i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận án Thạc sĩ sản xuất và chế biến mang tên “Đề xuất
một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở huyện Kim Bôi, tỉnh
Hòa Bình”. Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Tôi xin cam đoan số liệu và
kết quả nghiên cứu trong Luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công
bố trong bất kỳ công trình nào khác dưới mọi hình thức.
Tôi xin chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bảo vệ Luận văn Thạc sỹ về lời
cam đoan của mình.
Hà Nội, ngày 13 tháng 4 năm 2016
Tác giả luận án
Bùi Thành Luân
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đào tạo Cao học hệ chính quy khóa học 20152016, được sự đồng ý của Thầy giáo hướng dẫn PGS.TS. Vũ Nhâm tôi đã thực hiện
đề tài “Đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở huyện
Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình".” .Để hoàn thành khoá luận này. Tôi xin chân thành cảm
ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và rèn luyện ở Trường Đại học Lâm nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo hướng dẫn PGS.TS. Vũ Nhâm đã tận tình,
chu đáo hướng dẫn tôi thực hiện khoá luận này. Các cơ quan, ban ngành của Huyện
Kim Bôi cùng bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập tài liệu và
thực hiện luận văn.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất.
Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận với thực
tế cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nên không thể tránh khỏi những
1.3.1. Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam................................................................ 9
1.3.2. Hình thức QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam ....................................... 9
1.3.3. Những nghiên cứu chính liên quan đến QLBVR dựa vào cộng đồng Việt Nam .. 11
1.3.4. Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam ............... 15
1.3.5. Những bài học kinh nghiệm cho QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam ... 16
Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI ..................................... 18
2.1. Điều kiện tự nhiên huyện Kim Bôi.................................................................. 18
2.1.1. Vị trí địa lý .................................................................................................. 18
2.1.2. Địa hình, địa mạo......................................................................................... 20
2.1.3. Khí hậu, thủy văn......................................................................................... 20
iv
2.1.4. Tài nguyên đất ............................................................................................. 21
2.1.5. Tài nguyên nước .......................................................................................... 25
2.1.6. Tài nguyên rừng........................................................................................... 25
2.1.7. Tài nguyên khoáng sản ................................................................................ 26
2.1.8. Tài nguyên nhân văn .................................................................................... 26
2.1.9. Thực trạng môi trường ................................................................................. 27
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội ................................................................................ 27
2.2.1. Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế .................................................. 27
2.2.2. Thực trạng phát triển một số ngành kinh tế .................................................. 28
2.2.3. Dân số và lao động ...................................................................................... 30
2.2.4. Văn hoá – xã hội .......................................................................................... 31
2.2.5. Cơ sở hạ tầng ............................................................................................... 34
Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................................................................... 37
3.1. Mục tiêu tổng quát .......................................................................................... 37
3.2. Mục tiêu cụ thể .............................................................................................. 37
4.5.2. Các giải pháp về tổ chức .............................................................................. 97
4.5.3. Giải pháp về đào tạo tập huấn .................................................................... 100
4.5.4. Giải pháp về tuyên truyền, giáo dục pháp luật QLBVR và xoá bỏ dần những
tập quán không có lợi cho công tác QLBVR ........................................................ 103
4.5.5. Giải pháp về PCCCR ................................................................................. 104
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ ............................................................ 105
TÀI LIỆU THAM KHẢO
vi
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Nghĩa đầy đủ
ADB
Ngân hàng phát triển Châu Á.
BCH
Ban chỉ huy thực hiện các biện pháp cấp bách
để bảo vệ và phát trỉên rừng.
QLBVR
Quản lý Bảo vệ rừng.
CBCC
BVR
Bảo vệ rừng.
vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
2.1
Hiện trạng rừng phân theo chức năng
26
2.2
Số lượng một số loại vật nuôi chính trong huyện
29
2.3
Một số chỉ tiêu tổng hợp về giáo dục
63
4.6
4.7
4.8
4.9
Kết quả phân tích ảnh hưởng và tỷ lệ trung bình % của các nguồn
thu nhập đối với tổng thu nhập của các hộ gia đình
Diện tích rừng phân theo chủ quản lý trên địa bàn
Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của cộng
đồng thôn, bản trong công tác QLBVR.
Phân tích mối quan tâm đến tài nguyên rừng và vai trò BVR trên cơ
sở cộng đồng của các bên liên quan
65
75
78
84
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Tên hình
Bảng đồ cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình người Dao
67
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một tài sản vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia, mỗi dân tộc trên
toàn cầu, vì nó không chỉ cung cấp những giá trị lâm sản thông thường cho con
người mà nó còn cho hành tinh của chúng ta sự sống.
Ngành lâm nghiệp nước ta đang trong thời kỳ chuyển biến từ Lâm nghiệp
truyền thống sang lâm nghiệp xã hội, trong thời gian qua đã tạo ra nhiều nhân tố
tích cực mới, đặc biệt là sự hình thành đa dạng hoá các hình thức quản lý và phương
thức tiếp cận mới về quản lý tài nguyên rừng. Trong đó quản lý bảo vệ rừng có sự
tham gia của cộng đồng dân cư thôn, thôn là một trong những hình thức quản lý bảo
vệ rừng đang được sự quan tâm, chú ý của cơ quan quản lý lâm nghiệp từ cấp Trung
ương đến chính quyền địa phương các cấp. Cộng đồng dân cư thôn, bản, những
người hiện đang sinh sống ở vùng rừng và gần rừng, đời sống kinh tế, xã hội của họ
có quan hệ trực tiếp và gắn bó với rừng, đây là một nhân tố tích cực và ngày càng
có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý rừng cộng đồng. Phát huy vai trò của
cộng đồng dân cư thôn, thônđể quản lý bảo vệ rừng là vấn đề vừa mang ý nghĩa
phát huy truyền thống dân tộc, vừa tạo ra một cách quản lý rừng có hiệu quả hơn,
bền vững hơn, phù hợp với những xu thế phát triển lâm nghiệp trên thế giới, đặc
biệt là các nước đang phát triển.
Huyện Kim Bôi là huyện miền núi của tỉnh Hoà Bình cách Thành phố Hòa
Bình 35 km; Có tổng diện tích tự nhiên 54.921,64 ha, trong đó diện tích đất lâm
nghiệp 42.147,50 ha, chiếm 77% diện tích tự nhiên của toàn Huyện, phân bố chủ
yếu trên địa hình đồi núi cao. Diện tích rừng của huyện Kim Bôi không những có
vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của huyện mà còn có tác dụng
(PCCCR). Phòng trừ sinh vật gây hại rừng, bảo vệ hệ sinh thái rừng và thực hiện
theo quy định của pháp luật về quản lý lâm sản. Những giải pháp QLBVR trên cơ
sở cộng đồng luôn chứa đựng những sắc thái của luật tục, phong tục, tập quán, ý
thức dân tộc, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểm quan hệ gia đình, họ
hàng, các tổ chức đoàn thể, làng, thônphù hợp với chính sách, pháp luật của Nhà
nước.[4]
1.1.2. Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng
Cộng đồng tham gia quản lý rừng cũng có thể thay thế bằng một cụm từ
chung nhất là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ).
LNCĐ không chỉ giới hạn trong việc trồng cây rừng trang trại, khu nhà ở hay
ven đường mà còn cả tập quán du canh, việc sử dụng quản lý rừng tự nhiên và việc
cung cấp các sản phẩm cây trồng từ nhiều nguồn khác nhau.
LNCĐ cũng đề cập đến sự xác định nhu cầu của địa phương, tăng cường
quản lý sử dụng cây cối cải thiện mức sống của người dân theo một phương thức
bền vững, đặc biệt là cho người nghèo (FAO,2000).
Ở Việt Nam, hiện nay có những quan điểm khác nhau về LNCĐ và chưa có
một định nghĩa chính thức nào được công nhận. Nhưng tại Hội thảo Quốc gia về
chia sẻ kinh nghiệm thực hiện các mô hình quản lý rừng cộng đồng cấp thôn bản địa
Việt Nam tại Ninh Bình năm 2007 đã thống nhất rằng ở Việt Nam có hai hình thức
quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:
- Thứ nhất là quản lý rừng của cộng đồng: Đây là hình thức mà mọi thành
viên của cộng đồng tham gia quản lý và ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những
khu rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng
chung của cộng đồng[7].
Rừng của cộng đồng là rừng của làng thôn đã được quản lý theo truyền thống
lâu đời (rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước…quản lý theo các luật tục truyền
thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã, rừng tự nhiên
được giao cho các hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lại cho các xã, hoặc các
đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng
đồng (cộng đồng quản lý bảo vệ rừng của các chủ rừng khác). Khái niệm này vừa phù
6
hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy được nhiều hơn sự đóng góp của cộng
đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng.
1.1.3. Vai trò của Chính sách Nhà nước đối với QLBVR dựa vào cộng đồng.
QLBVR dựa vào cộng đồng được xây dựng dựa trên cơ sở phong tục, tập
quán, kiến thức và thể chế bản địa của người dân địa phương. Tuy nhiên, có những
phong tục tập quán phù hợp với yêu cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng, nhưng
cũng có những phong tục tập quán ngược lại với yêu cầu quản lý bền vững tài
nguyên rừng. Do đó, quản lý BVR dựa vào cộng đồng phải hướng và phát huy được
những phong tục tập quán có lợi và giảm dần những phong tục tập quán cản trở đến
quản lý bền vững tài nguyên rừng.
QLBVR dựa vào cộng đồng sẽ không thể thực hiện được nếu thiếu sự hậu
thuẫn của các chính sách và thể chế Nhà nước. Các tổ chức cộng đồng không phải
là cơ quan quyền lực, không có công cụ chuyên chính riêng. Trong nhiều trường
hợp, tổ chức cộng đồng không giải quyết được một cách triệt để những vấn đề phức
tạp của quản lý BVR. Khi đó các tổ chức cộng đồng phải hợp tác với các cơ quan
chính quyền để giải quyết những vấn đề vượt khỏi quyền hạn của mình. Vì vậy, các
qui định của cộng đồng phải được xây dựng trên cơ sở tính đến sự hỗ trợ của các
chính sách và thể chế hiện thời của Nhà nước, không trái với các qui định của Nhà
nước.
1.1.4. Chiến lược và chính sách QLBVR dựa vào cộng đồng
Chiến lược và chính sách quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng của các
nước trong khu vực đều được tiến hành theo những hướng sau:
- Những giải pháp chủ yếu để tăng cường quyền quản lý BVR dựa vào cộng
đồng: Phát huy những luật tục, phong tục tập quán và trách nhiệm của toàn cộng đồng
những bài học quý báu cho quá trình xây dựng những giải pháp quản lý bền vững
tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam.
Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở một số nước:
* Ở Nhật Bản
Nhật Bản hiện có 25,21 triệu ha rừng, trong đó: rừng cộng đồng chiếm 10%,
rừng tư nhân chiếm 60%, rừng Quốc gia chiếm 30%. Từ đam mê và quan tâm đến
văn hoá, người Nhật đã học được cách cải tiến việc sử dụng bền vững và bảo tồn
nguồn tài nguyên rừng rất lớn. Vì vậy, thực tế các mục tiêu chính trong luật pháp
8
rừng và quản lý tài nguyên ở Nhật đều được công bố rõ ràng, để đẩy mạnh và phát
triển bền vững dựa trên cơ sở lợi ích cộng đồng ngay từ những năm 1800.
* Ở Indonesia
Năm 1991, chương trình phát triển lâm nghiệp được hình thành, năm 1995
đổi tên thành chương trình phát triển cộng đồng làng lâm nghiệp do Bộ lâm nghiệp
quản lý. Chương trình này yêu cầu các công ty khai thác gỗ phải góp phần phát triển
nông thôn và BVR với 3 mục tiêu:
- Cải thiện điều kiện sống cho người dân sống ở trong và ngoài khu vực đang
khai thác gỗ.
- Nâng cao chất lượng và năng suất của rừng.
- BVR và môi trường.
Năm 1996, Bộ lâm nghiệp, các tổ chức phi Chính phủ và các trường Đại học đã
xây dựng một chương trình dự án điểm lôi kéo người dân vào bảo vệ và phát triển
rừng. Dự án này cho phép người dân quản lý 10.000 ha rừng có khả năng khai thác gỗ.
* Ở NêPal
Năm 1993, Nêpal phát triển chính sách lâm nghiệp mới, nhấn mạnh đến các
nhóm sử dụng rừng, cho phép gia tăng quyền hạn và hỗ trợ cho các nhóm sử dụng
rừng thay chức năng của các phòng lâm nghiệp huyện từ chức năng cảnh sát và chỉ
của phương thức canh tác lúa nước, đã có nhiều thể chế tồn tại lâu đời trong xã hội
nông thôn Việt Nam.
+ Thôn, thôn ở miền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở
sắc tộc và kinh tế tự nhiên tự túc, tự cấp, có ảnh hưởng sâu sắc đến việc quản lý,
bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng.
Ngoài hai hình thức chủ yếu trên còn có các loại hình cộng đồng khác như:
cộng đồng tôn giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính... Một số loại hình cộng
đồng đã được phát triển thành các tổ chức đoàn thể có mục tiêu, điều lệ rõ ràng,
hoạt động theo quy chế tổ chức chính trị xã hội hay các tổ chức kinh tế. Một số
đoàn thể đã tham gia và có nhiều đóng góp cho việc phát triển lâm nghiệp tại các
địa phương như: Hội nông dân, Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên...
1.3.2. Hình thức QLBVR dựa vào cộng đồng ở Việt Nam
Tính cộng đồng của các dân tộc Việt Nam đã là yếu quan trọng tạo nên nền
tảng cho những thành quả đã đạt được trong công cuộc bảo vệ và phát triển tài
10
nguyên rừng. Vì vậy phát huy vai của các cộng đồng để quản lý nguồn tài nguyên
rừng vừa mang ý nghĩa phát huy truyền thống dân tộc, vừa có thể tạo ra một cách
quản lý tài nguyên hiệu quả hơn, bền vững hơn, phù hợp với xu hướng phát triển
của thế giới.
Ở Việt Nam, hình thức quản lý QLBVR dựa vào cộng đồng mới được coi là
một hình thức tồn tại song song với các hình thức khác như: quản lý BVR Nhà
nước, hình thức QLBVR tư nhân, do đó việc đánh giá hiệu quả của hình thức này
chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát, mang tính định tính. Tuy chưa có thống
kê chi tiết, nhưng ở những nơi cộng đồng thực sự tham gia vào QLBVR thì công tác
QLBVR có hiệu quả rõ nét, các hành vi xâm hại tài nguyên rừng bị phát hiện và
ngăn chặn kịp thời, rừng ngày càng sinh trưởng phát triển tốt. Thực tiễn cho thấy
rằng, QLBVR có sự tham gia của cộng đồng dân cư thôn, thônlà hình thức QLBVR
bản địa liên quan đến cộng đồng thôn, bản. Các cộng đồng đã có nhiều kinh nghiệm
và truyền thống quản lý rừng theo hướng sử dụng tài nguyên thiên nhiên ổn định và
bền vững. Trong thời gian dài tại nhiều vùng khác nhau, quản lý rừng và môi trường
sinh thái của cộng đồng đã đóng một vai trò rất quan trọng và mang lại hiệu quả
thiết thực cho người dân địa phương về các mặt:
- Bảo vệ, quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên rừng và môi trường sinh thái.
- Xác định các mối quan hệ sở hữu đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên và
môi trường.
- Củng cố mối quan hệ xã hội trong cộng đồng các dân tộc.
1.3.3. Những nghiên cứu chính liên quan đến QLBVR dựa vào cộng đồng Việt Nam
- Dự án "Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông đà" bắt đầu vào năm 1993, dự án
này đã chú ý làm việc với "nhóm sử dụng rừng" hơn là với các đơn vị hành chính
lâm nghiệp. Dự án đã tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực hiện quy hoạch
sử dụng đất và giao đất có người dân tham gia, sau đó tiến hành lập những "nhóm
bảo vệ rừng" và hỗ trợ dân thôn xây dựng những qui chế bảo vệ rừng. Những quy
chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng để nâng cao sự tự giác
của dân bản và tăng cường sự kiểm soát của dân bản, tránh sự phá hoại rừng của
những thôn lân cận. Củng cố tổ chức cấp thôn, bản và xã là việc làm cần thiết tiếp
theo. Những Ban quản lý thôn, bản mà ít nhất có một thành viên chịu trách nhiệm
về lâm nghiệp trong thônđược thiết lập khi tiến hành lập kế hoạch phát triển thôn
12
thônhàng năm. Trong quá trình xây dựng kế hoạch dự án sử dụng 4 tiêu chí chính
để giới thiệu và tăng cường thực thi quản lý lâm nghiệp cộng đồng, đó là: Quyền sử
dụng, nghiên cứu địa phương, khả năng của cộng đồng và điều kiện địa lý khu vực.
Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) đã tiến hành đánh giá về thực
trạng QLBVR tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phương tại 3 tỉnh: Hoà
Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế. Các tác giả đã tìm hiểu về sự hình thành, các
ngày 14, 15/11/2001 tại Hà Nội là bước tiếp theo nhằm làm rõ các yếu tố khuôn khổ
pháp lý của rừng cộng đồng, việc thực thi các chính sách hỗ trợ cho quản lý rừng
cộng đồng tại Việt Nam.[4] Trong hội thảo có rất nhiều báo cáo và các vấn đề thảo
luận: ‘‘Báo cáo về khuôn khổ pháp lý, chính sách của Nhà nước và hiện trạng quản
lý rừng cộng đồng ở Việt Nam’’ của tác giả : Phạm Xuân Phương, Hà Công Tuấn,
Vũ Văn Mê, Nguyễn Hồng Quân. Các báo cáo về sự vận dụng chính sách lâm
nghiệp nhà nước ở cấp tỉnh của các tác giả như : Sheelagh, Orelly, Vũ Hữu Tuynh,
Nguyễn Ngọc Lung, Lê Ngọc Anh, Nguyễn Hải Nam, Cao Vĩnh Hải… Cuối cùng
hội thảo đi đến kết luận cộng đồng đang quản lý 15% diện tích rừng của nhà nước,
đó là thực tế mang tính khách quan và ngày càng có một vị trí quan trọng trong hệ
thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn một số những vướng
mắc trong khuôn khổ chính sách hưởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và phát triển
rừng như: không quy định cộng đồng dân cư thôn bản là đối tượng của chính sách
này. Sự vận dụng các chính sách của nhà nước và địa phương đã có tính sáng tạo,
cụ thể là một số tỉnh đã mạnh dạn thí điểm giao đất giao rừng và cấp sổ đỏ cho cộng
đồng dân cư thôn bản như Hòa Bình, Thừa Thiên Huế, ĐăcLắk.
- Hội thảo quốc gia về lâm nghiệp cộng đồng được tổ chức lần 3 và tháng
11/2004 tại Hà Nội với nội dung về khuôn khổ và thể chế quản lý rừng cộng đồng,
chính sách hưởng lợi trong quản lý rừng cộng đồng, đánh giá tài nguyên rừng và khai
thác rừng cộng đồng.[5] Hội thảo kết luận, quản lý rừng cộng đồng hiện đang tồn tại
như một xu thế khách quan và ngày càng có vị trí quan trọng trong hệ thống quản lý
tài nguyên rừng, nhiều diện tích đất lâm nghiệp có thể giao cho cộng đồng quản lý
(Diện tích rừng xa khu dân cư, có địa hình phức tạp mà các tổ chức nhà nước và hộ
gia đình không có khả năng quản lý và quản lý không có hiệu quả, các khu rừng giữ
nguồn nước phục vụ trực tiếp cho cộng đồng, khu rừng giáp danh giữa các thôn, xã).
Bên cạnh đó, vấn đề hưởng lợi của cộng đồng quản lý rừng được nhiều nhà khoa học
14
15
trị rừng (FGLG), các dự án về LNCĐ đang thực hiện ở Việt Nam, đại diện các cơ
quan quản lý nhà nước và các địa phương.
Nhìn chung, quản lý rừng và đất rừng trên cơ sở cộng đồng là một vấn đề
tổng hợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia,
từng địa phương. Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từ nơi
này sang nơi khác. Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những bài học
thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bối cảnh
chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay. Điều đáng chú ý
là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinh nghiệm, bổ sung và
xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng.
Vì vậy quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng được xem như nền tảng của
sự phát triển vì nó đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu lợi ích cho cộng đồng, góp
phần xoá đói giảm nghèo và khắc phục được tình trạng khánh kiệt tài nguyên trong
những phương thức sử dụng kém bền vững.
1.3.4. Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam
Mặc dù cho chưa có những kết quả đánh giá chính thức về hiệu quả quản lý
bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở quy mô toàn quốc, tuy nhiên, căn cứ vào 4 kết
quả Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam được tổ chức tại Hà
Nội (tháng 6/2000, tháng 11/2001 và tháng 11/2004, 6/2009) và dự án thí điểm lâm
nghiệp cộng đồng được thí điểm 40 xã, trên phạm vi 10 tỉnh, qua các kết quả hội thảo
và dự án trên có thể đưa ra một số nhận định sau:
- Nhiều nơi rừng cộng đồng được bảo vệ và phát triển tốt hơn nếu được giao
rừng và những nơi rừng do cộng đồng quản lý hầu như không bị chặt phá, do không
có xâm hại nên rừng ngày càng tăng trưởng.
- Góp phần nâng cao thu nhập của người dân, xoá đói giảm nghèo, đáp ứng
nhu cầu lâm sản cho các công trình chung của cộng đồng và hộ gia đình.
Đối với diện tích rừng do cộng đồng nhận khoán bảo vệ, hàng năm được Nhà
những tổ chức và luật lệ cộng đồng. Nó cần thiết cho cả quản lý tài nguyên thuộc sở
hữu Nhà nước, sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân và đặc biệt có ý nghĩa ở vùng
sâu, vùng xa, nơi mà ý thức pháp luật hoặc khả năng thực thi pháp luật chưa cao.
Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng sẽ thành công khi lấy lợi ích cộng đồng
làm mục tiêu và lồng ghép được với mục tiêu của quốc gia và khu vực.
17
Sự hợp tác trong quản lý tài nguyên rừng giữa Nhà nước với cộng đồng, giữa
các đối tượng hưởng lợi là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quản lý
rừng dựa vào cộng đồng.
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng cần phải được phối hợp với các phương
thức quản lý khác mà trước hết là phương thức quản lý dựa vào chính sách thể chế
của Nhà nước, phương thức phát huy mọi tiềm năng quản lý của các hộ gia đình.[7]