đối với các nhà máy thủy điện có giá 20 đồng/kwh điện thương phẩm, các
cơ sở sản xuất và cung cấp nước sinh hoạt được tính theo giá 40 đồng/m3 nước
thương phẩm.
Riêng các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch thì định mức chi trả tiền sử
dụng dịch vụ MTR được xác định bằng 0,5 đến 2%, tính trên doanh thu du lịch thực
hiện trong kỳ. Trong đó tỷ lệ % trên doanh thu du lịch sẽ do UBND tỉnh xem xét và
quy định cụ thể.
Tổng số tiền thu được từ phí chi trả MTR sẽ phân lại 10% cho các hoạt động
của Quỹ bảo vệ và phát triển rừng, 10% cho chi phí quản lý. Ngoài ra, 80% còn lại
dùng để trả tiền công khoán bảo vệ rừng ổn định lâu dài cho chủ rừng có thể là các
cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư thôn, bản[27].
1.2 Trên thế giới
Sau 1930, tiếp theo cuộc cách mạng công nghiệp, thế giới bước vào giai
đoạn mới của phát triển kỹ nghệ sản xuất. Đặc biệt sau Chiến tranh thế giới thứ II,
sự phát triển nhanh chóng của sản xuất và các tiến bộ khoa học kỹ thuật con người
đã có khả năng khuấy động tự nhiên, khai thác nguồn tài nguyên một cách quá
mức, đặc biệt ở vùng nhiệt đới, dẫn tới sự suy thoái các hệ sinh thái, làm nghèo kiệt
nguồn ĐDSH, thậm chí hủy diệt nguồn tài nguyên quý giá đó để đáp ứng cho nhu
cầu ngày càng tăng của mình. Đến nay đã có hơn 40% diện tích rừng nhiệt đới
nguyên thuỷ bị phá huỷ, trung bình hàng năm có khoảng 6-7 triệu hecta đất trồng
trọt bị mất khả năng sản xuất do xói mòn. Ước tính 5-10% số loài trên thế giới sẽ

17
biến mất vào khoảng giữa những năm 1990 đến 2020, và số loài bị tiêu diệt sẽ tăng
lên đến 25% vào khoảng năm 2050 (IUCN, UNEP, WWF, 1996).
Qua một cuộc thăm dò rộng rãi, năm 1987 Ủy ban Môi trường và Phát triển

- Công ước CITES;
- Công ước di sản Thế giới
- Công ước bảo tồn các loài di cư (CMS).
1.3 Ở Việt Nam
1.3.1 Cơ sở pháp lý
+ Quyết định số 72-TTg ngày 7/7/1962 của Thủ tướng Chính Phủ về khu
rừng cấm Cúc Phương.
+ Quyết định 41/TTg ngày 24/1/1977 của Thủ Tướng Chính Phủ về việc
thành lập 10 khu rừng cấm trong phạm vi toàn quốc.
+ Ngày 9/8/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng có quyết định số 194/CT
công nhận tiếp 73 khu rừng đặc dụng , trong đó gồm 2 VQG, 46 khu dự trữ thiên
nhiên, 25 khu di tích lịch sử văn hoá .
+ Ngày 3/12/2004, Luật Bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội thông qua,
đã công nhận Cộng đồng là một chủ thể được giao rừng và các quyền và nghĩa vụ
quy định cụ thể tại các Điều 29 và 30.
+ Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày
29/11/2005, Quốc hội khóa XI.
+ Quyết định 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủ tướng Chính phủ
về việc phê duyệt Chiến lượng quản lý hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam
đến năm 2010.
+ Quyết định 62/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2205 của Bộ trưởng Bộ
NN&PTNT về việc ban hành bản quy định về tiêu chuẩn Rừng đặc dụng.
+ Ngày 13 tháng 11 năm 2008 Quốc hội khóa 12 kỳ thứ 4 đã ban hành Luật Đa
dạng sinh học số 20/2008.

19
Như vậy, công tác bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam đã hình thành,
phát triển trong gần 50 năm qua (kể từ ngày thành lập khu rừng cấm Cúc Phương
7/7/1962) . Trong quá trình phát triển chúng ta đã từng bước bổ sung, mở rộng, hình
thành được một hệ thống khu bảo tồn rừng và đất ngập nước ven biển. Chúng ta


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status