PHẦN MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu.
Du lịch Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ trong những
năm gần đây trong đó không thể không kể đến sự đóng góp của hoạt động du
lịch cộng đồng. Với mục tiêu chính là tạo ra thu nhập bổ sung cho người dân,
bảo tồn và duy trì các nguồn tài nguyên văn hóa của địa phương, phát triển và
tăng cường cơ sở hạ tầng và cơ sở kinh doanh du lịch, xây dựng năng lực và tăng
thêm quyền cho cộng đồng, tạo sự hiểu biết giữa dân cư địa phương với cơ sở
kinh doanh và khách du lịch, du lịch dựa vào cộng đồng ngày càng khẳng định
được vai trò của mình trong quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và phát
triển hoạt động du lịch của địa phương nói riêng. Thông qua hoạt động du lịch
dựa vào cộng đồng, người dân có thêm thu nhập từ việc đón khách, cho thuê đất
cắm trại, chỗ nghỉ đêm (home stay), dịch vụ ăn uống và hướng dẫn khách tham
quan
Tham gia các chương trình tour du lịch dựa vào cộng đồng, du khách có
cơ hội khám phá nơi sinh sống, tham quan, tìm hiểu các tập tục sinh hoạt, tập
quán canh tác của người dân bản địa. Tại các vùng nông thôn và vùng ven biển,
nơi chưa có sự tác động lớn của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là vùng có nhiều
người dân nghèo sinh sống với các nếp sinh hoạt mang đậm đà bản sắc riêng rất
phù hợp để phát triển loại hình du lịch dựa vào cộng đồng
Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch còn mới ở Việt
Nam. Một số mô hình phát triển du lịch dựa vào cộng đồng đã được hình thành
bước đầu ở một số địa phương như tại SaPa (Lào Cai), Thừa Thiên - Huế do
Tổ chức phát triển Hà Lan giúp đỡ; tại Hòn Mun - Khánh Hòa, Giao Thủy - Nam
1
Định do Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển và phát triển cộng đồng tài trợ Một
số địa phương cũng đã hình thành ở mức độ khác nhau sự liên kết của cộng đồng
trong kinh doanh du lịch Nhìn chung, phát triển du lịch dựa vào cộng đồng nêu
trên đã có tác dụng tích cực, đem lại lợi ích cho người dân, góp phần xoá đói
giảm nghèo và nâng cao ý thức về bảo vệ tài nguyên du lịch, môi trường. Song
các kết quả này còn ở phạm vi hẹp, tự phát, hoạt động du lịch cộng đồng còn
Có thể dễ dàng nhận thấy, cộng đồng dân cư ở vùng ven biển Nam Định
sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp, và khai thác các nguồn lợi sẵn có về thuỷ sản
và các giá trị sinh thái ven biển. Việc khai thác quá mức tự nhiên này đã dẫn đến
huỷ hoại sự đa dạng của các hệ sinh thái ven biển, đặc biệt là hệ thống rừng ngập
mặn ở VQG Xuân Thủy. Biến diện tích đất canh tác nông nghiệp thành các ao
nuôi trồng thuỷ sản ồ ạt cũng là một cách tàn phá tài nguyên đất đai, làm mặn
hoá các cánh đồng đã được thau chua rửa mặn.
Trong bối cảnh trên việc lựa chọn một phương thức tiếp cận mới về sinh
kế của người dân sao cho vừa khai thác được những tiềm năng đa dạng và phong
phú về tự nhiên và văn hóa bản địa, vừa hạn chế được những tác động, góp phần
bảo tồn tự nhiên và văn hóa là hết sức cần thiết.
3
Phát triển du lịch nói chung, đặc biệt là du lịch dựa vào cộng đồng chính
là phương thức tiếp cận phù hợp với mục tiêu trên. Đây chính là lý do chọn đề
tài nghiên cứu.
Đề tài: “Nghiên cứu phát triển du lịch dựa vào cộng đồng tại vùng ven
biển tỉnh Nam Đinh” sẽ góp phần khơi dậy tiềm năng phát triển loại hình du lịch
dựa vào cộng đồng của vùng ven biển, đồng thời hướng tới mục tiêu bảo tồn bền
vững đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng ngập mặn và hệ sinh thái thuỷ sinh
vùng ven biển.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu ngắn hạn: Cộng đồng dân cư ven biển có được phương thức
làm kinh tế với nghề mới, có được một mô hình quản lý khai thác tài nguyên bền
vững dưới góc độ tiếp cận mới.
- Mục tiêu lâu dài: Góp phần phát triển bền vững, bảo tồn và phát huy các
giá trị cảnh quan, sinh thái và văn hoá bản địa vùng ven biển Nam Định.
Thiết lập mối quan hệ lâu dài giữa các bên liên quan nhà quản lý - công ty
lữ hành - cộng đồng dân cư ven biển nhằm phát triển hiệu quả việc kinh doanh
du lịch vùng ven biển và nâng cao được đời sống của cộng đồng vùng ven biển
- Tài liệu nghiên cứu khảo sát thực địa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết nhiệm vụ đặt ra, luận văn sử dụng các phương pháp chủ yếu
sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đây là một phương pháp truyền thống
trong nghiên cứu khoa học. Phương pháp này được sử dụng xuyên suốt trong
quá trình giải quyết các nội dung nghiên cứu của đề tài.
- Phương pháp chuyên gia: Nhằm thu thập những số liệu, thông tin thực tế
về nhận thức, suy nghĩ của những nhà hoạch định chính sách. Số liệu, thông tin
thu thập được sẽ giúp hình thành bức tranh thực tế của vấn đề nghiên cứu mang
tính thực tế, có khả năng thực thi.
- Phương pháp thống kê: Đây là phương pháp không thể thiếu trong quá
trình nghiên cứu về định lượng trong mối quan hệ chặt chẽ về mặt định tính của
các hiện tượng và quá trình, đối chiếu với quá trình phát triển du lịch. Phương
pháp toán thống kê được vận dụng nghiên cứu trong luận văn này để xác định
hiện trạng hoạt động du lịch thông qua các chỉ tiêu phát triển ngành cơ bản. Về
mặt nghiên cứu các vấn đề cộng đồng, phương pháp này hỗ trợ xử lý các thông
tin để xây dựng mô hình phù hợp cho nhiệm vụ đã đặt ra.
- Phương pháp sơ đồ, bản đồ: Đây là phương pháp cần thiết trong quá
trình nghiên cứu có liên quan đến tổ chức lãnh thổ. Bản đồ được sử dụng chủ
yếu theo hướng chuyên ngành để phân tích đánh giá tiềm năng phát triển du lịch
và điều kiện có liên quan. Ngoài mục đích minh họa về vị trí địa lý, phương pháp
6
này còn giúp cho các nhận định, đánh giá trong quá trình nghiên cứu được thể
hiện một cách tổng quát.
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa: Công tác thực địa có mục đích
cơ bản là kiểm tra chỉnh lý và bổ sung những tư liệu, đối chiếu và lên danh mục
cụ thể từng đối tượng nghiên cứu, sơ bộ đánh giá các yếu tố cần thiết cho việc
xây dựng các yếu tố hợp phần của mô hình tổ chức quản lý du lịch dựa vào cộng
đồng vùng ven biển Nam Định
của mình. Việc chia sẻ nguồn lợi luôn đi liền với chia sẻ trách nhiệm bảo tồn
được xem là triết lý sống của cộng đồng được truyền từ thế hệ này qua thế hệ
khác [15, tr38].
8
Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ cho đến các tổ chức ít có cấu trúc chặt chẽ, là một nhóm xã hội có lúc khá
phân tán, được liên kết bằng lợi ích chung trong một không gian tạm thời, dài
hay ngắn như phong trào quần chúng, công chúng khán giả, đám đông… Đây là
một định nghĩa rất hay được sử dụng trong khoa học xã hội, gắn với các thực thể
xã hội nhất định.
Có một định nghĩa khác nhìn nhận cộng đồng như một đặc thù chỉ có ở
nền văn minh con người, ở đó, con người hợp tác với nhau vì những lợi ích
chung, thường được gọi là tính cộng đồng.
Nhìn chung có hai cách hiểu về cộng đồng: một là cộng đồng tính và hai là
cộng đồng thể. Hai cách hiểu về cộng đồng này khác nhau nhưng không đối lập
nhau. Cộng đồng tính là thuộc tính hay là quan hệ xã hội có những đặc trưng mà
các nhà xã hội học đã cố gắng xác định và cụ thể hoá, chẳng hạn như tình cảm
cộng đồng, tinh thần cộng đồng, ý thức cộng đồng… Cộng đồng thể tức là những
nhóm người, những nhóm xã hội có tính cộng đồng với rất nhiều thể có quy mô
khác nhau, đó là các thể nhỏ, thể vừa, thể lớn và thể cực lớn, kể từ gia đình, quốc
gia đến nhân loại [15, tr40].
1.1.1.2. Bản chất cộng đồng
Theo một số nhà khoa học, khái niệm cộng đồng bao gồm bốn yếu tố:
1. Tương quan cá nhân mật thiết với những người khác, tương quan này
đôi khi được gọi là tương quan đệ nhất đẳng, tương quan mặt đối mặt,
tương quan thân mật.
2. Có sự liên hệ về tình cảm và cảm xúc nơi cá nhân trong những nhiệm
vụ và công tác xã hội của tập thể.
9
3. Có sự hiến dâng tinh thần hoặc dấn thân đối với những giá trị được
nguyện về mặt tinh thần, tạo nên sự thống nhất tinh thần, củng cố nền đạo lý
chung tại cộng đồng. Trong thực tế, các tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo có
sự lồng ghép với nhau trên một số nguyên lý, từ đó thống nhất về mặt lịch sử các
niềm tin của người dân, tránh những xung đột, tạo ra những sức mạnh cấu kết
cộng đồng mới có tính hiệu quả mạnh mẽ [15, tr43-47].
1.1.2. Các vấn đề liên quan giữa cộng đồng, phát triển du lịch
1.1.2.1. Khả năng tham gia của cộng đồng với hoạt động phát triển du lịch.
Trong tất cả các nỗ lực nhằm đạt được mục tiêu bền vững trong phát triển
nói chung, phát triển du lịch nói riêng, thì sự tham gia của cộng đồng địa phương
đã đặc biệt được quan tâm và khuyến khích. Có rất nhiều nguyên nhân khi đề
cập đến sự tham gia của cộng đồng trong phát triển du lịch.
Trước tiên về mặt đạo đức và công bằng xã hội, cộng đồng là những chủ
nhân thực sự của các tài nguyên du lịch, cả tự nhiên lẫn nhân văn, mà ngành du
lịch dựa vào để thu hút khách, cho nên họ có quyền tham gia và hưởng lợi từ các
hoạt động du lịch trong khu vực. Qua đó, họ sẽ tự giác và đóng vai trò chính
trong việc gìn giữ tài nguyên du lịch phục vụ phát triển du lịch nói riêng và sự
phát triển bền vững nói chung.
Các cộng đồng địa phương không chỉ là những yếu tố thu hút khách trong
rất nhiều trường hợp mà còn là nguồn nội lực to lớn cho các hoạt động phát triển
11
du lịch, điều này đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển. Họ chính là
nguồn nhân công với chi phí thấp nhất trong các dự án đầu tư phát triển du lịch,
điều mà các nhà đầu tư rất quan tâm nhằm tạo ra hiệu quả chi phí trong đầu tư.
Hơn nữa, với nguồn kiến thức bản địa phong phú của mình, nếu được đào tạo
hướng dẫn thì chính họ là những người phục vụ du khách tốt hơn ai hết trong các
hoạt động nghiệp vụ du lịch như: đón tiếp, phục vụ ăn nghỉ, dẫn đường và hướng
dẫn khách thăm quan…
Về mặt vĩ mô, sự tham gia và hưởng lợi từ các hoạt động du lịch của cộng
đồng còn đóng góp vào việc bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội vùng
sâu, vùng xa, xoá đói giảm nghèo, giảm chênh lệch giữa các vùng trong phát
- Tham gia vào việc xác định những cơ hội và điểm mạnh cho phát triển -
cộng đồng địa phương hiểu về nhu cầu của họ rõ hơn bất kỳ người bên ngoài nào
khác và có những ý tưởng tốt nhất để lập ra các chiến lược phù hợp với các hoạt
động du lịch cộng đồng của họ.
- Tham gia vào quá trình quy hoạch - cộng đồng địa phương nắm được
những hạn chế và tiềm năng tài nguyên của họ có thể sử dụng cho việc xây dựng
để đạt được các mục đích hay mục tiêu đã xác định của họ.
- Tham gia vào quá trình thực hiện - mặc dù bị hạn chế về tài chính, nhưng
cộng đồng địa phương cũng có thể đóng góp bằng việc đưa ra những gợi ý, chia
sẻ kinh nghiệm và các hình thức giúp đỡ khác và trở thành một phần của chương
trình.
13
- Tham gia vào việc chia sẻ lợi ích - những lợi ích đạt được từ các hoạt
động du lịch cộng đồng cần được phân phối tới mọi nhóm người có liên quan
trong cộng đồng nếu không sẽ không khuyến khích được sự tham gia của họ.
- Tham gia vào quá trình giám sát và đánh giá - cộng đồng địa phương là
những người bảo vệ các tài nguyên quanh mình và họ có thể theo dõi những thay
đổi và sửa đổi các sản phẩm du lịch theo nhu cầu và những gì mà họ cho là tốt
nhất theo kiến thức bản địa của họ. Họ có thể đánh giá những can thiệp bên
ngoài hay nhu cầu sửa đổi [25].
1.1.2.2. Cộng đồng vùng ven biển.
Cuộc sống cộng đồng người dân vùng ven biển dựa chủ yếu vào các
nguồn lợi có nguồn gốc từ biển và chính cuộc sống của họ lại là sức ép và nguồn
gây ô nhiễm đáng kể tác động làm suy giảm các nguồn tài nguyên, môi trường
vốn rất nhạy cảm ở khu vực này. Những tác động chủ yếu của cộng đồng vùng
ven biển bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt từ các khu dân cư trên đất liền ở vùng ven biển và từ
các "làng" thuyền chài trên các vũng, vịnh ven bờ trực tiếp đổ ra biển làm ô
nhiễm chất lượng nước biển ven bờ và lâu dài làm suy thoái môi trường và các
hệ sinh thái vùng ven bờ và hải đảo.
1.1.3. Du lịch cộng đồng
1.1.3.1 Khái niệm
15
Khái niệm du lịch cộng đồng xuất hiện vào những năm đầu thế kỷ 20, tuy
nhiên đến nay vẫn chưa có một quan điểm thống nhất cho khái niệm này.
Do có những quan điểm nghiên cứu, góc nhìn khác nhau về vị trí của du
lịch cộng đồng mà cho đến nay còn tồn tại khá nhiều ý kiến, khái niệm về vấn đề
này, những khái niệm này được sử dụng khá linh hoạt và được thay đổi tùy thuộc
vào tác giả, địa điểm và các dự án cụ thể, song các vấn đề về bền vững và cộng
đồng địa phương (điển hình ở khu vực nông thôn, những người nghèo, và ở vùng
sâu vùng xa) là những nội dung chính được đề cập, xem xét.
Theo Nicole Hausle và Wolffang Strasdas: “Du lịch cộng đồng là một
hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa phương đứng ra phát triển và
quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương”.
Theo Hsien Hue Lee, Đại học cộng đồng Hsin-Hsing, Đài Loan: “Du lịch
cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đón khách vì
sự phát triển du lịch bền vững dài hạn. Đồng thời khuyến khích và tạo ra các cơ
hội tham gia của người dân địa phương trong du lịch”
Tại hội thảo “Chia sẻ Bài học Kinh nghiệm Phát triển Du lịch Cộng đồng”
được Tổng cục Du lịch tổ chức tại Hà Nội năm 2003 đã xác định: “Phát triển du
lịch có sự tham gia của cộng đồng nhằm đảm bảo văn hóa, thiên nhiên bền vững,
nâng cao nhận thức và tăng quyền lực cho cộng đồng. Cộng đồng được chia sẻ
lợi ích từ hoạt động du lịch, nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của chính phủ và các tổ
chức quốc tế”
Ngoài ra còn nhiều định nghĩa, khái niệm khác nhau, tuy nhiên có thể
thống nhất và hiểu du lịch cộng đồng là loại hình du lịch bền vững dựa vào cộng
đồng địa phương. Du lịch cộng đồng là một cách tiếp cận nhằm tạo ra lợi nhuận
cao nhất cho người dân địa phương, những người sử dụng du lịch như một công
16
cụ tạo nguồn lợi kinh tế. Du khách phải trả tiền khi họ đến tham quan khu vực và
- Mức độ chủ động: theo đó cộng đồng là chủ thể tổ chức và cung cấp dịch
vụ và qua đó sẽ đem đến cho du khách những trải nghiệm tốt về cộng đồng, về
những giá trị tự nhiên và văn hóa nơi cộng đồng sinh sống. Trong trường hợp
này các công ty du lịch sẽ chỉ đóng vai trò là đối tác của cộng đồng. Cộng đồng
vừa có vai trò là “tài nguyên” vừa đóng vai trò là người tổ chức khai thác chính
các giá trị “tài nguyên” đó. Trong trường hợp này hoạt động du lịch thường được
gọi là “Du lịch dựa vào cộng đồng” hay “Du lịch cộng đồng”. Du lịch cộng đồng
chính là hình thức nơi đảm bảo mức độ tham gia cao nhất của cộng đồng vào
hoạt động du lịch [8, tr7-10]
1.1.4. Cơ sở lý luận về du lịch dựa vào cộng đồng
1.1.4.1. Khái niệm về du lịch dựa vào cộng đồng
Du lịch dựa vào cộng đồng nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du
lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn. Du lịch dựa vào cộng
đồng khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và cần
có cơ chế tạo ra các cơ hội cho cộng đồng.
Du lịch dựa vào cộng đồng là sự tương tác giữa khách và chủ mà có sự
tham gia có ý nghĩa của cả hai phía và tạo các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho cộng
đồng địa phương và môi trường. (Học viện nghiên cứu núi, Malaixia 2002).
18
Theo Nicole Hausle và Wolfgang Strasdas – 2002 có định nghĩa: Du lịch
dựa vào cộng đồng là loại hình du lịch mà một số lớn người dân địa phương có
quyền kiểm soát nó và và có sự tham gia trong việc quản lý và phát triển du lịch
cộng đồng. Phần lớn thu nhập được giữ lại cho kinh tế của địa phương
Du lịch dựa vào cộng đồng đó được thống nhất tại cuộc họp Bộ trưởng du
lịch lần đầu tiên năm 2000 tại Hàn Quốc và được trình bày tại Hiến chương về
du lịch của APEC. Hiến chương thừa nhận vai trò quan trọng của du lịch trong
việc phát triển kinh tế, xã hội, môi trường, văn hóa của các nền kinh tế thành
viên trong tổ chức APEC. Hiến chương nhấn mạnh tầm quan trọng của du lịch
dựa vào cộng đồng thông qua các nhận định sau [2]:
- Du lịch dựa vào cộng đồng là động lực quan trọng tăng cường cơ hội kinh
kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa, bảo vệ môi trường và có cơ hội nhận thêm các
chương trình đào tạo, giáo dục. Vì CBT có thể tạo thêm thu nhập cho người dân
địa phương nên nó được xem như là một công cụ xóa đói, giảm nghèo. CBT yêu
cầu phải thực hiện trong thời gian dài và mục đích chính là tối ưu hóa lợi nhuận
cho cộng đồng địa phương và hạn chế các ảnh hưởng xấu của du lịch tới cộng
đồng và nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Du lịch dựa vào cộng đồng cần được tiếp cận theo một cách có hệ thống,
từ việc nghiên cứu tính ổn định của cộng đồng tham gia vào hoạt động du lịch
đến việc đảm bảo tất cả thành viên trong cộng đồng được tham gia vào thực hiện
dự án đồng thời tham gia vào việc kiểm soát và hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực
20
tới cuộc sống của họ. Một số đặc điểm của CBT được UNEP và UNWTO chỉ ra
như sau [2]:
- Cộng đồng tham gia vào giám sát và đánh giá từ những khâu đầu tiên của
việc kinh doanh du lịch, không chỉ tài nguyên thiên nhiên mà còn đánh giá văn
hóa địa phương ở những nơi họ đi thăm.
- Cộng đồng cung cấp các dịch vụ ăn ngủ nghỉ đến giải thích thuyết minh
trong tour du lịch.
- Hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường tự nhiên và đời sống văn
hóa xã hội của người dân.
- Hỗ trợ bảo vệ tự nhiên và văn hóa thông qua việc tạo ra lợi ích kinh tế từ
các nguồn lợi đó.
- Tạo nguồn thu nhập khác và tạo công ăn việc làm cho người dân.
- Tăng cường hiểu biết của người dân và khách du lịch về sự bảo tồn tự
nhiên và bản sắc văn hóa dân tộc.
- Sự khác biệt giữa “Du lịch dựa vào cộng đồng” và “Du lịch cộng đồng” ở
chỗ khi đề cập đến “Du lịch dựa vào cộng đồng” là muốn nhấn mạnh đến hình
thái tổ chức hoạt động du lịch còn khi đề cập đến “Du lịch cộng đồng” là đề cập
cả đến hình thái tổ chức và đối tượng du lịch là công cộng [13].
1.1.4.2. Vai trò của du lịch dựa vào cộng đồng
22
vùng nông thôn ở Viêt Nam còn cao, chiếm tới hơn 70% dân số cả nước, tỷ lệ hộ
đói nghèo cũng còn khá cao [8].
1.1.4.3. Các nguyên tắc của phát triển du lịch dựa vào cộng đồng.
Một số nguyên tắc chủ yếu đối với phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
được xác định dựa trên bản chất của du lịch cộng đồng bao gồm:
- Công bằng về mặt xã hội: các thành viên của cộng đồng sẽ tham gia vào
việc lên kế hoạch, triển khai, kiểm soát các hoạt động du lịch tại cộng đồng, ở
đây cần nhấn mạnh sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương vào quá trình
tổ chức và thực hiện các hoạt động du lịch. Từ đó lợi ích kinh tế sẽ được chia sẻ
công bằng và rộng khắp, không chỉ riêng cho các công ty du lịch mà còn dành
cho các thành viên của cộng đồng.
- Tôn trọng các giá trị văn hóa của cộng đồng: thực tế cho thấy chương
trình du lịch nào cũng ảnh hưởng ít nhiều đến cộng đồng địa phương. Điều quan
trọng là các giá trị văn hóa của cộng đồng phải được bảo vệ và giữ gìn với sự
đóng góp tích cực của tất cả các thành phần tham gia vào hoạt động du lịch, đặc
biệt là cư dân địa phương bởi không đối tượng nào có khả năng bảo vệ và duy trì
các giá trị văn hóa tốt hơn chính họ. Cộng đồng địa phương phải nhận thức được
vai trò và vị trí của mình cũng như những lợi, hại mà phát triển du lịch mang
đến.
- Chia sẻ lợi ích từ du lịch cho cộng đồng: Theo nguyên tắc này cộng đồng
cùng được hưởng lợi như các thành phần khác tham gia vào các hoạt động kinh
doanh cung cấp các sản phẩm cho khách du lịch. Nguồn thu từ hoạt động du lịch
được phân chia công bằng cho mọi thành viên tham gia hoạt động, đồng thời lợi
ích đó cũng được trích một phần thông qua “Quỹ cộng đồng” để sử dụng cho lợi
23
ích chung của cộng đồng: tái đầu tư cho cộng đồng xây dựng đường sá, cầu
cống, điện và chăm sóc sức khỏe giáo dục v.v
- Xác lập quyền sở hữu và tham gia của cộng đồng đối với việc bảo vệ tài
nguyên thiên nhiên và văn hóa hướng tới sự phát triển bền vững [8].
- Khái niệm du lịch dựa vào cộng đồng cần phải thể hiện sự hài hòa về
quyền lợi kinh tế giữ cộng đồng dân cư ở điểm tham quan, các công ty du lịch và
khách du lịch.
* Đảm bảo sự hợp tác chiến lược
- Thiết lập quan hệ hợp tác chiến lược. Muốn vậy phải có sự hỗ trợ của
chính phủ, trực tiếp thực hiện là chính quyền sở tại và có sự hướng dẫn của cơ
quan chuyên môn từ Tổng cục du lịch.
- Cần có sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế và tổ chức phi Chính phủ.
- Chính quyền địa phương phải thực sự tác động hỗ trợ các nhà quản lý
phát triển du lịch, giúp đỡ về chuyên môn, tuyền truyền quảng bá.
- Du lịch dựa vào cộng đồng cần có sự tác động của Nhà nước về chính
sách và tài chính.
- Có chính sách đào tạo du lịch cộng đồng
- Du lịch cộng đồng cần có phương pháp luận chính sách quản lý
- Cần có chiến lược của quốc gia
- Có cơ chế quản lý của cộng đồng
25