Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng là tài nguyên quý giá và có thể tái tạo được của nước ta. Rừng có
vai trò to lớn đối với con người không chỉ ở Việt Nam mà toàn thế giới như
cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều hoà nước, chống xói
mòn, rửa trôi Bảo vệ môi trường, là nơi cư trú của động thực vật và tàng trữ
các nguồn gen quý hiếm. Mất rừng gây ra hậu quả nghiêm trọng, những
diện tích đất trống đồi núi trọc tăng, là nguyên nhân gây ra hiện tượng xói
mòn, rửa trôi, lũ lụt, hạn hán, mất diện tích canh tác, mất đi sự đa dạng
sinh học. Mặc dù diện tích rừng trồng cũng tăng trong những năm gần đây,
song rừng trồng thường có cấu trúc không ổn định, vai trò bảo vệ môi trường,
phòng hộ kém. Hầu hết, rừng tự nhiên của Việt Nam đều bị tác động, sự tác
động theo hai hướng chính đó là chặt chọn (chặt cây đáp ứng yêu cầu sử dụng).
Đây là lối khai thác hoàn toàn tự do, phổ biến ở cỏc vựng có đồng bào dân tộc
thiểu số sinh sống (lấy gỗ về làm nhà, làm củi…). Cách thứ hai là khai thác
trắng như: phá rừng làm nương rẫy, khai thác trồng cây công nghiệp, phá rừng
tự nhiên trồng rừng công nghiệp…). Trong hai cách này, cách thứ nhất rừng vẫn
còn tính chất đất rừng, kết cấu rừng bị phá vỡ, rừng nghèo kiệt về trữ lượng và
chất lượng, nhưng vẫn còn khả năng phục hồi. Với cách khai thác thứ hai, rừng
hoàn toàn bị mất trắng, khó có khả năng phục hồi.
Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện
tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất
lượng. Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hàng năm trên thế giới có 11 triệu ha
rừng bị phá huỷ, riêng khu vực Châu Á Thái Bình Dương hàng năm có 1,8 triệu
ha rừng bị phá huỷ, tương đương mỗi ngày mất đi 5000 ha rừng nhiệt đới. Ở
Việt Nam, trong vòng 50 năm qua, diện tích rừng bị suy giảm nghiêm trọng.
Năm 1943 độ che phủ của rừng là 43%, đến năm 1993 chỉ còn 26%. Nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là do chiến tranh, khai thác bừa bãi, đốt nương
làm rẫy.
1
phương đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lí, bảo vệ và
phát triển rừng dựa vào cộng đồng.
2
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Thông qua việc nghiên cứu đề tài giúp củng cố và nâng cao kiến thức
thực tế cho bản thân để áp dụng những gì đã học được đưa vào thực tiễn.
- Qua đề tài cũng nâng cao được năng lực nhận biết tiếp cận thông tin từ
cộng đồng. Để sau này làm việc sẽ phát huy được hết khả năng của mình và
những kiến thức đã học tập, rèn luyện.
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tế
Thông qua đề tài giúp cho mọi người hiểu thêm phần nào tầm quan trọng của
cộng đồng địa phương trong công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
Đưa ra một số giải pháp góp phần cho cộng đồng nâng cao được hiệu quả
trong việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
3
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Khái niệm cộng đồng
Các nhà xã hội học, dân tộc học đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau về khái
niệm “cộng đồng”. Ở đây chỉ đưa ra khái niệm “cộng đồng” được dùng trong quản
lý tài nguyên rừng, theo đó, có thể khái quát thành ba loại ý kiến chính sau đây:
- Loại thứ nhất cho rằng, thuật ngữ “cộng đồng” chính là nói đến cộng
đồng dân cư thôn bản, bao gồm toàn thể những người sống thành một xã hội có
những điểm tương đồng về mặt văn hóa truyền thống, cú cỏc mối quan hệ sản
xuất và đời sống gắn bó với nhau và thường có ranh giới không gian trong một
thôn bản. [1]
- Loại thứ hai cho rằng, “cộng đồng” bao gồm toàn thể những người sống
thành một xã hội có những điểm giống nhau và cú cỏc mối quan hệ gắn bó chặt
Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng trên những diện tích
đã bị mất rừng. Theo quan điểm sinh thái học thì phục hồi rừng là một quá trình
tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu. Đó là
một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất
hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khộp tỏn, để tái tạo lại rừng người ta có
thể sử dụng các giải pháp khác nhau tuỳ theo mức độ tác động của con người là:
phục hồi nhân tạo (trồng rừng), phục hồi tự nhiên và phục hồi tự nhiên có tác
động của con người (xúc tiến tái sinh). [10]
2.2. Tình hình quản lý rừng cộng đồng dựa vào cộng đồng trên thế giới
và ở Việt Nam
2.2.1. Tình hình quản lý rừng cộng đồng trên thế giới
Nói đến rừng cộng đồng thì đây là một hình thức đó cú khỏ lõu trờn thế
giới, từ trước năm 1950 đã có mầm mống của của lâm nghiệp cộng đồng hay
rừng cộng đồng. Đến những năm 1971 – 1990 thì lâm nghiệp cộng đồng đã
được xếp trong các loại hình lâm nghiệp, nhưng chưa được chú trọng chỉ đứng
sau các loại hình khác. Từ năm 1991 đến nay thì vai trò của lâm nghiệp cộng
đồng đã được chú trọng và luôn đứng đầu trong các loại hình lâm nghiệp.
Nhưng việc quản lý rừng cộng đồng trên thế giới trong các giai đoạn của từng
nước là có khác nhau, và hiện nay việc quản lý rừng cộng đồng của các nước
được nâng lên và với nhiều mầu sắc khác nhau.
5
Theo Donovan (1997), Đinh Đức Thuận (2002) chỉ nói riêng về khu vực
Châu Á – Thái Bình Dương về sự phân cấp quản lý các khu rừng tự nhiên và
nhân tạo đã có nhiều cấp độ khác nhau:
- Nhà nước quản lý hoàn toàn, người dân không được khai thác và sử
dụng bất kỳ sản phẩm nào từ rừng.
- Nhà nước quản lý các sản phẩm chính, người dân được khai thác và sử
dụng các sản phẩm phụ.
- Nhà nước ký hợp đồng bảo vệ rừng với người dân và cộng đồng địa
phương. Người dân được hưởng các sản phẩm nông lâm kết hợp xen với các loại
do cộng đồng quản lý, sử dụng.
- Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu
đời nhưng chưa được nhà nước giao (chưa có bất kỳ một giấy tờ hợp pháp nào,
gọi tắt là chưa giao) với diện tích 247.029,5 ha tương đương 8.9%. Đó là các
khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, những khu rừng cung cấp lâm sản
truyền thống cho cộng đồng.
- Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ
chức nhà nước (lâm trường, ban quản lý rừng cộng đồng và rừng phòng hộ…)
được các cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp
đồng khoán rừng lâu năm, 50 năm gọi tắt là nhận khoán với diện tích 902.662,7
ha tương đương 32,3%.
Nếu xét về mặt địa lý, vùng Tây Bắc có tỷ lệ rừng cộng đồng cao nhất với
1.893.300,9 ha chiếm 67,8% so với tổng diện tích đất lâm nghiệp do cộng đồng
quản lý trên cả nước. Tiếp đến là vùng Đông Bắc 760.131,1 ha, vựng Tõy
Nguyờn 62.422,3 ha và Bắc Trung Bộ 58.541,7 ha. Cỏc vựng còn lại diện tích
đất lâm nghiệp giao cho cộng đồng chiếm một tỷ lệ nhỏ. Một số tỉnh không có
diện tích rừng và đất rừng giao cho cộng đồng quản lý bảo vệ. Các loại rừng
cộng đồng được hình thành từ các nguồn gốc khác nhau nhưng đều được ba chủ
thể chính quản lý là cộng đồng dân cư thụn, dũng tộc và nhóm hộ hoặc nhóm sở
thích. Đối với rừng do cộng đồng dân cơ thôn và dòng tộc quản lý thường ở cỏc
vựng sõu, vựng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền
thống, điều kiện sản xuất và thị trường kém phát triển, trình độ quản lý còn thấp.
Rừng do nhóm hộ hoặc nhóm sở thích tự cùng nhau liên kết để quản lý thường ở
cỏc vựng sản xuất của các hộ nông dân cao khả năng đầu tư lớn. Chính từ cơ sở
này mà quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam đang dần hình thành theo hai xu
hướng phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng vùng, đó là quản lý rừng cộng đồng
7
đáp ứng nhu cầu sinh kế và quản lý rừng cộng đồng cho sản xuất hàng hóa. Các
sản phẩm từ rừng cộng đồng chủ yếu được sử dụng cho tiêu dùng trong cộng
đồng như gỗ làm nhà, củi đốt, khai thác lâm sản ngoài gỗ.
8
trồng lúa và hoa màu. Đây là những điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế của người dân trong vùng.
* Hiện trạng đất và các nguồn tài nguyên
Tài nguyên đất: Đất là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản
xuất đặc biệt quan trọng ngành kinh tế nông nghiệp, lâm nghiệp, là địa bàn phân
bổ các khu dân cư, là cơ sở để xây dựng các khu kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh
quốc phòng Sau khi được thành lập, huyện Tõn Uyờn cú diện tích tự nhiên là
90.319,65 trong đó gồm các loại đất, đất nông nghiệp 7.325,12ha, đất lâm
nghiệp 25.430,44ha, đất phi nông nghiệp 2.184,95 ha, đất chưa sử dụng
55.379,14ha. Chủ yếu là nhóm đất đỏ vàng vùng núi cao từ 900 đến 1300m có
độ dốc lớn từ 25
0
– 35
0
ớt đá lẫn thành phần cơ giới nhẹ, độ PH từ: 4,5 – 5,5
nghèo dinh dưỡng. Đất Feralit màu vàng, tầng dày ở độ cao từ 700 – 1000m độ
dốc từ 20
0
– 25
0
phù hợp cho sản xuất lâm nghiệp. Đất phù sa suối nằm ở ven
các con suối được tận dụng triệt để trồng lúa, cây lương thực. Đất Feralit đỏ
vàng ở độ cao 600m được phân bố dưới chân dãy núi có độ dày tầng canh tác
cao thích hợp cho việc phát triển cây chè và các loại cây ăn quả khác.
Tài nguyên nước: Huyện Tõn Uyờn thuộc lưu vực sông Nậm Mu (Phụ lưu
cấp 1 của sông Đà) tuy chỉ với một hệ thống sông nhưng bù lại Tõn Uyờn có hệ
thống khe, suối khá phong phú trải đều trên địa bàn toàn huyện (có mật độ sông
suối từ 1,5 – 1,7 km/km
2
Hố Mít, Pắc Ta và thị trấn Tõn Uyờn. Trong đó: Diện tích rừng đặc dụng là
5.906,6ha, diện tích rừng phòng hộ là 12.056,5ha, diện tích rừng sản xuất là
4.621,2ha. Diện tích đất chưa có rừng là 42.543,4ha. Nhìn chung độ che phủ của
Tõn Uyờn cũn thấp so với độ che phủ của tỉnh. Vì vậy trong thời gian tới, để
phát huy thế mạnh sản xuất lâm nghiệp, tăng thu nhập cho người dân lao động
cần ưu tiên cho phát triển lâm nghiệp.
Nguồn nguyên liệu: Tõn Uyờn cú diện tích đất lâm nghiệp 25.430,4ha có
lợi thế cho việc phát triến kinh tế rừng. Đặc biệt có một số diện tích rừng phù
hợp với việc phát triển trồng cây thảo quả loại cây có giá trị kinh tế cao, tập
trung ở cỏc xó Hố Mớt, Phỳc Khoa, Mường Khoa, Thân Thuộc, Trung Đồng, cú
vựng nguyên liệu chè lớn nhất tỉnh với diện tích trên 1.232ha. Đây là điều kiện
để huyện Tõn Uyờn phát triển ngành công nghiệp chế biến.
2.3.2. Điều kiện kinh tế
Là một huyện nghèo của tỉnh Lai Châu với mức thu nhập bình quân trên
đầu người thấp 5,4triệu/ người/ năm, mức sống của dân cư còn thấp, tỉ lệ hộ
nghèo cao. Có cấu kinh tế: Công nghiệp xây dựng chiếm 29,6%, Nông lâm
10
nghiệp chiếm 42,7%, dịch vụ chiếm 27,7%. Cơ cấu lao động: Lao động nông
nghiệp chiếm 80%, công nghiệp và dịch vụ chiếm 20%. Tỉ lệ lao động chưa qua
đào tạo còn cao.
Về văn hoá giáo dục: Trình độ dân trí còn thấp, phổ cập giáo dục trung
học chưa hoàn thành. Tỉ lệ học sinh tiếp tục học trung học( phổ thông, bổ túc,
học nghề) thấp đạt 32,5 %.
Dân số, dân tộc và nguồn lao động: Năm 2008 dân số của Tõn Uyờn là
43.173 người, số hộ là 8.417 hộ, số người bình quân/ hộ là 5 người , xét về quy
mô huyện Tõn Uyờn có mật độ dân số trung bình thấp (48người/km
2
)
với 8 dân
Sở hữu nguồn nhân lực dồi dào mà chủ yếu là lao động nông lâm nghiệp (
chiếm 80% tổng số lao động).
Trên địa bàn huyện hiện nay cú cỏc chương trình, dự án và một số chính sách
đầu tư cho công tác xoỏ đúi, giảm nghèo như chương trình 134, chương trình
135 và một số chương trình khác của Trung ương và của Tỉnh cũng là điều kiện
thuận lợi tạo nguồn vốn cho huyện phát triển kinh tế.
* Khó khăn
Địa hình chủ yếu là đồi núi cao và dốc, khí hậu phức tạp và khắc nhiệt,
dân cư đa phần là dân tộc thiểu số trình độ văn hóa thấp là một trong nhiều khó
khăn cho phát triển kinh tế của huyện.
Cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải hệ thống điện và thủy lợi chưa đáp ứng
được nhu cầu của cộng đồng dân cư.
Tập quán sinh hoạt của cộng đồng các dân tộc thiểu số vẫn còn lạc hậu,
sống chủ yếu dựa vào rừng, một số nơi vẫn giữ tập quán du canh du cư là
nguyên nhân dẫn đến sự suy giảm diện tích rừng trong những năm vừa qua.
12
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Những biện pháp quản lí, bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng tại
địa bàn huyện Tõn Uyờn - Lai Châu .
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng tại địa bàn
huyện Tõn Uyờn - tỉnh Lai Châu.
3.2. Địa điểm và thời gian thực tập
Địa điểm: hạt kiểm lâm huyện Tõn Uyờn - tỉnh Lai Châu
Thời gian: Từ 15 tháng 2 đến 15 tháng 6 năm 2011
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng tài nguyên rừng tại địa bàn nghiên cứu.
- Số lượng: 3 cán bộ huyện, 9 cán bộ xã, 15 - 20 người dân.
- Cách chọn
+ Đối với cán bộ huyện: Phỏng vấn 2 cán bộ kiểm lâm và một cán bộ
nông lâm.
+ Đối với cán bộ xã: Ở 3 xó cú diện tích rừng cộng đồng trong huyện, mỗi
xã phỏng vấn 2 cán bộ kiểm lâm xã và một cán bộ nông lâm.
+ Đối với người dân: Ở mỗi xã tiến hành nghiên cứu chọn ngẫu nhiên 5
người dân, ưu tiên đối tượng trưởng bản và những người lãnh đạo các hội hoặc
đoàn thể trong xã.
- Nội dung phỏng vấn: Đối với cán bộ huyện xem phụ lục 01, đối với cán
bộ xã xem phụ lục 02, đối với người dân xem phụ lục 03
3.4.2. Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi thu thập đầy đủ các số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu thì
tiến hành tổng hợp, phân tích các số liệu và các giải pháp quản lý, bảo vệ, phát
triển rừng mà cộng đồng đang áp dụng.
Tìm ra những ưu nhược điểm của các biện pháp quản lí, bảo vệ và
phát triển rừng dựa vào cộng đồng đang sử dụng tại địa phương từ đó đề ra
những biện pháp mới nhằm tăng hiệu quả của công tác quản lí, bảo vệ và
phát triển rừng.
14
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Thực trạng tài nguyên rừng tại huyện Tõn Uyờn - tỉnh Lai Châu
Huyện Tõn Uyờn là một trong những huyện miền núi nghèo nhất cả nước
với nhiều xã thuộc diện 135 với tổng diện tích tự nhiên là 90.326,75 ha. Trong
đó, diện tích rừng tự nhiên và diện tích rừng trồng là 25,506.07ha. Huyện có tổng
số nhân khẩu là 43.173, số hộ là 8.417 hộ, với 8 dân tộc anh em sinh sống mà đa
phần la dân tộc thiểu số ( như Thỏi, Mụng, Khơ Mú, Dao dân tộc Kinh chi chiếm
17,3%). Đời sống kinh tế của người dân dựa vào nông nghiệp là chính và có sự phụ
thuộc chặt chẽ vào rừng từ chất đốt cho tới gỗ làm nhà nên làm cho công tác
STT Loại rừng và đất rừng Diện tích (ha)
1 Tổng diện tích tự nhiên 90.326,75
2 Diện tích đất Lâm Nghiệp 65.127,7
Đất có rừng 25.506,07
3 Rừng tự nhiên 19.843,69
4 Rừng trồng 5.662,38
Diện tích rừng trồng chưa thành rừng 2.622,90
(Nguồn: Hạt kiểm lâm huyện Tõn Uyờn, năm 2010)
Qua bảng 4.2 ta thấy diện tích đất lâm nghiệp của huyện sở hữu khá lớn
chiếm 72% diện tích toàn huyện, đây là nguồn lực để phát triển lâm nghiệp
của huyện.
Với thực trạng như trên, có thể thấy chiều hướng bị mất tài nguyên rừng
vẫn có chiều hướng tăng, nếu không có giải pháp kiên quyết và kịp thời thì trong
tương lai gần diện tích rừng của huyện Tõn Uyờn sẽ bị thu hẹp và kéo theo đó là
môi trường sinh thái thay đổi do việc mất rừng như lũ quét, hạn hỏn,…xảy ra
thường xuyên và các loại động, thực vật quý hiếm có nguy cơ bị tuyệt chủng,
hơn nữa nó sẽ ảnh hưởng lớn đến tình hình phát triển kinh tế - xã hội, an ninh
quốc phòng ở địa phương
4.2. Thực trạng quản lý bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng
4.2.1. Thực trạng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng dựa vào cộng đồng tại
huyện Tõn Uyờn - Lai Châu
Cộng đồng tham gia quản lý rừng là một trong những hình thức quản lý
rừng đang thu hút sự quan tâm của các cấp uỷ đảng. Về mặt lịch sử thì rừng
cộng đồng ở Việt Nam nói chung và ở huyện Tõn Uyờn nói riêng thỡ đó tồn tại
từ lâu đời, gắn liền với sự sinh tồn và tín ngưỡng của thôn, bản vì cuộc sống của
dân đều sống dựa vào rừng. Vài năm gần đây huyện đã giao đất giao rừng cho
cộng đồng để quản lý, sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, và ở
đây cộng đồng với tư cách là một chủ rừng. Ngoài ra cỏc xó cũn nhận khoán bảo
vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng. Với mô hình quản lý rừng có sự
16
quản lý tốt. Chủ yếu cộng đồng dân cư tự tổ chức quản lý, bảo vệ và khai thác
các lợi ích khác của rừng.
Giao rừng cho cộng đồng đã đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của
người dân trong cộng đồng, khuyến khích người dân tham gia các hoạt động bảo
vệ và sản xuất kinh doanh nghề rừng. Tại các bản đã xây dựng được quy ước
17
bảo vệ phát triển rừng nên việc quản lý bảo vệ rừng sau khi giao được chặt chẽ
hơn, công tác phòng cháy chữa cháy rừng được thực hiện tương đối tốt.
Từ những vấn đề trên thấy rằng để thành lập ra một ban quản lý rừng
cộng đồng riêng , phù hợp với văn hoá của mỗi cộng đồng trong huyện và được
mọi người dân nghe và làm theo quả là một vấn đề khó khăn. Nên tại huyện Tõn
Uyờn nhiệm vụ quản lý rừng cộng đồng đã được giao cho ban quản lý huyện
quản lý chung
Bảng 4.4: Các tổ chức của cộng đồng tham gia vào quản lí, bảo vệ rừng
STT Các tổ chức Tỷ lệ, %
1 Trưởng thôn, trưởng bản 82
2 Hợp tác xã 36
3 Hộ gia đình 68
4
Các tổ chức khác (hội phụ nữ, chi đoàn thanh
niên chủ tịch, bí thư đảng uỷ xã)
57
(Nguồn: số liệu điều tra người dân)
Qua bảng 4.4 ta thấy sự thâm gia của các tổ chức cộng đồng vào công tác
quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại huyện rất đa dạng và đem lại hiệu quả cao.
Các tổ chức này là cầu lối giữa chính quyền và người dân, xây dựng quan hệ
mật thiết với cộng đồng dân cư. Mỗi tổ chức đều có vai trò và nhiệm vụ riêng.
+ Trưởng thôn, trưởng bản là những người thay mặt nhân dân thôn, bản
xây dựng hương ước, ban hành quy ước của thôn, bản về bảo vệ rừng và đất
rừng. Xem xét và cho phép hộ khai thác gỗ gia dụng. Khi xảy ra hiện tượng
quần chúng nhân dân về tầm quan trọng của rừng, để từ đó nâng cao trách nhiệm
của mỗi công dân với rừng.Nguồn kinh phí chi trả cho hoạt động bảo vệ là
nguồn kinh phí từ dự án chứ không có sự đóng góp từ cộng đồng địa phương. Vì
người dân muốn đóng góp cho hoạt động bảo vệ rừng cũng không có, mà người
dân đang cần được giúp đỡ hơn. Có chăng người dân đóng góp công sức vào
bảo vệ rừng bằng cách phát hiện những vi phạm quy bảo vệ rừng và báo với tổ
bảo vệ và ban quản lý. Đõy chớnh là một vấn đề khó giải quyết ở địa phương,
làm cho công tác bảo vệ rừng với ý nghĩa trách nhiệm của toàn dân khó thực
hiện ở địa phương.
Nhưng hiện nay thực trạng chung của việc quản lý, bảo vệ rừng còn
nhiều bất cập. Ở huyện Tõn Uyờn cũng không ngoại lệ cùng tình trạng này, diện
tích rừng của huyện không còn nhiều, chủ yếu là rừng tái sinh nghèo kiệt. Đất
vẫn còn mang tính chất đất rừng nếu được quy hoạch bảo vệ thì rừng có khả
năng phục hồi, nhất là các khu rừng đầu nguồn cần được chú trọng nhiều hơn.
19
Quản lý rừng cộng đồng của huyện là do ban quản lý huyện quản lý chung,
nhưng việc quản lý còn thiếu chặt chẽ và đồng bộ. Những khu rừng vẫn bị chặt phá
không theo một quy hoạch nào cả, thậm chí còn bị chặt phá làm nương rẫy rồi sau đó
là đốt nương và sự thiếu cẩn trọng hay nhận thức được sự nguy hiểm của lửa rừng nờn
đó làm mất đi những diện tích rừng không nhỏ. những điều này xảy ra thì BQL phải
kiểm tra xử lý vi phạm quy ước bảo vệ rừng nhưng cú lỳc được báo rồi cũng không
đến kiểm tra, nếu có đến kiểm tra thì cũng chỉ là qua loa không xử lý nghiêm để làm
gương cho người khác. Nên việc mất dần đi những diện tích rừng và giảm đi về đa
dạng sinh học cũng là điều dễ hiểu.
Trước tình hình thực tế huyện có huy động toàn dân vào quản lý, bảo vệ
và phát triển rừng bằng cách khuyến khích bảo vệ và quy hoạch rừng phòng hộ
đầu nguồn, rừng trồng dự án 661 với tổng diện tích là 722.72ha. nhờ đó mà độ
che phủ của rừng đang dần được nâng lên, nhưng các hình thức quản lý vẫn còn
những tồn tại làm cho rừng kém phát triển và bị phá đi hàng ngày, chủ yếu là
mặc cho rừng tự tái sinh phục hồi. Những hình thức quản lý bảo vệ hay những
Với thực trạng như trên một phần là do năng lực quản lý của ban quản lý
rừng cộng đồng còn hạn chế, tiếp đó là thiếu nguồn kinh phí chi trả cho các hoạt
động quản lý bảo vệ và sự thiếu quan tâm không đúng mức của các cấp uỷ Đảng
chính quyền địa phương.
4.2.2. Những nguồn lực của địa phương để thực hiện quản lý bảo vệ và phát
triển rừng
Trong thực tế muốn quản lý, bảo vệ hay phát triển một mặt hay một lĩnh
vực nào thì đòi hỏi nhiều nguồn lực, những nguồn lực này có thể là tại chỗ hoặc
là từ bên ngoài. Trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng của huyện
Tõn Uyờn cũng vậy đòi hỏi nhiều nguồn lực khác nhau, nhất là nguồn lực tại
chỗ. Nếu nguồn lực tại chỗ của huyện dồi dào thì việc quản lý, bảo vệ và phát
triển rừng của huyện có nhiều triển vọng, nhưng ngược lại thì sẽ rất khó khăn và
có thể sẽ không phát triển được rừng. Để hiểu được vấn đề này qua chuyên đề
tụi cú tìm hiểu một số nguồn lực (vốn, giống, kỹ thuật/ con người,…) của huyện
21
Tõn Uyờn để làm cơ sở cho việc thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển rừng
cộng đồng của huyện ngày một hiệu quả hơn.
- Nguồn vốn: Nguồn vốn địa phương ở đây có thể hiểu là vốn đất rừng,
rừng và nguồn vốn bằng kinh phí hỗ trợ quản lý, bảo vệ và phát triển rừng.
+ Nguồn vốn rừng của huyện hiện nay không còn nhiều, đều là rừng tái
sinh và phục hồi sau nương rẫy, cây gỗ cổ thụ hầu như không còn. Chỉ còn lại
vốn đất vẫn còn mang tích chất đất rừng, hiện nay huyện cũng đã quy hoạch bảo
vệ và trồng mới rừng nhưng vẫn còn rất hạn chế.
+ Nguồn kinh phí để chi trả cho hoạt động quản lý bảo vệ rừng cộng đồng
của huyện rất ít. Việc đóng góp tự nguyện bằng kinh tế cuả cộng đồng là một
điều khó khăn, mà cộng đồng chỉ có thể góp công sức. Trong hoạt động trồng
rừng cộng đồng theo dự án 661 người dân tích cực tham gia một phần là vì trách
nhiệm và muốn vốn rừng của huyện được nâng lên, nhưng bên cạnh đó cũng
không tránh khỏi hiện tượng đi tham gia vì nguồn vốn hỗ trợ của dự án.
- Giống để trồng làm giàu và phát triển rừng cộng đồng: Thực tế rừng
hình ở huyện.
Bảng 4.6: Kết quả các hoạt động quản lí, bảo vệ và phát triển rừng dụă vào
cộng đồng tại huyện Tõn Uyờn
STT Hoạt động Tỷ lệ, %
1 Xây dựng bản quy ước 100
2 Phòng cháy chữa cháy rừng. 95
Qua bảng 4.6 ta thấy hiện tất cả các bản có diện tích rừng cộng đồng đều
đã xây dựng được bản quy ước riờng giỳp nâng cao nhân thức của các thành
viên trong cộng đồng, giúp họ hiểu đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình khi tham
gia quản li, bảo vệ rừng. Hạn chế phần nào tình trạng chăt phá rừng, lôi kéo
người dân tham gia công tác phòng chống cháy rừng.
* Xây dựng quy ước
Quy ước bảo vệ và phát triển rừng là công cụ, phương tiện để bảo vệ và
phát triển rừng tận gốc, góp phần thúc đẩy xã hội hoá công tác QLBVR và cụ
thể hoá quy chế thực hiện dân chủ ở xã. Để địa phương thực hiện tốt nhất, đặc
biệt là ở cấp thôn bản thì chính phủ và bộ nông nghiệp đã có nhiều nghị định và
thông tư. Mới nhất là nghị định 79/2003/NĐ-CP ngày 7/7/2003 chính phủ về
ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã (thay thế nghị định 29/1998/NĐCP) và
ngày 1/8/2007 bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã ban hành thông tư số
23
70/2007/TT-BNN hướng dẫn xây dựng và tổ chức thực hiện quy ước bảo vệ và
phát triển rừng trong cộng đồng dân cư thôn (thay thế thông tư số
56/1999/BNN-KL). Thông tư 70 nêu rõ “Quy ước bảo vệ và phát triển rừng của
cộng đồng dân cư thôn là những quy tắc xử sự trong nội bộ cộng đồng, do cộng
đồng xây dựng, thoả thuận đa số và tự nguyện thực hiện, được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phê duyệt. Căn cứ vào các tài liệu thu thập và sự chỉ đạo của
kiểm lâm địa bàn và UBND xã, bản đã cùng nhau xây dựng được một bản quy
ước trên cơ sở kế thừa, phát huy những phong tục, tập quán, đạo đức truyền
thống tốt đẹp của cộng đồng bài trừ những hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, phạt
vạ trái với quy định của pháp luật, có sự tham gia của toàn thể người dân và
- Mọi người dân trong cộng đồng phải có ý thức, trách nhiệm trong tuyên
truyền bảo vệ rừng nói chung và lửa rừng nói riêng.
- Khụng được dùng lửa trong rừng cộng đồng.
- Mọi nhà phải có trách nhiệm chữa cháy rừng khi có sự cố xảy ra.
Nhưng thực tế cho thấy việc phũng chỏy hầu như không thực hiện, việc tuyên
truyền vận động người dân cũng rất hạn chế, mọi người dân vẫn ngang nhiên đem
lửa vào rừng. Kết quả là những khu rừng vẫn thường xảy ra, khi xảy ra cháy rừng
báo động để nhân dân chữa cháy, nhưng do không chủ động trước, người dân thì ở
không tập trung, địa hình phức tạp chỉ sử dụng những vật thô sơ để chữa cháy nên
khi người dân tham gia chữa cháy cũng không đem lại kết quả cao.
Phòng trừ sâu bệnh hại cũng không được tiến hành, chỉ mặc cho sâu bệnh
tự sinh tự diệt. Nhìn chung rừng của huyện cũng chưa có đợt sâu bệnh hại nặng
nào đáng kể.
Việc triển khai các hoạt động quản lý bảo vệ và phát triển rừng của huyện
còn rất nhiều hạn chế, rất nhiều hoạt động còn chưa được triển khai, điều này
làm cho vốn rừng của huyện không được ổn định
4.2.4. Cơ chế chia sẻ lợi ích của cộng đồng
Khi đặt vấn đề đến cụm từ “chia sẻ lợi ớch” thỡ nhiều người sẽ cho rằng
đây là một cụm từ có tính đinh lượng, cũng sẽ có người cho rằng nó sẽ mang
tính định lượng lại vừa mang tính định tính, bởi tuỳ thuộc vào một điều kiện
hoàn cảnh nào đó thỡ nú sẽ có thuộc tính phù hợp với bản chất mà nó có thể đáp
ứng. Trong phạm vi đề tài này chỉ nghiên cứu đến chia sẻ lợi ích từ rừng cộng
đồng cho các thành viên trong cộng đồng.
Về cơ chế hưởng lợi trong giao và khoán rừng, chính phủ đã ban hành
quyết định 178/2001/QĐ-TTG. Quyết định này chỉ áp dụng cho cá nhân, hộ gia
25