Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý, bảo vệ rừng tại chi nhánh lâm trường kiến giang, huyện lệ thủy, tỉnh quảng bình - Pdf 46

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được chuyên đề khóa luận tốt nghiệp này, tôi xin trân
trọng cảm ơn quý thầy cô trường Đại học Quảng Bình đã tận tình truyền đạt
kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học đại học vừa qua. Đặc biệt tôi xin bày
tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo Trần Lý Tưởng người đã trực tiếp hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám đốc Lâm trường cùng toàn thể các cô
chú, đặc biệt là cô chú trong phòng Kỹ thuật ở Lâm trường Kiến Giang đã tạo
điều kiện giúp đỡ, hướng dẫn, cung cấp số liệu cho tôi hoàn thành đợt thực tập
này.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song ngoài sự nổ lực của bản thân thì kinh
nghiệm thực tiễn chưa nhiều nên báo cáo này không tránh khỏi những sai sót
nhất định. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô để
tôi có những kiến thức vững vàng hơn sau đợt thực tập này.
Xin chân thành cảm ơn !
Quảng Bình, ngày 28 tháng 04 năm 2017
Tác giả

Võ Văn Diệu


MỤC LỤC


DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT
FAO

Tổ chức lương thực của Liên Hợp Quốc

QĐ-TTg


QĐ-CP

Quyết định chính phủ

NN&PTNT

Nông nghiệp và phát triển Nông thôn

TNHH 1TV LCN

Trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên

CT-BNN-KL

Chỉ thị Bộ Nông nghiệp- Kiểm lâm

DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Cây thông nhựa trên Lâm trường
Hình 2.2: Khai thác thông nhựa
Hình 2.3: Cây cao su
Hình 2.4: Người dân khai thác mủ cao su


Hình 2.5: Mốc ranh giới cây keo của lâm trường
Hình 2.6: Khai thác keo
Hình 4.1: Nhà của người dân sinh sống trên địa bàn
Hình 4.2: Đường khai thác và vận chuyển lâm sản
Hình 4.3: Người dân rào, đốt, phát rừng
Hình 4.4: Sâu rơi chết sau khi phun thuốc sâu róm thông

Cả thế giới đang chung tay để hạn chế những tác động xấu đến hệ sinh thái
môi trường. Bảo vệ môi trường cũng chính là bảo vệ con người, bảo vệ hành tinh
xanh của nhân loại.


Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật với sự gia tăng nhanh
về dân số đã gây ra một áp lực lớn đối với sự phát triển ngành Lâm nghiệp nói
riêng và sự phát triển của nền kinh tế nói chung.
Nhu cầu của đời sống về nguồn gỗ ngày càng cao, rừng tự nhiên bị khai thác
ngày càng cạn kiệt. Tình trạng tàn phá rừng, lấn chiếm đất rừng vẫn đang còn tiếp
diễn với mọi hình thức khác nhau và mức độ ngày càng trầm trọng.
Để nâng cao chất lượng rừng, phục hồi và tăng nhanh diện tích rừng, Đảng
và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, đầu tư nhiều chương trình, dự án phát triển
rừng trên diện rộng. Đổi mới hình thức tổ chức quản lí bảo vệ nhằm phát huy vai
trò của các tổ chức, đoàn thể, các cá nhân có khả năng đầu tư, phát triển rừng.
Chi nhánh Lâm trường Kiến Giang nằm trên địa bàn xã Kim Thủy, là một xã
miền núi của tỉnh Quảng Bình, là một địa danh có nguồn tài nguyên sinh học đa
dạng cao. Dân cư của huyện Lệ Thủy sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp,
thủ công, dịch vụ, một bộ phận người dân sống dựa vào rừng nên nạn khai thác
lâm sản, đốt rừng làm rẫy vẫn diễn ra phổ biến, cùng với nạn cháy rừng, sâu bệnh
hại đang làm cho diện tích rừng bị thu hẹp và tài nguyên rừng bị cạn kiệt.
Tổng diện tích Lâm trường Kiến Giang quản lý là 7.600,89 ha rừng, diện
tích khá lớn. Chính vì vậy, công tác quản lý, bảo vệ rừng luôn được đặt ra là một
trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp bách của các cấp lãnh đạo, toàn bộ cán bộ
nhân viên và những người dân sống xung quanh Lâm trường. Việc phổ biến những
kiến thức liên quan đến công tác quản lý, bảo vệ là một trong những giải pháp góp
phần nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường trên toàn Lâm trường nói
chung và cho người dân sống gần rừng nói riêng.
Đứng trước tình hình đó tỉnh Quảng Bình nói chung và Lâm trường Kiến
Giang nói riêng, trong thời gian này luôn quan tâm chú trọng đến quản lý, bảo vệ

• Rừng tự nhiên : Rừng ngay từ thuở sơ khai, con người đã có khái niệm cơ
bản nhất về rừng. Rừng là nơi cung cấp mọi thứ phục vụ cho cuộc sống của họ.
Lịch sử càng phát triển, những khái niệm về rừng được tích luỹ, hoàn thiện thành
những học thuyết về rừng. Rừng là một tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau,
nó chiếm một phạm vi không gian nhất định ở mặt đất và trong khí quyển
(Morozov 1930). Rừng chiếm phần lớn bề mặt Trái Đất và là một bộ phận của
cảnh quan địa lý. Rừng là một bộ phận của cảnh quan địa lý, trong đó bao gồm một
tổng thể các cây gỗ, cây bụi, cây cỏ, động vật và vi sinh vật. Trong quá trình phát
triển của mình chúng có mối quan hệ sinh học và ảnh hưởng lẫn nhau và với hoàn
cảnh bên ngoài (M.E. Tcachenco 1952) [5].
• Rừng lá kim :Ở vùng ôn đới có thành phần khá đồng nhất, khí hậu lạnh, có
thời gian sinh trưởng ngắn, năng suất thấp hơn vùng nhiệt đới(nhóm cây đặc trưng
là thông, vân sam, lim sam và cây Seqnota khổng lồ). Phân bố chủ yếu ở Châu Âu,
Bắc Mỹ, Nga, Trung Quốc và một số vùng núi cao nhiệt đới .
• Rừng rụng lá ôn đới: Giáp nhiệt đới và phân bố chủ yếu ở vùng thấp, chủ
yếu ở Châu Âu, Đông Bắc Mỹ, Nam Mỹ, một phần Trung Quốc, Nhật Bản,
Oxtrâylia…nó thường rụng lá vào mùa thu, chiếm phần lớn diện tích canh tác của
những nước này khoảng 35% diện tích .
• Rừng mưa nhiệt đới: Phân bố chủ yếu ở vùng khí hậu nóng, mưa nhiều và có
tính đa dạng sinh học cao nhất.Hệ cây rừng quanh năm có lá,dây leo chằng
chịt,phía dưới đất tối âm u,nóng và ẩm . Rừng nhiệt đới có giá trị kinh tế cao phục
vụ đời sống con người do có khối lượng sinh học cao phong phú về số lượng cũng
như chất lượng nên đang bị con người khai thác một cách triệt để .Diện tích chỉ
còn khoảng 50% so với trước và chỉ còn chiếm 8% so với diện tích lục địa .
• Rừng phòng hộ : Rừng được sử dụng cho mục đích bảo vệ nguồn nước, bảo
vệ nguồn nước chống xói mòn, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu bảo vệ môi
trường.


• Rừng đặc dụng: Được sử dụng cho mục đích đặc biệt như bảo tồn thiên



đất. Đây cũng là nơi cư trú và cung cấp chất dinh dưỡng cho vi sinh vật, nhiều loại
côn trùng và động vật đất.
• Rừng còn có khả năng giữ nước ngầm.
2.2.2. Vai trò của rừng đối với nền kinh tế
Rừng là thảm thực vật của những cây thân gỗ trên bề mặt Trái Đất, giữ vai trò
to lớn đối với con người như :
• Cung cấp nguồn gỗ, củi lớn cho con người.
• Rừng cung cấp các sản phẩm ngoài gỗ như: Măng, nấm hương, các sản
phẩm từ động vật rừng, cung cấp dược liệu quý hiếm và các đặc sản. Ngày nay, phí
dịch vụ môi trường cũng được các nhà khoa học nghiên cứu thông qua khả năng
hấp thụ CO2 của cây xanh. Năm 2008, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam vừa ký
quyết định thực hiện thí điểm phí dịch vụ môi trường, đây cũng là nguồn thu không
nhỏ khi mà các ngành công nghiệp phát triển.
• Đồng thời du lịch sinh thái cũng đang đóng vai trò quan trọng trong nền kinh
tế nước ta. Hiện nay chúng ta đã và đang khai thác nhiều điểm du lịch sinh thái nổi
tiếng như Phong Nha Kẻ Bàng, Cúc Phương, Cát Bà… là những nơi có diện tích
rừng lớn và có tính nguyên sinh.
2.2.3. Tác động của rừng lên cuộc sống
Rừng cung cấp một lượng lớn gỗ khổng lồ, phục vụ nhu cầu xây dụng nhà
cửa và các công trình phục vụ cuộc sống. Cung cấp nguyên liệu cho ngành công
nghiệp chế biến như: sản xuất giấy, sản xuất gỗ gia dụng, đồ mĩ nghệ thủ công để
xuất khẩu. Rừng có mối quan hệ mật thiết đối với thế giới, là nơi cư trú cho
khoảng 70% các loại động vật và thực vật. Đây là nơi cung cấp nhiều đặc sản quý
hiếm, là kho thuốc khổng lồ giúp con người chữa bệnh, cung cấp lương thực và tạo
việc làm cho con người, phát triển du lịch sinh thái.
2.3. Công tác quản lý và bảo vệ rừng
Công tác quản lý và bảo vệ rừng có ba phương diện:
• Phương diện khoa học/kỹ thuật, quen thuộc với các cán bộ có nghiệp vụ lâm

phương diện: đó là một loạt các sắp sếp tổ chức, kỹ thuật và bản địa dựa trên các
yếu tố khoa học và dân gian liên quan tới việc tổ chức, kiểm tra, quyền hưởng thụ
và phân bổ lợi ích của các hệ sinh thái rừng. chúng gồm những cây riêng rẽ, đám
cây trồng, khu rừng trồng, rừng tự nhiên cùng với các đặc sản gắn với chúng như


đặc sản chim thú cũng như khả năng sinh lợi khác về nông lâm nghiệp (nông lâm
kết hợp), chăn nuôi gia súc và thú rừng [5].
2.4. Tình hình quản lý bảo vệ và phát triển rừng trên thế giới
Theo thống kê của tổ chức FAO (1999), những năm cuối thập kỷ XX, tỷ lệ
mất rừng ở các nước trên thế giới và đặc biệt ở nước ta đang diễn ra và gia tăng
liên tục. Nếu tính cả thế giới thì trong 5 năm thế giới mất đi 56 triệu ha rừng (mỗi
năm dự tính mất khoảng 11 triệu ha). Trước đây trên thế giới có 17,6 tỷ ha rừng,
trong đó có diện tích rừng nguyên sinh là 8,08 tỷ ha. Nhưng dưới sự tác động của
con người đã làm cho diện tích rừng trên thế giới bị suy giảm nhanh chóng. Theo
số liệu thống kê của FAO đến năm 1991, diện tích rừng trên thế giới chỉ còn 3,717
triệu ha. Trong đó 1,867 triệu ha ở Bắc Cực và Địa Trung Hải ổn định và phát triển
chút ít. Còn 1,850 triệu ha rừng nhiệt đới. Tính trung bình mỗi năm diện tích rừng
nhiệt đới bị thu hẹp khoảng 11 triệu ha. Trong khi đó diện tích rừng trồng chỉ bằng
1/10 diện tích rừng bị mất đi, đó là chưa kể đến việc mất tính đa dạng sinh học.
Riêng ở Châu Á Thái Bình Dương thời gian từ năm 1976 đến năm 1980 mất 9 triệu
ha rừng, cùng thời gian này ở Châu Phi mất 37 triệu ha rừng và Châu Mĩ mất đi
18,4 triệu ha. Từ năm 1981 đến năm 1991 tỉ lệ rừng bị mất đi tăng lên 80% so với
10 năm trước. Với tốc độ đó một số chuyên gia lâm nghiệp dự đoán chỉ trong vòng
một thế kỷ nữa rừng rừng nhiệt đới sẽ bị hủy diệt. Ngoài ra mất rừng làm cho diện
tích đất rừng và đất trồng rừng bị xói mòn làm biến chất, do tình trạng chặt phá
rừng, sa mạc hóa hàng năm trên thế giới làm mất đi khoảng 2 tỷ tấn đất, với số
lượng này có thể sản xuất ra 50 tấn lương thực thực phẩm.
Ở Ấn Độ: Khi chính sách lâm nghiệp được thông qua vào những năm 1978
cho rằng “các cộng đồng lâm nghiệp cần được khuyến khích phát triển, tự xác định

sự tham gia của các nhóm liên quan đến quyền lợi từ rừng. Vì vậy đã được quản lý
bảo vệ tốt hơn.
2.5. Công tác quản lý rừng ở Việt Nam
Trước đây do dân số còn ít nên việc quản lý bảo vệ rừng ít được chú trọng mà
chỉ tập trung vào khai thác. Người dân tự do vào rừng lấy tất cả những gì từ rừng
để phục vụ cho nhu cầu của mình mà gần như không có sự trở ngại nào.Một thời
gian dài, nhiều vùng rừng của nước ta đã bị khai thác để trồng cây công nghiệp.
Năm 1943, diện tích rừng còn khoảng 14,3 triệu ha và mật độ che phủ là 43,3%.
Trong những năm tiếp theo diện tích rừng nhiệt đới của nước ta bị tàn phá hơn 2
triệu ha mà nguyên nhân chủ yếu là do chiến tranh và nhân dân khai phá rừng để


sản xuất đất nông nghiệp. Năm 1976 tỷ lệ che phủ rừng của nước ta chỉ còn 33,8%
và tiếp tục giảm xuống 30% vào năm 1985 và 26% vào năm 1995. Sự suy giảm tài
nguyên rừng trong những năm gần đây chủ yếu là do dân số tăng nhanh, khai thác
rừng không hợp lý và sự yếu kém trong công tác quản lý đã làm cho diện tích rừng
của nước ta vẫn tiếp tục bị phá hoại. (Lê Sỹ Trung, 2008).
Năm 1998, Việt Nam chính thức tham gia chương trình Lâm Nghiệp nhiệt đới
với mã số VIE-88-073 đã được tiến hành và kết thúc vào năm 1991. Dự án này đã
đóng góp một phần rất quan trọng vào việc đánh giá hiện trạng lâm nghiệp Việt
Nam và đưa ra khuyến cáo về định hướng phát triển lâm nghiệp cho đến năm 2000.
Thực hiện ngày càng có hiệu quả chủ trương xã hội hóa công tác quản lý bảo
vệ rừng. Hiện nay, Nhà nước đã và đang thực hiện chính sách giao đất, giao rừng,
khoán bảo vệ rừng cho các tổ chức, các hộ gia đình các lâm trường quốc doanh
đứng ra chịu trách nhiệm quản lý.
Cơ chế quản lý bảo vệ rừng được ban hành nhằm đẩy mạnh thực hiện chủ
trương xã hội hóa ngày càng có hiệu quả. Từ năm 1993: Luật đất đai ra đời và
Nghị định 02/CP năm 1994 của chính phủ về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ
gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp đã cho ra
khung pháp lý về quyền sử dụng rừng và đất rừng, đặt nền móng cho hệ thống

Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên¬Huế, Quảng
Nam, Bình Thuận, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng.
Thông nhựa trên Thế giới: Vùng phân bố của thông nhựa khá rộng, từ miền
Nam Trung Quốc, Lào, Campuchia, Thái Lan, Phillippin đến Indonesia và miền
Đông Myanmar.


Hình 2.1: Cây thông nhựa trên Lâm trường


Đặc điểm của cây:

Thông nhựa là cây gỗ lớn, cao tới 20-25(¬35)m, chiều cao dưới cành
15¬20(-25)m, đường kính thân 40¬50(-70)cm chiều cao dưới cành. Vỏ dày màu
nâu xám ở phía gốc, màu đỏ nhạt ở phía trên. Những cành lớn ở phía dưới thường
gần nằm ngang; nhưng những cành ở phía trên mọc chếch. Lá thông nhựa hình
kim, họp thành từng đôi, dài 15-25cm, mảnh, thô, cứng, màu xanh thẫm, gốc lá
hình ống, có bẹ dài 1-2cm, sống dai. Mặt cắt ngang lá có 2-3 ống nhựa ở giữa hoặc
ở phía trong thịt lá.
Nón mọc đơn độc hoặc thành từng đôi, hình trứng thuôn, dài 5¬11cm, gần
như không cuống. Vẩy ở quả nón non năm thứ nhất không có gai. Đến năm thứ hai
quả nón có dạng hình trứng thuôn hoặc hình trụ. Mặt vẩy hình thoi, cạnh sắc, mép
trên dày và hơi lồi, phía dưới hơi dẹt, có 2 gờ ngang và dọc đi qua giữa. Hạt thông
nhựa nhỏ, hình trái xoan hơi dẹt, có cánh dài 1,5-2,5cm.


Đặc điểm sinh học thông nhựa


Trong tự nhiên, có thể gặp thông nhựa mọc trong nhiều loại hình rừng

terpen hydrocarbon, nhiều nhất là các nhóm chất α-pinen + β-pinen (65-70%), ∆3¬caren (10-18%), camphor (2-3%), limonen (4-6%), myrcen và longifolen…
- Công dụng thông nhựa:


Thông nhựa là nguồn cung cấp tùng hương (colophan) và tinh dầu thông
(turpentine oil) chủ yếu. Tinh dầu được sử dụng rộng rãi trong công nghệ hoá mỹ
phẩm, là nguyên liệu để chế terpineol, terpin, borneol, camphor tổng hợp, sản xuất
sơn, véc ni, xi… Colophan được dùng nhiều trong công nghiệp cao su, hoá dẻo, vật
liệu cách điện, keo dán, sản xuất các chất tẩy rửa…, đặc biệt là trong công nghiệp
sản xuất giấy. Trong y dược, tinh dầu thông được sử dụng làm thuốc chữa viêm
thấp khớp, ho, làm thuốc kích thích, giảm mệt mỏi, thuốc diệt khuẩn, sát trùng…


Giá trị kinh tế, khoa học và bảo tồn thông nhựa

Thông nhựa là nguồn cung cấp nhựa và gỗ có giá trị cao. Các sản phẩm tùng
hương, tinh dầu thông được sử dụng và mua bán trên thị trường thế giới chủ yếu là
từ loài thông nhựa. Diện tích trồng thông nhựa ở nước ta cũng như các nước trong
vùng Đông Nam Á đang ngày càng mở rộng. Tổng sản lượng nhựa thông các loại
ở Việt Nam còn rất nhỏ, hiện mới đạt khoảng 3.500 tấn/năm, trong đó có tới 2/3
dùng để xuất khẩu.
Nhu cầu về tùng hương và tinh dầu thông trên thị trường thế giới ngày càng
tăng, cung không kịp cầu. Thông nhựa lại là đối tượng quan trọng để trồng rừng
trên các diện tích đất trống, đồi núi trọc đã thoái hoá, nghèo kiệt, khô cằn. Cần có
biện pháp bảo tồn các diện tích rừng thông nhựa tự nhiên; đồng thời mở rộng diện
tích trồng mới kết hợp trong chương trình trồng mới 5 triệu hecta rừng.Nhựa thông
là mặt hàng lân sản ngoài gỗ có nhiều triển vọng ở nước ta.


Hình 2.2: Khai thác thông nhựa

giảm năng suất do bị bệnh hại (nhất là bệnh phấn trắng Oidium).
‫ ـ‬Gió: mạnh trên 3m/giây dễ làm cây đổ gãy do cây cao su cao, gỗ lại giòn.
• Đặc điểm thực vật học:


- Thân: Thân cao có hình trụ tròn và thẳng đứng, độ phân cành cao từ 2 – 3m.
Cây cao trung bình 20 - 30m, cây mọc hoang có thể cao tới 50m, vành thân có thể
đạt tới 5m, tán lá rộng.
- Rễ: Cao su vừa có rễ cọc vừa có rễ bàng, rễ cọc cắm sâu vào đất, chống đỗ
ngã và hút nước, dinh dưỡng từ tầng đất sâu. Hệ thống rễ bàng phát triển rất rộng
và phần lớn tập trung ở tầng canh tác, nhiệm vụ chủ yếu là hút nước và hút dinh
dưỡng. Tán lá rộng tới đâu thì rễ bàng mọc ra đến đó, có thể rộng ra tới 6 – 10m.
- Lá: Loại lá kép có ba lá chét với phiến lá nguyên, mọc cách và mọc thành
từng tầng. Từ năm thứ 3 trở đi, cây có giai đoạn rụng lá qua đông tập trung ở
những vùng có mùa khô rõ rệt.
- Hoa, quả và hạt: Hoa cao su là hoa đơn tính đồng chu, phát hoa hình chùm
mọc ở đầu cành sau giai đoạn thay lá hằng năm; quả hình tròn hơi dẹp, quả có 3
ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt, hạt cao su có chứa tỷ lệ dầu khá cao nên thời gian
bảo quản hạt trước khi gieo tương đối ngắn.
• Giá trị kinh tế của cây cao su
Lá cây cao su khi rụng lại là nguồn hữu cơ tốt cho đất. Xương của lá cao su
hong khô có thể được uốn thành các hoa trang trí tuyệt đẹp trong nhà và mang đến
thu nhập cho người dân. Cành lá dùng làm củi đun. Hạt cao su dùng làm giống và
có giá trị cao trong công nghiệp, dùng để chế tạo sơn điện li, ép dầu làm xà phòng,
khô dầu cho chăn nuôi, dầu đốt. Nhân hạt cao su làm thức ăn cho cá, vỏ hạt cao su
chế biến than hoạt tính, làm pin đèn, gỗ dán, gỗ cao cấp. Dầu hạt cao su có thể
dùng trong hội họa, khô dầu hạt cao su làm thức ăn có giá trị cho gia súc.
Sử dụng bột nhân cao su thay thế môt phần protein bột cá trong khẩu phần ăn
của cá rô là một giải pháp hữu ích vì bột nhân cao su có giá trị dinh dưỡng cao.
Ngoài ra, dùng cao su thay nhựa đường là một ý tưởng mới lạ và đang được khai

phần đầu vẫn là lá kép, phần cuống phình ra tạo thành hình mũi mác thẳng, dài và
rộng bản. Sau đó, lá kép bị mất hoàn toàn được thay thế bằng lá đơn trưởng thành,
mọc cách, mép lá không có răng cưa, phiến hơi cong như hình lưỡi liềm, gọi là lá
giả. Loại lá này được tồn tại trong suốt thời gian sống của cây, lá dày, màu xanh
thẫm, cuống ngắn có 3 gân gốc chạy song song dọc theo phiến lá. Hoa tự hình
bông dài 8-15cm, mọc ở nách lá gần đầu cành, tràng màu vàng nhiều nhị vươn dài
ra ngoài hoa.

Hình 2.5: Mốc ranh giới cây keo của lâm trường
Quả đậu xoắn, hạt nằm ngang, tròn và dẹt khi khô màu nâu bóng, dây rốn dài,
quấn quanh hạt. Khi còn non quả hình dẹt, mỏng, thẳng, màu vàng khi già chuyển
sang mầu nâu nhạt, vỏ quả khô hình xoắn, mỗi quả có từ 5-7 hạt. Khi chín vỏ quả


khô và nứt ra, hạt vẫn được dính với vỏ bằng một sợi dây màu vàng ở rốn hạt. Hạt
màu nâu đen và bóng, mỗi kg có 45.000-50.000 hạt.
• Đặc tính sinh thái
Keo lá tràm phân bố tự nhiên chủ yếu ở phía Bắc bang Queensland và
Northern Territory của Ôxtralia và nhiều vùng của Papua Niu Ghi Nê, kéo dài tới
Irian Jaya và quần đảo Kai của Inđônêxia. Phạm vi phân bố nằm giữa vĩ độ 5 0 và
170 Nam, nhưng tập trung chủ yếu ở các vĩ độ từ 8-160Nam, độ cao tuyệt đối dưới
600m, phân bố nhiều nhất ở dưới 100m. Hiện nay Keo lá tràm đã được nhân rộng
và gây trồng ở nhiều nước trên thế giới như Thái Lan, Trung Quốc, Malaixia,
Philippin, Việt Nam, Ấn Độ,….
Ở nước ta Keo lá tràm được nhập nội và trồng thử nghiệm vào những năm
1960 tại miền Nam, đến đầu những năm 70 đã được mở rộng diện tích trồng ra một
số tỉnh miền Trung, tại Huế Keo lá tràm được sử dụng làm cây xanh đô thị dọc hai
bên bờ sông Hương. Cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX Keo lá tràm đã được gây trồng
ở hầu hết các tỉnh miền Bắc từ vĩ tuyến 17 trở ra điển hình là tại Ba Vì – Hà Nội,
Hữu Lũng – Lạng Sơn, Đại Lải – Vĩnh Phúc, Đồng Hỷ – Thái Nguyên. Được sự tài

phần gián tiếp thúc đẩy quá trình thụ phấn cho cây trồng. Keo lá tràm có hoa màu
vàng tươi và có thể ra hoa nhiều lần trong năm, có bộ tán khá đẹp, cây dễ trồng, ít
sâu bọ nên có thể trồng làm cây xanh, cây trang trí trong các công viên và ven các
đường phố. Chu kỳ kinh doanh gỗ nhỏ để làm gỗ giấy, gỗ dăm thường 9-10 năm
tỉa thưa 1 lần vào tuổi 5-6, chặt bỏ những cây mọc kém, bị chèn ép, chỉ để lại 8001000 cây tốt phân bố đều trên 1 ha.
Để kinh doanh gỗ lớn có thể tỉa thưa 2 lần, lần đầu vào tuổi 6-8, cường độ tỉa
từ 1/3 đến 2/5 số cây ban đầu, lần 2 tỉa vào tuổi 10-15, chỉ để lại 400-500 cây tốt
nhất trên 1 ha sau 20-25 năm sẽ khai thác chính là phù hợp.
Năng suất thu được với kinh doanh gỗ nhỏ sau 9-10 năm có đạt được 12-15
m /ha/năm, nơi đất tốt và trồng thâm canh có thể đạt 20 thậm chí 30 m3/ha/năm.
3

Sau khi khai trắng luân kỳ 1 Keo lá tràm tái sinh hạt rất mạnh với hàng vạn
cây trên một ha, nếu cành nhánh để lại được rải đều và đốt thì tỷ lệ cây tái sinh còn
cao hơn nhiều. Do vậy, nếu có biện pháp tỉa thưa nuôi dưỡng, xúc tiến tái sinh tự
nhiên thích hợp có thể tạo thành rừng mới cho luân kỳ 2 mà không phải trồng lại.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status