Giải pháp phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Vườn Quốc gia Ba Bể - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
HỒ THỊ KIM THOA
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH DỰA VÀO
CỘNG ĐỒNG TẠI VƢỜN QUỐC GIA BA BỂ
LUẬN VĂN THẠC SĨ DU LỊCH Hà Nội, 2012

Hà Nội, 2012

1
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 7
1. Tính cấp thiết của đề tài 7
2. Lịch sử nghiên cứu 9
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 12
4. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 13
5. Đóng góp của luận văn 16
6. Kết cấu của luận văn 16
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH DỰA
VÀO CỘNG ĐỒNG 18
1.1. Cơ sở lý luận 18
1.1.1. Về cộng đồng 18
1.1.1.1. Khái niệm 18
1.1.1.2. Bản chất cộng đồng 18
1.1.1.3. Các yếu tố tác động đến sự hình thành một cộng đồng 19
1.1.2. Về du lịch dựa vào cộng đồng 20
1.1.2.1. Khái niệm về du lịch dựa vào cộng đồng 20
1.1.2.2. Vai trò của du lịch dựa vào cộng đồng 22
1.1.2.3. Các nguyên tắc của phát triển du lịch dựa vào cộng đồng 23
1.1.2.4. Các điều kiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng 23
1.2. Cơ sở thực tiễn 26
1.2.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng của một số nước
trên thế giới 26
1.2.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 34
Tiểu kết chƣơng 1 42
CHƢƠNG 2: ĐIỀU KIỆN VÀ THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH

3.3.2.5. Định hướng về tổ chức không gian du lịch dựa vào cộng đồng 104
3.2. Một số giải pháp 107
3.2.1. Giải pháp về cơ chế chính sách phát triển du lịch dựa vào cộng đồng

3
107
3.2.2. Giải pháp về nâng cao nhận thức xã hội, tăng cường sự ủng hộ, quan
tâm của chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch dựa vào
cộng đồng 107
3.2.3. Giải pháp về nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật 110
3.2.4. Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực 111
3.2.5. Giải pháp về đầu tư và thu hút đầu tư 113
3.2.6. Giải pháp về truyền thông, quảng cáo 115
3.2.7. Giải pháp về bảo tồn 116
3.2.8. Liên kết với các doanh nghiệp lữ hành 118
Tiểu kết chƣơng 3 118
Kết luận 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 122
PHỤ LỤC
USD : Đô la Mỹ
VQG : Vườn quốc gia
WWF : Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới
5
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ

Trang
Bảng 1.1. Mục tiêu, nguyên tắc, điều kiện phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
ở Việt Nam 26
Bảng 2.1. Nhiệt độ không khí trung bình tháng trong năm 45
Bảng 2.2. Số ngày mưa trung bình tháng trong năm 45
Bảng 2.3. Độ ẩm tương đối trung bình tháng và năm 46
Bảng 2.4. Số ngày có sương mù trung bình tháng và năm 46
Bảng 2.5. Các nhóm dân tộc tại vườn quốc gia Ba Bể (Đơn vị: %) 63
Bảng 2.6. Hiện trạng về cơ sở lưu trú du lịch tại khu vực vườn quốc gia Ba Bể
giai đoạn 2000-2010 . 80
Bảng 2.7. Hiện trạng lao động du lịch Bắc Kạn giai đoạn 2006-2010
(Đơn vị: Lao động) 87
Bảng 2.8. Thống kê lượng khách du lịch đến Bắc Kạn với các tỉnh lân cận
(Đơn vị: Ngàn lượt khách) 87
Bảng 2.9. Hiện trạng khách du lịch đến Bắc Kạn giai đoạn 2000-2010
(Đơn vị: Ngàn lượt khách) 88
Bảng 2.10. Hiện trạng khách du lịch đến VQG Ba Bể giai đoạn 2000-2010
(Đơn vị: Ngàn lượt khách) 90
Bảng 2.11. Phân tích về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của du lịch
dựa vào cộng đồng tại vườn quốc gia Ba Bể 97
Bảng 3.1. Mô hình tổ chức và quản lý du lịch dựa vào cộng đồng Ba Bể 105

Ba Bể
Bản đồ 3: Bản đồ Hiện trạng phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc
gia Ba Bể 7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, du lịch Việt Nam đã đạt được những thành tựu
đáng khích lệ trong đó không thể không kể đến sự đóng góp của hoạt động du lịch
dựa vào cộng đồng (DLDVCĐ). Loại hình DLDVCĐ này là một trong những mô
hình mới đã và đang được ngành du lịch quan tâm, đầu tư phát triển nhằm từng
bước làm phong phú thêm các loại hình du lịch của địa phương, tạo ra công ăn việc
làm, tăng thu nhập cho người dân, thu hút khách du lịch ngày một đông hơn. Với
mục tiêu chính là tạo ra thu nhập bổ sung cho người dân, bảo tồn và duy trì các
nguồn tài nguyên tự nhiên và văn hóa của địa phương, phát triển và tăng cường cơ
sở hạ tầng và cơ sở kinh doanh du lịch, xây dựng năng lực và tăng thêm quyền cho
cộng đồng, tạo sự hiểu biết giữa dân cư địa phương với cơ sở kinh doanh và khách
du lịch, DLDVCĐ ngày càng khẳng định được vai trò của mình trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội nói chung và phát triển hoạt động du lịch của địa phương nói
riêng. Thông qua hoạt động DLDVCĐ, người dân có thêm thu nhập từ việc đón
khách, cho thuê đất cắm trại, chỗ nghỉ đêm (home stay), DV ăn uống và hướng dẫn
khách tham quan
Phát triển mô hình DLDVCĐ cũng là một công cụ quý báu để phát triển du
lịch bền vững vì người nghèo. Qua đó, ngành du lịch có thể vươn tới những vùng
sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc và nếu được thực hiện tốt, du lịch có thể thúc
đẩy phát triển kinh tế xã hội tại những địa phương nghèo.

v.v….
Trong bối cảnh trên, việc đưa ra những định hướng và giả pháp đúng đắn
sao cho vừa khai thác được những tiềm năng đa dạng và phong phú về tự nhiên và
văn hóa bản địa, vừa hạn chế được những tác động, góp phần bảo tồn tự nhiên và
văn hóa là hết sức cần thiết.
Đề tài “Giải pháp phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại Vườn quốc gia Ba
Bể” sẽ góp phần khơi dậy tiềm năng phát triển loại hình DLDVCĐ tại VQG, đồng
thời hướng tới mục tiêu phát triển bền vững, bảo tồn đa dạng sinh học của HST
rừng nơi đây.

9
2. Lịch sử nghiên cứu
DLDVCĐ được khởi xướng đầu tiên tại các nước thuộc Châu Âu và Châu
Mỹ từ những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ XX, phổ biến nhất phải kể đến các
quốc gia như Canada, Hungary, Hà Lan…. Chính nền công nghiệp hiện đại đã làm
gia tăng lượng người sống và làm việc ở các thành phố lớn, từ đó nhu cầu nghỉ ngơi
và thư giãn cũng tăng theo. Xu hướng đi du lịch để tái tạo sức khỏe bằng việc tận
hưởng không gian thanh bình, tĩnh lặng giữa thiên nhiên đã khiến họ về với những
miền quê mà ở đó không có những khách sạn sang trọng, những bãi biển tấp nập
khách thập phương mà họ chỉ cần được ngủ ngon trong một căn phòng đơn sơ mà
ấm áp của vùng quê ngai ngái mùi cỏ dại và được dùng bữa sáng bằng chính sữa
của chính trang trại này, sau đó họ ra cánh đồng cùng người nông dân làm việc hoặc
cắm trại, săn bắn, đạp xe, leo núi….
Trong những thập niên vừa qua, du lịch phát triển với tốc độ nhanh chóng
đem lại nhiều cơ hội về việc làm, tăng thu nhập kinh tế, góp phần giải quyết đói
nghèo, nâng cao hiểu biết xã hội… nhưng đồng thời cũng chứa đựng những thách
thức, những mối đe dọa tiềm ẩn đối với môi trường tự nhiên và văn hóa của các
CĐĐP. Từ sự ra đời của khái niệm “phát triển bền vững” vào những năm 1980, trên
thế giới bắt đầu hướng tới phát triển ngành du lịch một cách bền vững nhằm duy trì
các lợi ích của du lịch trong điều kiện bảo tồn, cải thiện môi trường và cân bằng phù

between tourism and community, social, economic and enviroment cost-benefit of
Community based on tourism” (2004) và tài liệu hướng dẫn “Community-based on
tourism Handbook” của tổ chức REST nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc phát triển
DLDVCĐ; năm 2001, Viện DLDVCĐ Thái Lan xuất bản tài liệu “Community-
based tourism in Thailand” đề xuất các mô hình phát triển DLDVCĐ tại đất nước
này; Tiến sỹ Micheal J.Hatton cũng đưa ra những nhận định về DLDVCĐ ở khu
vực Châu Á Thái Bình Dương qua đề tài “Conmunity-based tourism in the Asia
Pacific”.
DLDVCĐ xuất hiện ở nước ta từ những năm 1997, xuất phát từ nhu cầu của
các du khách nước ngoài muốn tự khám phá và tìm hiểu văn hóa ở Việt Nam. Đến
nay, mô hình du lịch này đã lan rộng từ vùng núi Đông Bắc, Tây Nguyên tới đồng

11
bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long… Một số mô hình phát triển DLDVCĐ
tiêu biểu như SaPa (Lào Cai), Hội An, làng cổ Phước Tích (tỉnh Thừa Thiên), Hòn
Mun (Khánh Hòa), Giao Thủy (Nam Định), làng Cát, Klu (Đăkrông, Quảng Trị)
Một số địa phương cũng đã hình thành ở mức độ khác nhau sự liên kết của
cộng đồng trong kinh doanh du lịch Nhìn chung, phát triển DLDVCĐ nêu trên đã
có tác dụng tích cực, đem lại lợi ích cho người dân, góp phần xoá đói giảm nghèo
và nâng cao ý thức về bảo vệ TNDL, môi trường. Song các kết quả này còn ở phạm
vi hẹp, tự phát, hoạt động DLDVCĐ còn nhiều khó khăn, bất cập, chưa khai thác
mạnh được những đặc điểm, lợi thế của DLDVCĐ. Nói cách khác, các hoạt động
DLDVCĐ theo đúng các nguyên tắc phát triển của nó còn rất hạn chế và thực tế
mới dừng lại ở mức độ mô hình hơn là các sản phẩm đích thực.
Nhận thức được ý nghĩa và vai trò quan trọng của hoạt động DLDVCĐ đối
với bảo tồn và xóa đói giảm nghèo, các cấp quản lý Nhà nước cũng như các tổ chức
phi chính phủ vì cộng đồng đã nỗ lực vạch ra các định hướng, xây dựng các dự án,
kêu gọi đầu tư, đào tạo nhân lực để người dân có thể tự vận hành loại hình du lịch
này tại địa phương mình. Cho đến thời điểm này, khái niệm về DLDVCĐ vẫn chưa
được thống nhất và đề cập trong bất kỳ văn bản quy định pháp lý nào. Điều đó cũng

hoạt động du lịch dựa vào cộng đồng ở huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình” của Hà
Thị Duyên (Đại học Sư phạm Hà Nội) v.v
Những nghiên cứu thực tiễn trên chỉ ra rằng DLDVCĐ phát triển tùy theo
môi trường chính trị văn hóa xã hội của mỗi vùng miền, mỗi đất nước. Do đó,
không có mô hình duy nhất nào phù hợp cho tất cả các quốc gia, các khu vực và
hiển nhiên thế giới này cũng không có được sự đồng thuận về định nghĩa cũng như
quy trình phát triển DLDVCĐ. Các nhà nghiên cứu còn đồng ý rằng những lý
thuyết và cách tiếp cận DLDVCĐ ở các nhóm nước phát triển hoặc đang phát triển
đều cần phải tiếp tục tích lũy thêm và hoàn thiện dần.
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
a. Mục đích

13
Trên cơ sở vận dụng các vấn đề lý luận và thực tiễn của du lịch và DLDVCĐ,
đề tài nhằm đánh giá các điều kiện và thực trạng hoạt động DLDVCĐ để từ đó đề
xuất các giải pháp phát triển hiệu quả và bền vững cho DLDVCĐ ở VQG Ba Bể.
b. Nhiệm vụ
- Đúc kết cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch và DLDVCĐ.
- Đánh giá tiềm năng và phân tích thực trạng hoạt động DLDVCĐ tại VQG
Ba Bể
- Đề xuất các giải pháp phát triển DLDVCĐ tại địa bàn nghiên cứu nhằm đạt
hiệu quả cao và bền vững.
c. Phạm vi nghiên cứu:
- Nội dung:Luận văn tập trung đánh giá các tiềm năng phát triển DLDVCĐ
và các giải pháp cho phát triển DLDVCĐ tại VQG Ba Bể đạt hiệu quả cao và bền
vững.
+ Về không gian lãnh thổ: toàn bộ VQG Ba Bể và một số bản cụ thể (Bó Lù,
Pắc Ngòi).
+ Thời gian: chủ yếu trong khoảng thời gian 2006-2012.
4. Quan điểm và phƣơng pháp nghiên cứu

- Quan điểm phát triển bền vững
Phát triển bền vững hiện đã trở thành xu hướng, mục tiêu phát triển kinh tế-
xã hội nói chung và của ngành kinh tế du lịch nói riêng ở nhiều quốc gia trên thế
giới cũng như tại Việt Nam. Các nguồn lực phát triển du lịch nếu được nghiên cứu,
bảo tồn, xây dựng và khai thác hợp lý có thể sử dụng được nhiều lần mà chất lượng
vẫn có thể được nâng cao. Do đó, ngành du lịch có khả năng phát triển bền vững và
tạo ra nhiều hiệu quả kinh tế-xã hội cũng như môi trường, đặc biệt đối với hoạt
động DLDVCĐ.
Vì vậy, quan điểm phát triển bền vững đóng vai trò rất quan trọng trong việc
đánh giá các nguồn lực và thực trạng phát triển cũng như khi đưa ra các quyết định,
định hướng, giải pháp, tổ chức triển khai hoạt động DLDVCĐ tại một địa bàn.
- Quan điểm kinh tế và lợi ích của cộng đồng

15
Cộng đồng là nền tảng phát triển của mọi xã hội. Cộng đồng là nguồn sáng
tạo ra các giá trị nhân văn, bảo vệ và tôn tạo các giá trị văn hóa đó cùng với các giá
trị của tài nguyên thiên nhiên, đồng thời cũng tham gia vào tất cả các lĩnh vực hoạt
động kinh doanh du lịch. Chính vì vậy một trong những phương thức tiếp cận quan
trọng cho phát triển du lịch bền vững là đẩy mạnh phát triển DLDVCĐ, trong đó
các giá trị truyền thống và vai trò của cộng đồng được phát huy đầy đủ nhất. Phát
triển DLDVCĐ còn là một công cụ quý báu để phát triển kinh tế-xã hội bền vững
cho địa phương nói chung và những người có thu nhập thấp nói riêng. Vì vậy, quan
điểm kinh tế và lợi ích cộng đồng cần được vận dụng vào quá trình nghiên cứu đề
tài đã đặt ra.
- Quan điểm lịch sử viễn cảnh
Du lịch là một ngành kinh tế “động”, nó luôn biến đổi không ngừng theo thời
gian và dưới sự tác động của nhiều yếu tố như kinh tế, chính trị, xã hội v.v… Do
vậy, khi nghiên cứu cần phải dựa theo quan điểm lịch sử viễn cảnh để đánh giá
đúng đắn sự hình thành và phát triển từ quá khứ đến hiện tại, từ đó có những dự báo
tương lai để có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu nhất nhằm thúc đẩy sự phát

qua các chỉ tiêu phát triển ngành cơ bản. Về mặt nghiên cứu các vấn đề cộng đồng,
phương pháp này hỗ trợ xử lý các thông tin để xây dựng mô hình phù hợp cho
nhiệm vụ đã đặt ra.
- Phương pháp SWOT
5. Đóng góp của luận văn
- Đúc kết có chọn lọc những vấn đề lý luận về DLDVCĐ, những kinh
nghiệm và mô hình phát triển DLDVCĐ trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
- Kiểm kê các điều kiện phát triển DLDVCĐ và làm rõ được thực trạng phát
triển DLDVCĐ và ý nghĩa của nó tại địa phương.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm triển khai và phát triển loại hình
DLDVCĐ ở VQG Ba Bể có hiệu quả và bền vững.
6. Kết cấu của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
chính của luận văn được trình bày trong 3 chương như sau:

17
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về DLDVCĐ
Chương 2: Điều kiện và thực trạng hoạt động DLDVCĐ tại VQG Ba Bể
Chương 3: Các giải pháp phát triển DLDVCĐ tại VQG Ba Bể
hội còn kém phát triển, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào việc khai thác trực
tiếp các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Cộng đồng thường xem các nguồn tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất đai,
nguồn nước…là “ngân hàng” của họ, nơi mà họ có thể dựa vào để sinh sống. Cộng
đồng sử dụng các nguồn tài nguyên nơi mình sinh sống cùng với việc phát triển các
tập quán quản lý riêng. Họ khai thác tài nguyên theo nhiều phương thức và chia sẻ
lợi ích từ việc khai thác cho những thành viên khác trong cộng đồng của mình. Việc
chia sẻ nguồn lợi luôn đi liền với chia sẻ trách nhiệm bảo tồn được xem là triết lý
sống của cộng đồng được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt chẽ
cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá phân tán,
được liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài hay ngắn như
phong trào quần chúng, công chúng khán giả, đám đông… Đây là một định nghĩa
rất hay được sử dụng trong khoa học xã hội, gắn với các thực thể xã hội nhất định.
1.1.1.2. Bản chất cộng đồng

19
Theo một số nhà khoa học, khái niệm bản chất cộng đồng bao gồm bốn yếu
tố:
- Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan này đôi
khi được gọi là tương quan đệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt, tương quan thân
mật.
- Có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc nơi cá nhân trong những nhiệm vụ và
công tác xã hội của tập thể.
- Có sự hiến dâng tinh thần hoặc dấn thân đối với những giá trị được tập thể
coi là cao cả và có ý nghĩa.
- Một ý thức đoàn kết với những người trong tập thể.
Các cộng đồng hội đủ bốn yếu tố trên khá phổ biến trước khi có sự xuất hiện
cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và nền kinh tế tư bản. Trong thế giới ngày nay,
vẫn có các cộng đồng có được các đặc tính trên và là những cộng đồng hoàn chỉnh ở

1.1.2.1. Khái niệm về du lịch dựa vào cộng đồng
Hiện nay, cụm từ “Du lịch dựa vào cộng đồng” (DLDVCĐ) đang dần trở nên
quen thuộc và được xem là một bộ phận của du lịch bền vững, hướng vào việc giảm
nghèo thông qua tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương, thực hiện
công bằng trong phân chia lợi ích từ du lịch, đồng thời góp phần bảo tồn tài nguyên
thiên nhiên và bản sắc văn hóa bản địa.
Thực tế vẫn chưa có một định nghĩa chính thức về DLDVCĐ được công
nhận trên toàn thế giới. Đã có một số khái niệm được giới thiệu, nhưng chúng được
sử dụng khá linh hoạt và được thay đổi tùy thuộc vào tác giả, địa phương tiến hành
dự án DLDVCĐ. Song nhìn chung, các vấn đề về bền vững và cộng đồng địa
phương có xu hướng chiếm vị trí cơ bản, trọng tâm. Do vậy, có thể hiểu khái quát
về DLDVCĐ là phương thức phát triển du lịch -trong đó, cộng đồng dân cư là chủ
thể trực tiếp tham gia vào hoạt động du lịch, thông qua đây họ được hưởng các
quyền lợi về kinh tế song song với trách nhiệm bảo vệ TNDL theo hướng bền vững.
Một số khái niệm về DLDVCĐ tiêu biểu và được sử dụng rộng rãi có thể kể
đến:

21
“DLDVCĐ là sự tương tác giữa khách và chủ mà có sự tham gia có ý nghĩa
của cả hai phía và tạo các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho CĐĐP và môi trường”. (Học
viện nghiên cứu núi, Malaysia 2002).
Khái niệm của Hsien Hue Lee (Hiệu trưởng trường Đại học cộng đồng Hsin-
Hsing, Đài Loan): “DLDVCĐ là nhằm bảo tồn TNDL tại các điểm du lịch đón
khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn; đồng thời, khuyến khích và tạo ra
các cơ hội tham gia của người dân địa phương trong du lịch”.
Các nhà nghiên cứu du lịch Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas – 2002 cho
rằng: “DLDVCĐ là loại hình du lịch mà một số lớn người dân địa phương có quyền
kiểm soát nó và và có sự tham gia trong việc quản lý và phát triển du lịch cộng đồng.
Phần lớn thu nhập được giữ lại cho kinh tế của địa phương”.
DLDVCĐ cần được tiếp cận theo một cách có hệ thống, từ việc nghiên cứu

- Du lịch có sự tham gia của cộng đồng (Community-participation in tourism)
- Phát triển cộng đồng dựa vào du lịch (Community-development in tourism)
- DLST dựa vào cộng đồng (Community-based ecotourism)
1.1.2.2. Vai trò của du lịch dựa vào cộng đồng
- DLDVCĐ được xem như là một nguồn lực thay thế, mang lại lợi nhuận cho
cuộc sống và tăng cường thu nhập cho CĐĐP. Vai trò này đặc biệt thích hợp với
các cộng đồng mà nguồn lực hiện tại của họ đang bị đe dọa nghiêm trọng, có thể
dẫn đến tỷ lệ thất nghiệp, đói nghèo cao, kéo theo đó là các vấn đề xã hội phát sinh,
đặc biệt là tệ nạn xã hội trong giới trẻ.
- DLDVCĐ được xem như là một công cụ chứng minh cho sự bảo tồn di sản
văn hóa. Du lịch đã và đang được áp dụng thành công như là một công cụ thể hiện
nỗ lực duy trì bảo tồn văn hóa vùng miền. Tuy nhiên, vai trò này ít khi được nhắc
đến, các bình luận về dự án DLDVCĐ thường chỉ quan tâm tới lợi ích kinh tế trực
tiếp của dự án.
- DLDVCĐ được xem như là tiền đề tạo điều kiện cho sự tham gia trong
tương lai của CĐĐP vào các lĩnh vực kinh tế khác. Ở các nước đang phát triển, cơ
quan Chính Phủ trực tiếp giám sát và ưu tiên hỗ trợ tài chính cho những CĐĐP có

23
kết quả hoạt động tốt. Theo đó, các CĐĐP thực hiện thành công chương trình, dự án
du lịch thường được nêu gương như những mô hình du lịch nông thôn và thường
thu hút sự quan tâm từ các cơ quan, ban ngành trong nước, cũng như nước ngoài.
Cộng đồng này thường được tổ chức tốt, có tính kỷ luật cao, phối hợp chặt chẽ khi
thực hiện dự án. Do đó, hầu hết quỹ phát triển nông thôn được dành cho các CĐĐP
đó hoạt động tốt, độ rủi ro thất bại thấp hơn là dành cho các CĐĐP chưa được kiểm
định.
1.1.2.3. Các nguyên tắc của phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
- Cộng đồng phải là chủ thể tổ chức các DVDL và tự phân chia lợi ích.
- Cộng đồng phải là đối tác của doanh nghiệp du lịch và chịu sự quản lý nhà
nước về hoạt động du lịch do mình tổ chức.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status