BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------
NGUYỄN TRUNG HOÀ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
BẢO VỆ RỪNG DỰATRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở
HUYỆN BẮC YÊN - TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà Nội, 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
--------------------------
NGUYỄN TRUNG HOÀ
NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
BẢO VỆ RỪNG DỰATRÊN CƠ SỞ CỘNG ĐỒNG Ở
HUYỆN BẮC YÊN - TỈNH SƠN LA
chủ yếu làm cho rừng bị thu hẹp.
Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành rất nhiều chính sách và pháp
chế lâm nghiệp. Song các chính sách đó vẫn có phần không mang lại hiệu quả
cao. Những chính sách đó còn mang tính tách rời sự tham gia của cộng đồng,
nhiều khi những văn bản pháp luật đó chỉ xuất phát từ lợi ích của Nhà nước
mà không tính đến lợi ích của người dân và cộng đồng nên không được người
dân ủng hộ và thực hiện. Với cách quản lý và bảo vệ đó, người dân không
thực sự là người làm chủ tài nguyên rừng nên không những không bảo vệ và
phát triển được rừng mà rừng ngày càng bị tàn phá nghiêm trọng. Những
nguyên nhân dẫn đến nạn phá rừng trong những năm qua chủ yếu là do cách
quản lý chưa hợp lý của Nhà nước. Bên cạnh đó cũng do rất nhiều nguyên
2
nhân khác như: Sự bùng nổ dân số làm tăng nhu cầu lương thực, chất đốt. Do
vậy người dân phải phá rừng để mở rộng diện tích đất canh tác và thoả mãn
nhu cầu cho việc sử dụng chất đốt của họ và do tập quán du canh du cư, đốt
rừng làm nương rẫy của các dân tộc thiểu số.
Đứng trước hoàn cảnh đó, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương thực
hiện đổi mới về kinh tế. Ngành lâm nghiệp đã chủ trương chuyển hướng từ
lâm nghiệp truyền thống lấy các đơn vị quốc doanh làm chính sang nền lâm
nghiệp có sự tham gia của nhiều thành phần với quan điểm: Sự nghiệp cao cả
bảo vệ rừng là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân. Bảo vệ chỉ thực sự có kết
quả khi có sự tham gia toàn diện của người dân,cũng như của các cấp lãnh
đạo và các tổ chức xã hội khác.
Các chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng và nhà nước ta là điều
kiện tiên quyết, là động lực mạnh mẽ trong việc tạo ra bước ngoặt chuyển
biến từ nền lâm nghiệp truyền thống sang nền lâm nghiệp có sự tham gia của
người dân và cộng đồng (lâm nghiệp cộng đồng)
rừng năm 2004 đã định nghĩa “cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia
đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc
đơn vị tương đương” [12].
Trong nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểu theo nghĩa là
cộng đồng thôn, bản (kể cả các tổ chức đoàn thể trong cộng đồng).
1.1.1. Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý rừng
Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một từ
chung nhất là lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ).
Theo FAO, LNCĐ là thuật ngữ bao trùm diễn tả hàng loạt các hoạt
động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia
lợi ích các sản phẩm này.
Hiện nay, ở Việt Nam có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và
chưa có một định nghĩa chính thức nào được công nhận. Tuy nhiên, qua các
cuộc hội thảo dường như mọi người đều thống nhất ở Việt Nam, có hai hình
thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:
4
- Thứ nhất là quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ)
Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và
ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sử
dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng.
Rừng của cộng đồng là rừng của làng bản đã được quản lý theo truyền
thống lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước…quản lý theo các luật tục
truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã,
rừng tự nhiên đuợc giao cho các hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lại
cho các xã, hoặc các thôn quản lý; rừng được chính quyền địa phương giao
cho cộng đồng với tính chất thí điểm trong thời gian gần đây.
- Thứ hai là quản lý rừng dựa vào cộng đồng
cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý rừng dựa vào
cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của các chủ rừng khác). Khái niệm này
vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy được nhiều hơn sự đóng
góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng [21],
[37], [38].
BVR trên cơ sở cộng đồng là BVR mà phát huy được những nội lực của
cộng đồng cho các hoạt động chống lại sự xâm hại đến rừng như: chống chặt,
phá, lấn chiếm rừng, đất rừng, khai thác lâm sản, săn, bẫy, bắt động vật rừng
trái phép, phòng cháy chữa cháy rừng (PCCCR), phòng trừ sinh vật gây hại
rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng và được thực hiện theo quy định của pháp luật
về quản lý lâm sản. Những giải pháp BVR trên cơ sở cộng đồng luôn chứa
đựng những sắc thái của luật tục, phong tục, tập quán, ý thức dân tộc, nhận
thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ hàng, các tổ
chức đoàn thể, làng bản phù họp với chính sách pháp luật của Nhà nước.
1.1.2. Vai trò của chính sách Nhà nước đối với quản lý bảo vệ rừng
trên cơ sở cộng đồng
BVR trên cơ sở cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở phong tục, tập
quán, kiến thức và thể chế bản địa của người dân địa phương. Tuy nhiên, có
những phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên
6
rừng, nhưng cũng có những phong tục tập quán ngược lại với yêu cầu quản lý
bền vững tài nguyên rừng. Do đó, quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng phải
hướng và phát huy được những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những
phong tục tập quán cản trở đến quản lý bền vững tài nguyên rừng [24].
BVR trên cơ sở cộng đồng sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hậu
thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nước. Các tổ chức cộng đồng không
phải là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng. Trong nhiều
cộng đồng dân cư thôn, bản trên địa bàn. Mấu chốt của vấn đề BVR trên cơ
sở cộng đồng vừa là bảo vệ được tài nguyên rừng vừa giải quyết tốt vấn đề
nâng cao chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.
Bảo vệ tài nguyên rừng nếu không có sự tham gia của cộng đồng dân cư
thôn, bản thì sẽ không thành công. Vì vậy, đề xuất các giải pháp để nâng cao
trách nhiệm và quyền hưởng lợi của cộng đồng dân cư thôn, bản trong BVR
là rất cần thiết. Để công tác BVR đạt hiệu quả cao thì phải có chính sách
khuyến khích, thu hút sự tham gia tích cực của cộng dồng dân cư thôn, bản
[10], [21].
1.2. Tình hình nghiên cứu và thực hiện trên thế giới
Trong giai đoạn hiện nay BVR trên cơ sở cộng đồng đang được xem như
là một giải pháp hữu hiệu để bảo vệ hiệu quả vốn rừng hiện còn, góp phần
giải quyết tình trạng diện tích, chất lượng rừng ngày một giảm. Đã có không ít
những mô hình quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng thành công ở Thái Lan,
Malaysia, Trung Quốc.... Đây sẽ là những bài học quý báu cho quá trình xây
dựng những giải pháp quản lý bền vững tài nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng
ở Việt Nam.
BVR trên cơ sở cộng đồng ở một số nước:
* Ở Thái Lan:
Thái Lan là một nước được các nước trong khu vực và trên thế giới đánh
giá cao về những thành tựu trong công tác xây dựng các chương trình BVR
trên cơ sở cộng đồng.
Ở đây, sử dụng đất đai được thông qua chương trình làng rừng, hộ nông
dân được giao đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất để trồng rừng. Người nông dân
được Chính phủ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có trách nhiệm
quản lý đất, không được chặt hoặc sử dụng cây rừng. Việc cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đã làm gia tăng mức độ an toàn cho người
8
nhu cầu sinh hoạt cơ bản. Lâm nghiệp cộng đồng tại Nepal dựa vào các nhóm
sử dụng rừng, trong đó mỗi nhóm được giao quản lý một diện tích rừng nhất
9
định. Nhà nước được lợi từ hoạt động này là diện tích rừng suy thoái được
phủ xanh trong khi đó các nhóm sử dụng rừng có cơ hội tiếp cận lâm sản [11],
[34], [36].
*Ở Indonêsia:
Năm 1991, chương trình phát triển lâm nghiệp được hình thành, năm
1995 đổi tên thành chương trình phát triển cộng đồng làng lâm nghiệp do Bộ
lâm nghiệp quản lý. Chương trình này yêu cầu các công ty khai thác gỗ phải
góp phần phát triển nông thôn và BVR với 3 mục tiêu:
- Cải thiện điều kiện sống cho người dân sống ở trong và ngoài khu vực
đang khai thác gỗ.
- Nâng cao chất lượng và năng suất của rừng.
- BVR và môi trường.
Năm 1996, Bộ lâm nghiệp, các tổ chức phi Chính phủ và các trường Đại
học đã xây dựng một chương trình dự án điểm lôi kéo người dân vào bảo vệ
và phát triển rừng. Dự án này cho phép người dân quản lý 10.000ha rừng có
khả năng khai thác gỗ [35].
*Ở Ấn Độ:
Đặc điểm nổi bật trong chính sách quản lý rừng của Ấn Độ là sự duy trì
mối quan hệ giữa rừng với người dân các bộ tộc và những người nghèo sống
ở trong rừng và gần rừng, bảo vệ quyền lợi nhận rừng và hưởng lợi từ rừng
lâu đời của họ. Ấn Độ đã coi cộng đồng như một đối tác quản lý những vùng
đất rừng của Chính phủ. Chính phủ cho phép các cộng đồng được sử dụng tất
cả các sản phẩm không phải là gỗ, còn việc phân chia quyền lợi cây gỗ lại có
sự thay đổi nhiều giữa các Bang. Tại Ấn Độ, người ta nghiên cứu một số giải
sở sắc tộc và kinh tế tự nhiên tự túc, tự cấp, có ảnh hưởng sâu sắc đến việc
quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng [2].
Ngoài hai hình thức chủ yếu trên còn có các loại hình cộng đồng khác
như: cộng đồng tôn giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính... Một số loại
hình cộng đồng đã được phát triển thành các tổ chức đoàn thể có mục tiêu,
điều lệ rõ ràng, hoạt động theo quy chế tổ chức chính trị xã hội hay các tổ
chức kinh tế. Một số đoàn thể đã tham gia và có nhiều đóng góp cho việc phát
triển lâm nghiệp tại các địa phương như: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu
chiến binh, Đoàn thanh niên...
1.3.2. Hình thức bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu tố quan trọng tạo
nên cơ sở cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát
11
triển tài nguyên rừng. Vì vậy, vấn đề phát huy vai trò của các cộng đồng để
quản lý nguồn tài nguyên rừng là vấn đề vừa mang ý nghĩa phát huy truyền
thống, vừa có thể tạo ra một cách quản lý tài nguyên có hiệu quả hơn, bền
vững hơn, phù hợp với những xu hướng phát triển của thế giới[21].
Ở Việt Nam, hình thức quản lý BVR trên cơ sở cộng đồng mới được coi
là một hình thức tồn tại song song với các hình thức khác như: quản lý BVR
Nhà nước, hình thức quản lý BVR tư nhân, do đó việc đánh giá hiệu quả của
hình thức này chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát, mang tính định tính.
Tuy chưa có thống kê chi tiết, nhưng ở những nơi cộng đồng thực sự tham gia
vào quản lý BVR thì công tác quản lý BVR có hiệu quả rõ nét, các hành vi
xâm hại tài nguyên rừng bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời, rừng ngày càng
sinh trưởng phát triển tốt. Thực tiễn cho thấy rằng, quản lý BVR có sự tham
gia của cộng đồng dân cư thôn, bản là hình thức quản lý BVR có tính khả thi
về kinh tế - xã hội, bền vững về sinh thái môi trường và tiết kiệm chi phí cho
ích mang lại và tăng quyền hưởng lợi từ rừng để thúc đẩy cộng đồng thôn,
bản tham gia quản lý BVR [20].
1.3.3. Những nghiên cứu chính liên quan đến quản lý bảo vệ rừng
trên cơ sở cộng đồng Việt Nam
- Năm 1998, Việt Nam chính thức tham gia "Chương trình hành động
lâm nghiệp nhiệt đới" của cộng đồng Quốc tế. Dự án "Tổng quan về lâm
nghiệp Việt Nam" với mã hiệu VIE - 08 - 037 đã được tiến hành và kết thúc
vào năm 1991, Dự án đã có những đóng góp quý báu vào việc đánh giá hiện
trạng lâm nghiệp Việt Nam thời điểm lúc đó và đưa ra những khuyến cáo về
việc định hướng phát triển ngành lâm nghiệp cho đến năm 2000 và những
năm tiếp theo.
- Dự án "Đổi mới chiến lược ngành lâm nghiệp" đây là dự án xuất phát
từ yêu cầu cấp bách đối với nước ta sau khi Luật bảo vệ và phát triển rừng đã
được ban hành (năm 1991), mục tiêu của dự án là tìm hiểu học tập và hợp tác
để tìm ra các giải pháp chiến lược thực thi có hiệu quả mục tiêu phát triển
ngành lâm nghiệp trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
- Dự án "Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông đà" bắt đầu vào năm 1993,
dự án này đã chú ý làm việc với "nhóm sử dụng rừng" hơn là với các đơn vị
hành chính lâm nghiệp. Dự án đã tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực
hiện quy hoạch sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau đó tiến
hành lập những "nhóm bảo vệ rừng" và hỗ trợ dân bản xây dựng những qui
chế bảo vệ rừng. Những quy chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ rừng của
13
cộng đồng để nâng cao sự tự giác của dân bản và tăng cường sự kiểm soát của
dân bản, tránh sự phá hoại rừng của những bản lân cận. Củng cố tổ chức cấp
thôn bản và xã là việc làm cần thiết tiếp theo. Những Ban quản lý thôn bản
mà ít nhất có một thành viên chịu trách nhiệm về lâm nghiệp trong bản được
cáo về kinh nghiệm từ hoạt động dự án và một số nghiên cứu điểm. Hội thảo
đã thống nhất có hai hình thức quản lý rừng ở Việt Nam:
+ Cộng đồng quản lý trực tiếp rừng và đât rừng thuộc quyền sở hữu
chung của thôn bản (như rừng thiêng, rừng do Lâm trường, hợp tác xã giao
cho thôn bản, rừng đầu nguồn ở địa phương, đồng cở chăn nuôi, đất trống
được quy hoạch để trồng rừng hoặc tái sinh tự nhiên).
+ Cộng đồng tham gia vào việc quản lý những diện tích rừng thuộc sở
hữu hoặc quản lý của các cơ quan nhà nước như bảo vệ rừng phòng hộ, rừng
đặc dụng qua các hợp đồng khoán bảo vệ với các cơ quan nhà nước, bảo vệ
rừng sản xuất do các Lâm trường khoán bảo vệ rừng và đất rừng đã giao cho
các hộ gia đình và các tổ chức khác [6].
- Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức lần 2 trong 2
ngày 14, 15/11/2001 tại Hà Nội là bước tiếp theo nhằm làm rõ các yếu tố
khuôn khổ pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ
cho quản lý rừng cộng đồng tại Việt Nam [7], [13]. Trong hội thảo có rất
nhiều báo cáo và các vấn đề thảo luận: ‘‘Báo cáo về khuôn khổ pháp lý, chính
sách của Nhà nước và hiện trạng quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam’’ của
tác giả : Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn, Vũ Văn Mê, Nguyễn Hồng
Quân. Các báo cáo về sự vận dụng chính sách lâm nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh
của các tác giả như : Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu Tuynh, Nguyễn Ngọc Lung,
Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải… Cuối cùng hội thảo đi đến
kết luận cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng của nhà nước, đó là thực
tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị trí quan trọng trong hệ thống
quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn một số những vướng
mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và
phát triển rừng như : không quy định cộng đồng dân cư thôn bản là đối tượng
của chính sách này. Sự vận dụng các chính sách của nhà nước và địa phương
đã có tính sáng tạo, cụ thể là một số tỉnh đã mạnh dạn thí điểm giao đất giao
rừng và cấp sổ đỏ cho cộng đồng dân cư thôn bản như Sơn La, Thừa Thiên
Huế, ĐăcLắk [17], [18],[19].
Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn đề
tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng
quốc gia, từng địa phương. Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô
hình nào từ nơi này sang nơi khác. Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia
sẻ những bài học thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần
16
thiết trong bối cảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như
hiện nay. Điều đáng chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và
đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho
mỗi vùng.
Vì vậy quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng được xem như nền tảng của sự
phát triển vì nó đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu lợi ích cho cộng đồng,
góp phần xoá đói giảm nghèo và khắc phục được tình trạng khánh kiệt tài
nguyên trong những phương thức sử dụng kém bền vững.
1.3.4. Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt
Nam
Cho đến nay chưa có đánh giá hiệu quả quản lý rừng cộng đồng ở quy
mô toàn quốc, tuy nhiên, căn cứ vào 3 kết quả Hội thảo quốc gia về quản lý
rừng cộng đồng ở Việt Nam được tổ chức tại Hà Nội ( tháng 6/2000, tháng
11/2001 và tháng 11/2004) có thể đưa ra một số nhận định sau:
- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt hơn, những
nơi rừng do cộng đồng quản lý hầu như không bị chặt phá, do không có xâm
hại nên rừng ngày càng tăng trưởng.
- Góp phần nâng cao thu nhập của người dân, xoá đói giảm nghèo, đáp
ứng nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng và hộ gia đình.
Đối với diện tích rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ, hàng năm
được Nhà nước hoặc chủ rừng trả tiền công khoán, đã góp phần giải quyết
vào những tổ chức và luật lệ cộng đồng. Nó cần thiết cho cả quản lý tài
nguyên thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân và đặc
biệt có ý nghĩa ở vùng sâu, vùng xa, nơi mà ý thức pháp luật hoặc khả năng
thực thi pháp luật chưa cao.
Quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng sẽ thành công khi lấy lợi ích
cộng đồng làm mục tiêu và lồng ghép được với mục tiêu của quốc gia và khu
vực.
Sự hợp tác trong quản lý tài nguyên rừng giữa Nhà nước với cộng đồng,
giữa các đối tượng hưởng lợi là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của
quản lý rừng dựa vào cộng đồng.
18
Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng cần phải được phối hợp với các
phương thức quản lý khác mà trước hết là phương thức quản lý dựa vào chính
sách thể chế của Nhà nước, phương thức phát huy mọi tiềm năng quản lý của
các hộ gia đình [21].
1.3.6.Hướng nghiên cứu chính của đề tài
Hầu hết các đề tài nghiên cứu giải pháp quản lý rừng trên cơ sở cộng
đồng dân cư thôn, bản đều đề xuất những giải pháp quản lý tài nguyên rừng
mang tính định tính. Trên địa bàn huyện Bắc Yên chưa có đề tài nào nghiên
cứu về quản lý rừng dựa trên cơ sở cộng đồng nói chung và bảo vệ rừng trên
cơ sở cộng đồng nói riêng. Do vậy, đề tài này tập trung phân tích đánh giá sâu
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, phong tục tập quán, kiến thức, thể chế bản
địa và đánh giá thực trạng công tác bảo vệ rừng trên địa bàn huyện, đồng thời
đánh giá mức độ đe doạ, mối quan tâm, mâu thuẫn và khả năng hợp tác của
các bên liên quan trong, ngoài cộng đồng đến công tác bảo vệ rừng cũng như
đánh giá tiềm năng bảo vệ rừng của cộng đồng. Trên cơ sở đó phân tích đánh
giá để đề xuất các giải pháp bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng nhằm góp phần
đến bảo vệ rừng, tiềm năng bảo vệ rừng của cộng đồng dân cư thôn, bản và
mối quan tâm đến tài nguyên rừng, vai trò, mâu thuẫn, khả năng hợp tác của
các bên liên quan trong công tác bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Bắc Yên.
20
2.3. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là:
- Cộng đồng dân cư thôn, bản trong công tác quản lý bảo vệ rừng.
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội và các đối tác liên quan đến
QLBVR.
- Luật pháp và chính sách của Trung ương, địa phương liên quan đến
bảo vệ rừng.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp luận
Khi cộng đồng dân cư thôn bản tham gia vào các hoạt động quản lý
rừng là hoạt động trong hệ thống kinh tế - xã hội tác động tới hệ thống sinh
thái tự nhiên.
2.4.2. Phương pháp kế thừa
- Kế thừa có chọn lọc những thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên,
kinh tế, xã hội và nhân văn của khu vực nghiên cứu…. các thông tin kế thừa
đảm bảo tính cập nhật và đáp ứng được độ chính xác theo yêu cầu của đề tài.
- Các tài liệu từ cơ quan chuyên ngành như: Quy hoạch sử dụng đất của
huyện, số liệu giao đất - giao rừng tỉnh Sơn La, Dự án bản vệ và phát triển
rừng 661, vốn hỗ trợ khoanh khoán của sự nghiệp Kiểm lâm…
2.4.3. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu là đại diện tương đối cho khu vực nghiên cứu.
Theo Donova (1997), tiêu chuẩn chọn điểm nghiên cứu là: Thành phần
dân tộc, khả năng tiếp cận và địa hình.
bình, nghèo thuộc vùng nghiên cứu.
2.4.4. Phương pháp điều tra
- Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn (RRA): Được thực hiện để
thu thập những thông tin bổ sung về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, ảnh
22
hưởng của các nhân tố này đến công tác QLBVR cũng như thuận lợi, khó
khăn, nguy cơ, thách thức trong công tác QLBVR.
- Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA): Được áp
dụng để củng cố những thông tin thu thập được từ phương pháp kế thừa và
phương pháp RRA. Đồng thời, xác định những phong tục, tập quán, kiến thức
và thể chế bản địa liên quan đến việc QLBVR và tiềm năng QLBVR của cộng
đồng cũng như vai trò của các bên liên quan đến công tác QLBVR, mâu thuẫn
và khả năng hợp tác của các bên liên quan trong công tác QLBVR. Theo
phương pháp này, đề tài đã tổ chức những cuộc thảo luận nhóm với chủ đề tập
trung vào những nội dung trên. Trong quá trình thảo luận, những người thực
hiện đề tài giữ vai trò thúc đẩy và định hướng cuộc thảo luận, không đưa ra
những ý kiến mang tính quyết định và không áp đặt tư tưởng của mình cho
các thành viên tham gia thảo luận.
- Phương pháp chuyên gia: Những người thực hiện đề tài đã tiến hành
phỏng vấn cán bộ xã, cán bộ của các cơ quan có kinh nghiệm trong quản lý
bảo vệ rừng, từ đó làm cơ sở để phân tích, đề xuất các giải pháp hợp lý, có
hiệu quả hơn.
- Các công cụ sử dụng trong điều tra:
+ Ma trận, sơ đồ đánh giá sự quan tâm của các bên liên quan trong
QLBVR.
+ Ma trận đánh giá mâu thuẫn, khả năng hợp tác của các bên liên quan
trong BVR và mức độ quan trọng của rừng đối với đời sống của cộng đồng.