Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở huyện Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng - Pdf 24

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong
bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn ký

MAI HỮU CHANH
i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này được thực hiện theo chương trình đào tạo Thạc sĩ chính
quy tại Cơ sở 2 Trường Đại học Lâm nghiệp - thị trấn Trảng Bom, huyện
Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Nhân dịp này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến ban Giám
hiệu trường Đại học Lâm nghiệp; Phòng đào tạo sau Đại học; Các thầy cô
giáo đã tận tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả hoàn thành khóa học cao học tại
Trường.
Tác giả xin đặc biệt cám ơn TS Nguyễn Thị Bảo Lâm đã tận tình hướng
dẫn tác giả hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Trong quá trình học tập, tác giả cũng nhận được sự giúp đỡ và cổ vũ
nhiệt tình của Ban lãnh đạo và đồng nghiệp thuộc Công ty TNHH Một thành
viên Lâm nghiệp Lộc Bắc, của UBND huyện Bảo Lâm. Nhân dịp này tác giả
cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả sự giúp đỡ quý báu đó.
Tác giả nguyện sẽ mang những kiến thức đã học trong nhà trường để
cùng với các đồng nghiệp đóng góp cho sự nghiệp cao cả của ngành Lâm
Nghiệp.
Lâm Đồng, ngày 08 tháng 09 năm 2012

MAI HỮU CHANH
ii
MỤC LỤC
Trang

chủ rừng khác). Khái niệm này vừa phù hợp với định nghĩa của FAO
iii
vừa phát huy được nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý,
bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng 5
1.2. QLBVR dựa vào cộng đồng ở ngoài nước 6
Ở Thái lan, Wasi (1997) cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là một nhân tố
trợ giúp cho việc phát triển xã hội dân sự ở Thái Lan. Các cộng đồng
có đòi hỏi rất lớn được tham gia vào quản lý các nguồn tài nguyên địa
phương của họ do một diện tích rừng lớn đã bị mất bởi việc khai thác
gỗ hợp pháp trong những thập kỷ trước đây. Vandergeets (1996) nhận
thấy rằng khai thác rừng ở Thái Lan đã bị cấm từ năm 1989, Cục Lâm
nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã chuyển các mục tiêu từ quản lý khai
thác gỗ sang mở rộng bảo tồn rừng. Quyền của các cộng đồng địa
phương quản lý các nguồn tài nguyên của họ đã trở thành mục tiêu
chính của nhiều tổ chức phi chính phủ và cơ quan nghiên cứu. Gỵmour
và Fisher (1997) nhận xét rằng các họat động quản lý rừng cộng đồng
có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng trên diện tích đã mất rừng, ở
mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lý hoặc chuyển giao việc
kiểm soát cho các cộng đồng 7
1.3. Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 8
1.3.1. Hình thức QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam 8
1.3.2. Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở
Việt Nam 10
1.3.3. Những bài học kinh nghiệm QLBVR dựa vào cộng đồng 12
Chương 2 14
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ 14
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1. Mục tiêu nghiên cứu 14
2.1.1. Mục tiêu tổng quát 14
2.1.2. Mục tiêu cụ thể 14

4.2. Các hình thức quản lý rừng trên địa bàn 39
4.2.1. Rừng do cộng đồng quản lý 39
4.2.2. Rừng do UBND xã quản lý chung 40
Trên địa bàn nghiên cứu có một số diện tích rừng do UBND xã quản lý
chung ( gần 3.000 ha) đây là những diện tích chưa giao cho một chủ cụ
v
thể nào quản lý. Những diện tích này phần lớn là không được quản lý
bảo vệ tốt do thường xa dân cư, giáp ranh với nhiều địa phương, chưa
gắn được quyền lợi và nghĩa vụ của người bảo vệ, thường quản lý
chung chung, nên không gắn được trách nhiệm cụ thể. Đây là diện tích
cần phải được đẩy mạnh để giao cho cộng đồng quản lý hoặc dựa vào
cộng đồng để QLBVR 40
4.2.3. Rừng do tổ chức, doanh nghiệp quản lý 40
4.3. Tình hình QLBVR ở huyện Bảo lâm 41
4.3.1. Cơ cấu tổ chức lực lượng về QLBVR 41
4.3.2. Thực trạng công tác QLBVR ở huyện Bảo Lâm 43
4.3.3. Những thuận lợi, hạn chế trong công tác QLBVR 54
4.3.4. Những nguy cơ và thách thức trong công tác QLBVR 56
4.3.5. Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 60
4.4. Đánh giá tiềm năng QLBVR của cộng đồng dân cư thôn, bản 64
4.5. Phân tích vai trò, mối quan tâm và khả năng hợp tác của của các bên liên quan
đến QLBVR 66
4.5.1. Phân tích vai trò và mối quan tâm của các bên liên quan đến việc
QLBVR 66
4.5.2. Phân tích khả năng hợp tác của các bên liên quan 71
4.6. Đề xuất một số giải pháp QLBVR dựa vào cộng đồng 73
4.6.1. Các giải pháp về chính sách 73
- Các chủ rừng, các tổ chức có hưởng lợi từ rừng khi khai thác sản
phẩm hưởng lợi phải trích hỗ trợ kinh phí hàng năm cho cộng đồng để
phục vụ hoạt động QLBVR và phát triển dân sinh kinh tế xã hội. Vấn

Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ;7) chính sách gắn
QLBVR cộng đồng với xây dựng nông thôn mới 82
5.2. Tồn tại 83
5.3. Kiến nghị 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
PHẦN PHỤ BIỂU 86
vii
Người được phỏng vấn: Ka Dài Nam
 97
1/12 97
8- Xin ông/bà cho biết, hiện tại gia đình có bao nhiêu con Trâu, Bò, Dê? 99
Tên loại gia súc 99
Số con 99
Nơi chăn thả 99
Thu nhập 99
Trâu 99
Bò 99
01 99
Thả dông 99
Dê 99
Loại khác 99
9- Xin ông/bà cho biết số tiền thu nhập từ khai thác lâm sản? 99
Loại lâm sản 99
Khối lượng 99
Giá bán 99
Thành tiền 99
Gỗ 99
Củi 99
Động vật rừng 99
Lâm sản khác 99

100
BIỂU 9: THỐNG KÊ SỐ LƯỢNG TRÂU, BÒ, LỢN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
100
BIỂU 10: KHUNG THẢO LUẬN NHÓM 101
VỀ PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG QLBVR CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ THÔN
BẢN 101
Điểm mạnh 101
Ở gần khu rừng nhất, thường xuyên có điều kiện 101
Theo dỏi, sự ràng buộc của cộng đồng dân cư buộc các thành viên phải tuân thủ cùa
cộng đồngvà nghe lời những người có uy tín trong cộng đồng 101
- Văn hóa và tập quán truyền thống của cộng đồng dân cư góp phần bảo vệ rừng
101
- Khả năng kiểm soát trực tiếp các đối tượng tác động vào rừng thường xuyên nhất
101
ix
Điểm yếu 101
- Phần lớn cuộc sống của cộng đồng dân cư còn gặp nhiều khó khăn ,thu nhập thấp,
phải chịu sức ép về nhu cầu lương thực 101
- Thiếu thông tin, kiến thức hạn chế, tập quán sản xuất còn lạc hậu 101
- Phương tiện phục vụ công tác QLBVR hầu như không có gì 101
- Thiếu năng lực tài chính 101
- Trình độ dân trí không đồng đều, hiểu biết và chấp hành các qui định về QLBVR
còn hạn chế 101
Cơ hội 101
-Luật pháp đã dần từng bước thừa nhận địa vị pháp lý của cộng đồng dân cư, nếu
quản lý rừng tốt thì khả năng hưởng lợi đa dạng hơn, thường xuyên hơn, bền vững
hơn 101
-có thể tạo ra sự hợp tác với 101
các bên liên quan 101
Và chủ thể nhà nước để khắc phục các điểm yếu 102

Cộng đồng thôn, bản được hưởng lợi: 103
703008000đ – (105.462000 +70300800) = 527.245200đ 103
Một năm cộng đồng thôn, bản được hưởng lợi trên 15 ha nhận bảo vệ là:
527245200đ/30 năm = 17574840. Nếu nhận 100 ha rừng có trữ lượng 80m3/ha để
bảo vệ thì được hưởng lợi 1.757.484.000 103
Bình quân hưởng lợi một năm/ha là 1.757.484.000/ha/năm 103
2- Cách tính hưởng lợi ứng trước sản phẩm gỗ: 103
Một cộng đồng thôn, bản nhận 15 ha rừng tự nhiên có trữ lượng 80m3/ha, sau 5
năm quản lý bảo vệ tốt (có xác nhận của UBND xã và Kiểm lâm sở tại) 103
Lượng tăng trưởng của 15 ha trong 5 năm là 80m3 103
Được ứng 30% là: 36 m3 103
Thuế tài nguyên tại thời điểm hiện tại (đối với gỗ nhóm V): 15% 103
Nộp ngân sách xã: 10% 103
Giá cây đứng, gỗ nhóm V (tạm tính theo giá thị trường) là: 930.000đ/m3 103
Cách tính: 103
36 m3 x 930.000 = 33.480000đ 103
Thuế tài nguyên 15% = 5.022000đ 103
Nộp ngân sách xã 10% = 3.348000đ 103
Cộng đồng thôn, bản được hưởng lợi: 103
33.480.000đ – (5.022.000 + 3.348000) = 25.110.000 đ 103
15ha 1 năm ứng trước được: 5.022.000đ. Nếu nhận 100 ha rừng có trữ lượng
80m3/ha để bảo vệ thì được ứng trước khối lượng gỗ tương đương 50.220.000 triệu
đồng 103
Bình quân 1 ha một năm cộng đồng được ứng trước : 50.220.000đ/ha/năm 103
xi
MỘT SỐ HÌNH ẢNH MINH HỌA 104
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHỮ VIẾT TẮT TÊN ĐẦY ĐỦ
CBCNV Cán bộ công nhân viên
CNQSDĐ Chứng nhận quyền sử dụng đất

các nguồn thu nhập đối với tổng thu nhập của các hộ
gia đình
62
4.8 Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách
thức của cộng đồng thôn, bản trong công tác QLBVR
64
4.9 Phân tích mối quan tâm đến tài nguyên rừng và vai trò
QLBVR dựa vào cộng đồng của các bên liên quan
70
DANH MỤC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Số hiệu hình,
biểu đồ
Tên hình, biểu đồ Trang
4.1 Phỏng vấn người dân 37
4.2 Biểu đồ diễn biến vi phạm lâm luật trên địa bàn từ
2006-2010
46
4.3 Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình người Châu mạ 63
xiii
4.4 Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình người Kho 63
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Số hiệu sơ đồ Tên sơ đồ Trang
4.1 Quá trình xây dựng quy ước của thôn, bản 38
4.2 Sơ đồ về cơ cấu tổ chức lực lượng QLBVR ở huyện
Bảo lâm
41
4.3 Khả năng phối hợp, hỗ trợ QLBVR dựa vào cộng
đồng
73
4.4 Các bước tiến hành xây dựng Tổ QLBVR thôn, bản 77

1
công tác bảo vệ rừng chưa cao, một bộ phận nhân dân còn chuyên sống dựa vào
rừng, tình hình xâm hại tài nguyên rừng có lúc, có nơi còn nghiêm trọng. Hệ thống
quản lý bảo vệ rừng ở đây chủ yếu dựa vào các cơ quan Nhà nước, mà lực lượng
nồng cốt là Hạt Kiểm lâm, BQL rừng phòng hộ các CTY TNHHMTV LÂM
NGHIỆP Việc tham gia QLBVR của cộng đồng còn hạn chế.
Các nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã chứng minh rằng cộng đồng dân cư là
đối tượng thích hợp nhất quản lý bảo vệ rừng, nhất là đối với các diện tích rừng
phòng hộ, xa dân cư mà hộ gia đình, các tổ chức không thể quản lý bảo vệ được.
Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là hình thức nhằm nâng cao năng lực và
tăng cường sự hợp tác, chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm cho cộng đồng và các bên
liên quan, từ đó đạt được mục tiêu quản lý bảo vệ rừng bền vững. Hiện nay, các
công trình nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm về quản lý bảo vệ rừng cộng đồng
trên địa bàn huyện Bảo Lâm hầu như chưa có, vì vậy việc nghiên cứu và xây dựng
mô hình này là cần thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên mà tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài “Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở huyện
Bảo Lâm tỉnh Lâm Đồng".
2
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Nhận thức về QLBVR dựa vào cộng đồng
1.1.1. Khái niệm về cộng đồng
Từ cộng đồng gần đây thường được sử dụng rộng rãi trong lâm nghiệp nói
riêng cũng như trong phát triển nông thôn nói chung. Theo Darcy Davis Case (1990)
thì “Cộng đồng là nhóm người sống trên cùng một khu vực có ranh giới xác định và
thường cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung và hoặc có
quan hệ gia đình với nhau”. Còn theo Tổ chức Nông Lương thế giới FAO (1999) thì
cộng đồng được hiểu là “những người sống tại một chỗ trong một tổng thể hoặc là
một nhóm người sinh sống tại cùng một nơi theo những luật lệ chung”.
Theo các định nghĩa này thì trong một cộng đồng thường tồn tại và chia sẻ

bằng về tài nguyên rừng được giao giữa các thành viên trong toàn bộ nhóm. Còn
việc quản lý rừng theo thôn bản, thì mặc dù việc phân bổ là tương đối công bằng
trong từng nhóm cụ thể, nhưng có thể vẫn có sự không công bằng trong cộng đồng,
bởi vì những “người ngoài cuộc” bị loại ra, tuy họ vẫn sống trong cùng thôn bản
như là bạn bè hoặc xóm giềng.
Ở Việt Nam theo Nguyễn Hồng Quân (2001) đã phân biệt cộng đồng ra làm
hai loại:
+ Cộng đồng dân tộc: Hiện nước ta có 54 dân tộc, mỗi dân tộc đều có những
đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, tập quán truyền thống và hệ
thống sản xuất.
+ Cộng đồng làng bản: Hiện nay nước ta có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp
lại trong khoảng 9.000 xã. Từ xưa mỗi làng bản được coi là một tổ chức cộng đồng
chặt chẽ với những đặc điểm rất riêng như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng
đồng lâu đời được hình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước, trong
khi thôn bản ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan hệ
sắc tộc, nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự
nhiên có ảnh hưởng sâu sắc đến quản lý bảo vệ và phát triển rừng.
Nhìn chung, khái niệm “cộng đồng” sử dụng trong quản lý rừng cộng đồng ở
nước ta là “cộng đồng thôn bản”. Điều này được thể hiện ở điều 9, Luật Đất đai
(2003) “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng
một địa bàn thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum sóc và các điểm dân cư tương tự có
cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được nhà nước giao đất hoặc công
nhận quyền sử dụng đất.
1.1.2. Khái niệm về quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng
Thực chất khái niệm “quản lý rừng” bao gồm các hoạt động bảo vệ, khai
thác và sử dụng rừng như vậy cụm từ “quản lý bảo vệ rừng” thực chất được dùng
4
thay cho “bảo vệ rừng”. Cụ thể là quản lý bảo vệ rừng là một nội dung của quản lý
rừng, nó bao gồm các hoạt động hay biện pháp mang tính hành chính là chủ yếu,
nhằm mục đích ngăn chặn các tác nhân gây hại tới rừng.

gia của người dân vào quản lý rừng. Ngày nay LNCĐ trở thành nguồn thu nhập và
cơ hội tạo việc làm, cải thiện đời sống của các cộng đồng nông thôn. Với sự hỗ trợ
tài chính và kỹ thuật của nhiều tổ chức phi chính phủ và tổ chức tài trợ quốc tế,
chương trình này đã được thực thi ở toàn quốc và phần lớn chương trình đã thành
công trong giai đoạn này (Paudel,2000)
Ở Ấn Độ, hình thức “đồng quản lý rừng” đang được mở rộng nhanh chóng
bởi cải cách thể chế trong chính sách về rừng đang được thực thi với dấu hiệu rõ
nhất là phi tập trung hóa và dân chủ hóa quản lý nguồn tài nguyên. D’Silva (1997)
tin rằng chương trình “đồng quản lý rừng” tuy còn ở giai đọan đầu – giai đọan
chuyển việc bảo vệ rừng từ sự kiểm sóat của Nhà nước sang việc kiểm soát của
cộng đồng. Ấn Độ đang thực hiện bước cải cách thể chế tổ chức mặc dù các vấn đề
đặt ra cho việc cải cách thì còn xa mới đạt tới.
Ở Bănglađét, vấn đề xây dựng chiến lược, thể chế với sự trợ giúp của lâm
nghiệp xã hội đã nổi lên từ những năm 1967. Sự phản ứng rất hạn chế của Chính
phủ về xác định quyền sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên, cái chính là không an
toàn một cách phổ biến, đã làm suy yếu quản lý lâm nghiệp cộng đồng. Những vấn
đề pháp lý không tìm được câu trả lời như quyền chiếm hữu không chắc chắn và
mâu thuẫn giữa tư nhân và sở hữu công về rừng, đất rừng, quyền quản lý đất đai
theo truyền thống xảy ra bởi sự kiện những người sống về đất, những người thiếu
đất và việc dân chủ hóa là nguyên nhân chính của việc phá hoại nguồn tài nguyên
rừng và mất đa dạng sinh học. Sự thiếu tin tưởng giữa người dân địa phương với cơ
quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minh bạch để thực thi quản lý xã hội và quản lý
rừng có người dân tham gia cũng là nguyên nhân dẫn đến mất rừng (Poffenberger,
2000 và Thakur, 2001).
6
Tại Srilanka, từ năm 1982 đến 1988 pha 1 của Dự án LNCĐ do ADB tài trợ
cho Cục Lâm nghiệp Srilanka đã tạo cơ hội tiếp cận kinh nghiệm có người dân tham
gia trong quản lý rừng. Quá trình này được thực thi không đem lại lợi ích nào về
kiến thức địa phương và sự phản ứng hạn chế tới nguồn tài nguyên địa phương,
nhận biết nhu cầu và các ưu tiên. Sự thiếu vắng tổ chức cộng đồng được ủy quyền

các nguồn tài nguyên của họ đã trở thành mục tiêu chính của nhiều tổ chức phi chính
phủ và cơ quan nghiên cứu. Gỵmour và Fisher (1997) nhận xét rằng các họat động
quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồng rừng trên diện tích đã
mất rừng, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lý hoặc chuyển giao việc
kiểm soát cho các cộng đồng.
Tóm lại, quản lý BVR dựa vào cộng đồng đang được xem như là một giải
pháp hữu hiệu đối với việc bảo vệ tốt rừng hiện nay, giải quyết tình trạng diện tích,
chất lượng rừng giảm sút. Từ những kết quả thực tế của các nước, đây sẽ là những
bài học quý báu cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền vững tài
nguyên rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam. Tuy nhiên những người làm công
tác QLNN về bảo vệ và phát triển rừng phải làm sao cho cộng đồng hiểu được
những lợi ích mang lại từ việc tham gia bảo vệ & phát triển rừng để khuyến khích
họ tích cực tham gia.
1.3. Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
1.3.1. Hình thức QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) ở Việt Nam được hình thành từ lâu đời và
đang trở thành một phương thức quản lý rừng có hiệu quả được Nhà nước quan
tâm, khuyến khích phát triển. LNCĐ đang là một thực tiễn sinh động mang lại hiệu
quả trong quản lý rừng và phát triển cộng đồng vùng cao.
Hình thức quản lý này thường gắn với luật tục của cộng đồng. Đây là một
hình thức tri thức bản địa liên quan tới cộng đồng thôn, bản. Các cộng đồng đã có
nhiều kinh nghiệm và truyền thống quản lý rừng theo hướng sử dụng tài nguyên
thiên nhiên ổn định và bền vững. Trong thời gian dài tại nhiều vùng khác nhau,
8
quản lý rừng và môi trường sinh thái của cộng đồng đã đóng một vai trò rất quan
trọng và mang lại hiệu quả thiết thực cho người dân địa phương.
Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp & PTNT về việc công bố hiện trạng
rừng toàn quốc năm 2009, tính đến 31/12/2009 tổng diện tích rừng trên toàn quốc là
13.258.843 ha. Trong đó diện tích rừng giao cho cộng đồng là 191.383 ha, diện tích
rừng do các ban quản lý rừng phòng hộ và rừng đặc dụng quản lý trên 4,3 triệu ha,

người dân tộc châu mạ, kho, khu rừng phòng hộ cảnh quan của làng, rừng giàng
đã được bảo vệ nghiêm ngặt, không xảy ra tình trạng chặt phá, mọi người nhắc nhở
nhau tự giác bảo vệ, đây là những cơ sở để cần làm rõ vai trò tác động của cộng
đồng trong công tác QLBVR.
1.3.2. Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
Đã có một số kinh nghiệm bước đầu về quản lý rừng cộng đồng thông qua
các dự án lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) của các dự án ODA và dự án của Chính
phủ đã thực hiện ở Việt nam như các dự án Lâm nghiệp xã hội Sông Đà và Chương
trình hợp tác lâm nghiệp Việt- Đức của GTZ, dự án ETSP (Hỗ trợ đào tạo khuyến
nông vùng cao) của Thuỵ Sỹ, dự án Chương trình thí điểm LNCĐ của TFF, dự án
SNV, dự án PPFP vv Các dự án lâm nghiệp cộng đồng và đồng quản lý rừng đã
và đang được Nhà nước quan tâm và hỗ trợ để thử nghiệm và nhân rộng ở Việt
Nam.
Hiện nay chưa có đánh giá hiệu quả quản lý rừng cộng đồng ở quy mô toàn
quốc, tuy nhiên căn cứ vào kết qủa hoạt động của các dự án lâm nghiệp cộng đồng
và các hội thảo của các nhà khoa học về quản lý rừng cộng đồng có thể đưa ra một
số nhận định sau:
- Mô hình giao rừng tự nhiên cho cộng đồng thôn, bản quản lý và sử dụng
được đánh giá là mô hình giao rừng có hiệu quả nhất, đặc biệt ở các vùng đồng bào
dân tộc ít người có truyền thống sinh hoạt theo cộng đồng với các phong tục, luật
tục đơn giản và có hiệu quả về quản lý sử dụng rừng và nơi mà các quyết định cộng
đồng vẫn đang là một chuẩn mực văn hoá. Rừng sau khi giao cho cộng đồng nhìn
chung đã được bảo vệ tốt hơn so với trước đây.
10
- Quản lý rừng tự nhiên dựa vào cộng đồng là một giải pháp phù hợp giúp
chia sẻ lợi ích thu được từ rừng một cách công bằng và bền vững. Công bằng trong
việc chia sẻ lợi ích giữa các thành viên cộng đồng là một trong các nhân tố quyết
định cho sự thành công và tính bền vững của QLBVR.
- Thông qua việc giao rừng và cắm mốc ranh giới trên thực địa, chính quyền
địa phương đã bước đầu xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng của cộng đồng và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status