Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa (Luận văn thạc sĩ) - Pdf 49

i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu nêu trong luận văn là trung thực, không sử dụng số liệu của tác giả khác
khi chƣa đƣợc công bố hoặc chƣa đƣợc sự đồng ý. Những kết quả nghiên cứu
của tác giả chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác./.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2017

Học viên

Nguyễn Mạnh Cƣờng


ii

LỜI CẢM ƠN
Trƣớc hết, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành tới GS.TS Nguyễn
Thế Nhã - giáo viên hƣớng dẫn Trƣờng Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam đã
trực tiếp tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tác giả xin cảm ơn Ban quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng tại
huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi
triển khai đề tài nghiên cứu, cung cấp những thông tin, tƣ liệu cần thiết cũng
nhƣ thu thập số liệu ngoại nghiệp phục vụ cho luận văn.
Cuối cùng tác giả xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè gần
xa và ngƣời thân đã giúp đỡ, động viên tác giả trong suốt quá trình thời gian
học tập và hoàn thành luận văn.

đồng Việt Nam ..........................................................................................................16
CHƢƠNG 2: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .....22
2.1. Mục tiêu nghiên cứu...........................................................................................22
2.1.1. Mục tiêu tổng quát: .........................................................................................22
2.2.2. Mục tiêu cụ thể: ...............................................................................................22
2.2. Đối tƣợng, phạm vi, thời gian nghiên cứu .........................................................22
2.3. Nội dung nghiên cứu ..........................................................................................22
2.4. Phƣơng pháp nghiên cứu ....................................................................................23
2.4.1. Nghiên cứu tài liệu thứ cấp .............................................................................23
2.4.2. Xác định và lựa chọn địa điểm nghiên cứu. ....................................................23
2.4.3. Xác định dung lƣợng mẫu (các hộ gia đình) điều tra .....................................24
2.4.4. Phƣơng pháp điều tra thu thập số liệu hiện trƣờng .........................................25
2.4.5. Phƣơng pháp xử lý và phân tích số liệu ..........................................................25
CHƢƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XĂ HỘI KHU VỰC NGHIÊN
CỨU ..........................................................................................................................30


iv

3.1.1. Vị trí địa lý ...................................................................................................... 30
3.1.2. Địa hình, địa thế .............................................................................................. 30
3.1.3. Khí hậu, thuỷ văn ............................................................................................ 32
3.1.4. Đất đai ............................................................................................................. 33
3.2. Về Kinh tế - Xã hội ............................................................................................ 34
3.2.1. Dân số ...............................................................................................................34
3.2.2. Lao động, việc làm, mức sống dân cƣ ............................................................34
3.2.3. Mức thu nhập bình quân đầu ngƣời ................................................................35
3.2.4. Cơ sở hạ tầng ...................................................................................................35
3.3. Hiện trạng tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu ................................................37
Chƣơng 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .......................................................................39

5.1. Kết luận ..............................................................................................................78
5.2. Tồn tại và kiến nghị............................................................................................79
5.2.1. Tồn tại .............................................................................................................79
5.2.2. Kiến nghị .........................................................................................................80


vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1: Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền từ năm 2012-2016 ...................42

Bảng 4.2: Thống kê tình hình vi phạm lâm luật trên địa bàn .......................... 44
Bảng 4.3: Thống kê công trình, dụng cụ phục vụ công tác BVR .................... 47
Bảng 4.4: Nguy cơ và thách thức trong BVR trên địa bàn .............................. 50
Bảng 4.5: Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng ........... 52
Bảng 4.6: Kết quả phân tích ảnh hƣờng và tỷ lệ trung binh % của các nguồn
thu nhập đối với tổng thu nhập của các hộ gia đình ........................................ 54
Biểu đồ 4.1: Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình ngƣời Thái ........................ 56
Biểu đồ 4.2: Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình ngƣời Kinh, Mƣờng ......... 56
Bảng 4.7: Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của
cộng đồng thôn, bản trong công tác BVR ........................................................ 57
Bảng 4.8: Mối quan tâm đến tài nguyên rừng và vai trò bảo vệ rừng trên cơ sở
cộng đồng của các bên liên quan...................................................................... 62


vii

DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1: Mô hình tứ diện về phát triển kinh tế hộ và quản lý TNR ........................28
Hình 4.1: Tăng cƣờng công tác tuần tra bảo vệ rừng, PCCCR ở Thạch Thành ....... 46

dựa vào Hạt Kiểm lâm Thạch Thành, chủ rừng nhà nƣớc và Vƣờn quốc gia Cúc Phƣơng,
trong đó Hạt Kiểm lâm huyện đóng vai trò quan trọng.


2

Bên cạnh những nỗ lực để nâng cao diện tích rừng trồng, tăng cƣờng công
tác quản lý bảo vệ rừng tự nhiên hiện có của huyện Thạch Thành, tình trạng vi
phạm luật bảo vệ rừng và phát triển rừng vẫn và đang xẩy ra dƣới nhiều hình thức
khác nhau và ngày tinh vi hơn. Điều này khẳng định việc tìm hiểu vấn đề và nâng
cao hiệu quả công tác quản lý bảo vệ rừng trong cả nƣớc là điều rất quan trọng và
cấp bách hiện nay.
Xuất phát từ thực tế trên, trong khuôn khổ luận văn Thạc sỹ, tôi chọn đề tài
“Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng
tại huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá” nhằm góp phần bảo vệ hiệu quả hơn
diện tích rừng trên địa bàn và nâng cao chất lƣợng cuộc sống cho ngƣời dân trên địa
bàn huyện Thạch Thành.


3

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
Theo FAO, cộng đồng đƣợc định nghĩa nhƣ là “những ngƣời sống tại một
chỗ, trong một tổng thể hoặc là một nhóm ngƣời sinh sống tại cùng một nơi theo
những luật lệ chung” còn lâm nghiệp cộng đồng đƣợc định nghĩa là “Là bao gồm
bất kỳ tình huống nào mà ngƣời dân địa phƣơng tham gia vào hoạt động lâm
nghiệp”.
Hình thức quản lý rừng cộng đồng đã xuất hiện từ rất lâu trong quá trình sản
xuất nông lâm nghiệp của loài ngƣời. Tuy nhiên sự thống trị của chế độ thực dân

theo đó một số nhóm ngƣời nhất định sẽ nắm lấy một số quyền về đất và cây rừng
cùng với những sản phẩm của chúng. Trách nhiệm quản lý rừng đƣợc giao chung
cho một nhóm địa phƣơng. Nhƣ vậy, quản lý rừng tập thể cở sở dựa trên sở hữu
công cộng hoặc quyền lợi đƣợc giao cho những tổ chức chung, thƣờng gắn với
những nhóm nhỏ nhƣ thôn bản hoặc dòng họ [23,T28]. Quản lý rừng cộng đồng ở
Châu Á thƣờng đƣợc quan tâm chú ý ở một số nƣớc nhƣ:
- Tại Nepan việc quản lý và bảo vệ rừng cộng đồng trong đó có rừng và các
tài sản khác thƣờng gắn với các thôn bản nhỏ và hiu quạnh. Khi tìm hiểu tính chất
của việc quản lý tài nguyên rừng ở cấp thôn bản thì thấy chúng đều có những nét
chung và chúng thƣờng có hiệu lực, đặc biệt là về mặt bảo vệ. Các chỉ tiêu về quy
chế tổ chức, phần nào dựa trên sự thống nhất ý kiến của những ngƣời sử dụng là
phần quan trọng nhất của tất cả những hệ thống quản lý rừng bản địa. Và những hệ
thống quản lý rừng bản địa này chỉ mới đƣợc xây dựng từ năm 1950. Từ năm đó tới
nay Chính phủ Nepan đã có một thay đổi mạnh mẽ về thái độ đối với rừng vùng
đồi, đây là một sự chuyển biến sâu sắc do nạn tàn phá rừng ngày càng rõ nét và ảnh
hƣởng của nó tới đời sống nông thôn ngày nay. Đầu tiên là việc thi hành luật bảo vệ
phát triển rừng thông qua hệ thống pháp luật của chính phủ, nhƣng việc đó đã thất
bại. Sau đó đã có nhiều thay đổi về chính sách, luật lệ chuyển việc quản lý rừng cho
chính những ngƣời sử dụng chúng ở thôn bản.
Arnold (1986) [23] đã trình bày những tiến bộ mà chính phủ Nepan đạt đƣợc
khi tổ chức lâm nghiệp cộng đồng tại vùng đồi của Nepan thông qua dự án phát
triển lâm nghiệp cộng đồng qua báo cáo “Quản lý tập thể rừng vùng đồi ở Nepan:
Dự án phát triển lâm nghiệp cộng đồng” Mục tiêu của dự án này là tăng thêm nguồn


5

cung cấp củi, thức ăn gia súc, cỏ và gỗ thông qua việc trao trách nhiệm rộng hơn về
quản lý và bảo vệ rừng cho các cộng đồng địa phƣơng. Tài liệu này có nói tới một
sáng kiến của Nepan đã đƣa ra một khuôn khổ có khả năng vận dụng đƣợc để phát


triển lâm nghiệp cộng đồng và nó có thể trở lên dễ dàng bằng cách thu hút các nhóm
ngƣời dân đó vào việc lập kế hoạch phát triển địa phƣơng. Tiêu chuẩn chính cho sự
thành công của dự án lâm nghiệp cộng đồng đó chính là việc quan tâm đến sự thích
nghi một hệ thống quản lý cộng đồng với các điều kiện và nhu cầu của ngƣời dân
địa phƣơng.
Tại Ấn độ, mặc dù quá trình hiện đại hóa mang lại nhiều lợi ích cho những
thôn bản nằm xung quanh trung tâm chính trị Delhi thì nó cũng đã mang lại một sự
bùng nổ về dân số, làm đảo lộn cân bằng tài nguyên và cũng dẫn tới sự tan rã của
các tổ chức cổ truyền nhƣ các cộng đồng thôn bản. Ngày càng có sự chuyển mạnh
đất công từ sở hữu cộng đồng sang các phƣơng thức sử dụng tƣ và cả sự chuyển thể
đất công từ đất trồng trọt và chăn nuôi sang các phƣơng thức sử dụng khác. Kết quả
là diện tích đất hoang hóa ngày một gia tăng. Trong thế kỷ 19, có tới 2/3 đất đai Ấn
độ đều đặt dƣới sự kiểm tra của cộng đồng nhƣng quá trình tƣ nhân hóa và nhà
nƣớc sung công đã làm giảm tỷ lệ đó. Nhiều hình thức bản địa và cổ truyền của
phƣơng thức quản lý tài nguyên sở hữu công cộng đã bị suy yếu và tan rã, tuy nhiên
chúng vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong các hệ thống nông nghiệp và trong
đời sống của dân nghèo. Do đó, để tiến tới việc quản lý tài nguyên sở hữu công
cộng bền vững chính phủ Ấn độ cần dành ƣu tiên cao cho việc sửa đổi chính sách
và các sự yếu kém, sai sót của các luật lệ hiện hành cũng nhƣ hạn chế việc khuyến
khích tiếp tục tƣ nhân hóa. Vào đầu những năm 1970, Chính phủ ban hành nhiều
chính sách nhằm khuyến khích phát triển lâm nghiệp làng bản để giảm sức ép đối
với việc tàn phá rừng. Trong khoảng 15 năm, Chính phủ đã đầu tƣ khoảng 400 triệu
USD cho chƣơng trình này. Các vƣờn ƣơm đƣợc thiết lập với sự tham gia của ngƣời
dân. [23, T78, T57]
Tại bang Tây Bengal, quản lý rừng cộng đồng đóng một vai trò quan trọng
trong đời sống của những ngƣời dân nghèo vùng nông thôn, lâm nghiệp cộng đồng
đã ra đời từ những năm cuối của thập kỷ 90. Trên đất lâm nghiệp, Chính phủ và
cộng đồng địa phƣơng cùng quản lý các nguồn tài nguyên, sau đó các sản phẩm gỗ
sẽ đƣợc chia theo một tỷ lệ hợp lý, còn các sản phẩm phụ đƣợc giao cho cộng đồng

nông dân tại Himalaya) cách đây trên một trăm năm, tại vùng đồi Himalaya phong
trào quần chúng “ôm giữ lấy cây” (chipko) nhƣ là một cố gắng nổi bật của ngƣời
dân địa phƣơng để cứu vãn tài nguyên rừng đang bị suy sụp và chống lại chính sách


8

của Chính phủ đã cho phép những ngƣời ngoài cuộc tới chặt hạ cây cối theo mục
đích thƣơng mại của họ.
Theo Basu, N.G (1987) [23] đề nghị chính phủ cần có một chính sách lâm
nghiệp mới cùng với một cách nhìn mới để ngăn chặn quá trình phát triển đồi trọc
và để lôi cuốn nhân dân tham gia vào phong trào tái sinh rừng.
Việc phát triển cơ sở hạ tầng nhƣ mạng lƣới đƣờng giao thông đã là một cơ
hội mở rộng thị trƣờng tiêu thụ cho một số sản phẩm của các nguồn tài nguyên tự
nhiên. Cho dù đó là một sự phát triển lành mạnh, nhƣng nó cũng đã tạo nên một sự
tăng trƣởng quá nhanh về mức độ khai thác tài nguyên. Sự gia tăng dân số đã làm
tăng áp lực đến đất đai hiện có làm cho diện tích đất có rừng giảm sút. Hơn nữa,
việc sử dụng quá mức, khai thác đất một cách lạm dụng cũng đã dẫn tới sự thoái
hóa về chất lƣợng đất. Kết quả là các diện tích rừng cộng đồng bị thu hẹp và không
có cơ chế quản lý hợp lý, đất đai bị thoái hóa nghiêm trọng ở các vùng đất rừng
cộng đồng nông thôn trong khi đó vai trò của rừng cộng đồng đối với đời sống của
ngƣời dân nghèo vùng nông thôn chiếm một vị trí quan trọng.
Khái niệm lâm nghiệp cộng đồng đƣợc xuất hiện đầu tiên tại nƣớc này vào
những năm 70 của thế kỷ 20. Các chƣơng trình lâm nghiệp xã hội ở Ấn độ đã đạt
đƣợc một ý nghĩa lớn trong việc phát triển nông thôn, Chƣơng trình nhằm mục đích
xây dựng nhiều rừng trồng trên “đất hoang hóa” tƣ nhân, công cộng hoặc nhà nƣớc
ở các vùng nông thôn. Tài nguyên rừng công cộng là tài nguyên rừng đƣợc các
thành việc cộng đồng sử dụng chung, không phải trả lệ phí sử dụng, không ai có
quyền sở hữu cá nhân hoàn toàn về chúng, có vai trò trực tiếp hoặc gián tiếp tới việc
nâng cao và ổn định lợi tức, công ăn việc làm và sự sinh tồn của cộng đồng làng

đất đai. Những biện pháp đó đều dựa trên bộ luật Adat và sau đó đƣợc luật lệ nhà
nƣớc củng cố để thi hành tại 64 thôn bản của huyện. Chúng gồm có nghĩa vụ trồng
các hàng cây Keo dậu (Leucaena leucocephala) theo các đƣờng đồng mức trên các
lô nƣơng rẫy trƣớc khi bỏ hóa, và một phần sử dụng đất tách rời các khu canh tác
với các khu lâm súc dành cho chăn thả. [23, T83]
Mặc dù, thành công của các hệ quản lý tập thể đƣợc đảm bảo tốt nhất với
những nhóm nhỏ, các ví dụ nêu trên cho biết rằng quản lý rừng cộng đồng cũng đã
phát triển tại các cộng đồng lớn hơn. Tuy nhiên, việc đó cũng đòi hỏi phải tăng
cƣờng xác định chính xác và thực hiện các thủ tục dành cho việc kiểm tra theo dõi


10

và thi hành luật lệ đề ra. Năm 1991, chƣơng trình phát triển làng lâm nghiệp đƣợc
hình thành và đến năm 1995 đƣợc đổi tên thành chƣơng trình phát triển cộng đồng
làng lâm nghiệp do Bộ lâm nghiệp Inđonesia quản lý. Trong nội dung của chƣơng
trình này đã yêu cầu các công ty khai thác gỗ phải góp phần phát triển nông thôn và
bảo vệ rừng với ba mục tiêu chính là: Cải thiện điều kiện sống cho ngƣời dân sống
ở trong và ngoài khu vực canh tác gỗ, nâng cao chất lƣợng và năng suất của rừng và
bảo vệ rừng và môi trƣờng sinh thái.
Tại miền núi ở Nam Á thƣờng có một mắt xích chặt chẽ theo cổ truyền giữa
đất nông nghiệp tƣ và rừng. Rừng cung cấp những vật tƣ quan trọng cho toàn bộ
việc kinh doanh trang trại nhƣ phân xanh, năng lƣợng củi đun nấu, sƣởi ấm và cho
cả việc xây dựng nhà cửa, chuồng trại dƣới dạng gỗ xây dựng và nhà cột.
Rừng cũng là đất đai chăn thả và cung cấp thức ăn gia súc cho toàn bộ vật
nuôi của nông dân trong đó có trâu, bò, dê, cừu là thành phần quan trọng của hệ
canh tác địa phƣơng. Mối quan hệ khăng khít giữa con ngƣời, đất đai, gia súc với
rừng trong đó nội bộ các hệ canh tác sinh tồn đã dẫn tới một loạt tổ chức địa
phƣơng nhằm quản lý rừng công cộng trên phần đất lớn của lục địa này. Các
phƣơng thức quản lý rừng không chỉ hƣớng về việc thu lƣợm các sản vật của gỗ mà

Rừng rõ ràng có tầm quan trọng về kinh tế, sinh thái và xã hội trong việc
phát triển đất nƣớc. Thế nhƣng ở các nƣớc Châu Mỹ La Tinh, ngƣời ta đã lơi là các
hoạt động lâm nghiệp và những hoạt động dựa vào tài nguyên rừng trong các kế
hoạch phát triển của họ. Với tốc độ tàn phá rừng rất nhanh tại Châu Mỹ La Tinh
diện tích rừng đã giảm xuống nhanh chóng kéo theo hàng loạt những vấn đề khó
khăn nhƣ: Xói mòn đất, nguồn nƣớc cạn kiệt, sự tuyệt chủng và biến mất của một số
loài động thực vật. Cùng với đó là hiện tƣợng trái đất nóng lên và việc thất thiệt tài
nguyên di truyền. Để ngăn chặn và giải quyết hậu quả của nạn phá rừng, các quốc
gia ở Châu Mỹ La Tinh đã thực hiện theo hai hƣớng: Một là nhà nƣớc nắm lấy
quyền quản lý rừng, hai là trao trách nhiệm quản lý vào tay những ngƣời sử dụng,
theo tập thể và theo cá nhân và kết quả là việc gắn các nhóm cộng đồng vào các
chƣơng trình tự quản để tự họ tạo nên khả năng sử dụng rừng lâu dài và góp phần
vào việc chấn chỉnh lại những tổn thất về môi trƣờng và xã hội mà việc khai thác
rừng hàng loạt đã gây ra đã đạt đƣợc những hiệu quả đáng kể.


12

Đối với các nhóm bản địa và tộc ngƣời Mestizo ở Châu Mỹ La Tinh, rừng
theo cổ truyền xa xƣa là nơi ngƣời dân có thể đi săn bắt động vật và côn trùng đồng
thời thu hái các loài cây và nhiều sản phẩm vô cơ khác. Cây rừng đƣợc sử dụng làm
vật liệu xây dựng, cung cấp dƣợc liệu, lƣơng thực thực phẩm, hƣơng liệu, các chất
nhuộm, gôm và nhựa. Côn trùng đƣợc săn bắt nhƣ là nguồn chất đạm (protein) và
cũng đƣợc dùng để khống chế các nạn dịch côn trùng. Quyền đƣợc hƣởng thụ các
tài nguyên rừng cho phép ngƣời dân bản địa phát triển nhiều phƣơng pháp tạo ra
đƣợc nguồn lợi tức, làm giảm sự lệ thuộc của họ vào các chƣơng trình hỗ trợ của
nhà nƣớc. [23, T199]
Hecht, S.B và Cockburn,A (1989, the fate of forest, số phận của rừng) đã
chỉ rõ ra rằng, phần lớn rừng Amazon là sản phẩm do các hoạt động của con ngƣời,
con ngƣời tác động vào các môi trƣờng rừng để phục vụ cho mục đích của mình.

đƣợc phát triển, chƣơng trình này nhằm vào việc quản lý tài nguyên rừng đặc biệt là
rừng đầu nguồn với mục tiêu là tạo ra nguồn công ăn việc làm và lợi tức bằng tiền
cho các thành viên cộng đồng đồng thời bảo tồn các rừng tự nhiên của cộng đồng
đƣợc quản lý. [23, T211]
Tại Braxin, việc nghiên cứu nhóm ngƣời Indieng Kapor tại miền đông
Amazon, Braxin đã chứng minh rằng các nhóm bản địa đã xử lý hệ động thực vật và
cuối cùng đã làm tăng đƣợc tính đa dạng sinh học. Điều đó góp phần vào việc duy
trì và nâng cao khả năng cung ứng của rừng cho con ngƣời trong thời gian dài. [23,
T226]
Tại Mexico sự tham gia của nông dân vào việc quản lý, bảo vệ và nâng cao
tài nguyên rừng đƣợc thực hiện của một chính sách có tên là “Kinh tế lâm nghiệp
thôn xã” đã cho thấy sự tham gia trực tiếp của ngƣời dân địa phƣơng đã là chìa khóa
cho sự thành công của các chƣơng trình mong muốn phát triển tài nguyên rừng cộng
đồng. [23, T238]
Nhìn chung tại châu lục này đã và đang song song tồn tại hai hệ thống quản
lý rừng đó là hệ thống quản lý rừng địa phƣơng, đƣợc tồn tại và duy trì do sự tích
lũy kiến thức bản địa của ngƣời dân trong việc xây dựng các thành phần trong hệ
thống đó và hệ thống quản lý rừng gắn với bên ngoài, hệ thống này thƣờng gắn liền
với sự hỗ trợ về khoa học và tài chính từ bên ngoài cộng đồng với mục tiêu cuối


14

cùng là nhằm vào các hệ sinh thái và thúc đẩy ngƣời dân trong cộng đồng tham gia
vào các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng. Sự cạnh tranh về mặt hƣởng những lợi
ích từ rừng của những ngƣời dân trong cộng đồng với Nhà nƣớc và các tổ chức bên
ngoài ở Châu lục này đã ít gay gắt hơn và bắt đầu bƣớc sang giai đoạn hợp tác cùng
phát triển. Các chƣơng trình thƣờng chú trọng việc tham khảo và sử dụng những ý
kiến ngƣời dân ở tại cộng đồng trong việc bảo vệ và phát triển rừng
1.2. Ở Việt Nam

rừng Nhà nƣớc, hình thức quản lý bảo vệ rừng tƣ nhân, do đó việc đánh giá hiệu
quả của hình thức này chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát, mang tính định
tính. Tuy chƣa có thống kê chi tiết, nhƣng ở những nơi cộng đồng thực sự tham gia
vào quản lý bảo vệ rừng thì công tác quản lý bảo vệ rừng có hiệu quả rõ nét, các
hành vi xâm hại tài nguyên rừng bị phát hiện và ngăn chặn kịp thời, rừng ngày càng
sinh trƣởng phát triển tốt. Thực tiễn cho thấy rằng, quản lý bảo vệ rừng có sự tham
gia của cộng đồng dân cƣ thôn, bản là hình thức quản lý bảo vệ rừng có tính khả thi
về kinh tế - xã hội, bền vững về sinh thái môi trƣờng và tiết kiệm chi phí cho Nhà
nƣớc.
Để trao quyền quản lý bảo vệ rừng cho các cộng đồng Nhà nƣớc đã thực hiện
chính sách giao đất, giao rừng. Đây là một trong những chính sách lớn tạo môi
trƣờng thuận lợi cho quản lý bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng ở Việt Nam. Chủ
trƣơng giao đất, khoán rừng đã đƣợc Đảng và Nhà nƣớc ta đề ra và thực hiện từ
năm 1968, qua mỗi giai đoạn phát triển, Nhà nƣớc lại có những điều chỉnh, bổ xung
kịp thời cho phù hợp với thực tế.
Nhìn chung kết quả giao đất lâm nghiệp, giao rừng đã làm cho rừng có chủ
thực sự, tạo ra nhiều hình thức sở hữu rừng, tạo điều kiện khai thác tiềm năng đất
đai, lao động, tiền vốn tại chỗ. Công tác giao rừng cho cộng đồng dân cƣ quản lý
bảo vệ đều đạt hiệu quả cao, diện tích rừng đƣợc giao đều đƣợc quản lý tốt, các hiện
tƣợng xâm hại tài nguyên rừng giảm mạnh, ý thức quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
của cộng đồng dân cƣ đƣợc nâng cao. Thông qua việc tổ chức quản lý bảo vệ rừng,
mối quan hệ xã hội trong cộng đồng và giữa cộng đồng với các cơ quan liên quan
đến quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn cũng đƣợc nâng cao, tạo điều kiện thuận lợi
cho công tác quản lý bảo vệ và phát triển rừng. Đối với nhà nƣớc, hình thức quản lý
bảo vệ rừng này đáp ứng đƣợc các mục tiêu về chính sách lâm nghiệp, đối với các


16

chƣơng trình lâm nghiệp nói chung, chƣơng trình 5 triệu ha rừng nói riêng, có tác

17

giải pháp chiến lƣợc thực thi có hiệu quả mục tiêu phát triển ngành lâm nghiệp
trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Dự án "Phát triển lâm nghiệp xã hội Sông đà" bắt đầu vào năm 1993, dự án
này đã chú ý làm việc với "nhóm sử dụng rừng" hơn là với các đơn vị hành chính
lâm nghiệp. Dự án đã tiến hành những thu xếp về tổ chức khi thực hiện quy hoạch
sử dụng đất và giao đất có ngƣời dân tham gia, sau đó tiến hành lập những "nhóm
bảo vệ rừng" và hỗ trợ dân bản xây dựng những qui chế bảo vệ rừng. Những quy
chế này dựa vào việc quản lý, bảo vệ rừng của cộng đồng để nâng cao sự tự giác
của dân bản và tăng cƣờng sự kiểm soát của dân bản, tránh sự phá hoại rừng của
những bản lân cận. Củng cố tổ chức cấp thôn bản và xã là việc làm cần thiết tiếp
theo. Những Ban quản lý thôn bản mà ít nhất có một thành viên chịu trách nhiệm về
lâm nghiệp trong bản đƣợc thiết lập khi tiến hành lập kế hoạch phát triển thôn bản
hàng năm. Trong quá trình xây dựng kế hoạch dự án sử dụng 4 tiêu chí chính để
giới thiệu và tăng cƣờng thực thi quản lý lâm nghiệp cộng đồng, đó là: Quyền sử
dụng, nghiên cứu địa phƣơng, khả năng của cộng đồng và điều kiện địa lý khu vực.
Vũ Hoài Minh và Haws Warfvinge (2002) đã tiến hành đánh giá về thực
trạng quản lý, BVR tự nhiên của các hộ gia đình và cộng đồng địa phƣơng tại 3
tỉnh: Hoà Bình, Nghệ An và Thừa Thiên Huế. Các tác giả đã tìm hiểu về sự hình
thành, các lợi ích đạt đƣợc và những vấn đề về hƣởng lợi, quyền sử dụng và các
chính sách liên quan đến hình thức quản lý, BVR này. Trong 5 mô hình quản lý,
BVR cộng đồng có 4 hình thức là tự phát của cộng đồng địa phƣơng và đƣợc chính
quyền địa phƣơng chấp thuận. Họ tự đề ra các qui định về quản lý, sử dụng lâm sản
cũng nhƣ các hoạt động BVR, phát triển rừng. Các kết quả nghiên cứu, kinh nghiệm
quản lý rừng cộng đồng qua các cuộc hội thảo quốc gia về lâm nghiệp công đồng.
Đến nay đã có 3 cuộc hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng.
Hội thảo quốc gia về LNCĐ lần đầu tiên đƣợc tổ chức tại Hà Nội trong 2
ngày 01 và 02/6/2000. Hội thảo đã thu hút sự tham gia của gần 60 đại biểu đại diện
cho các cơ quan Nhà nƣớc cấp Trung ƣơng và cấp tỉnh, các Viện nghiên cứu,

thống quản lý tài nguyên rừng ở Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn một số những vƣớng
mắc trong khuôn khổ chính sách hƣởng lợi từ rừng khi tham gia bảo vệ và phát triển
rừng nhƣ: không quy định cộng đồng dân cƣ thôn bản là đối tƣợng của chính sách
này. Sự vận dụng các chính sách của nhà nƣớc và địa phƣơng đã có tính sáng tạo,



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status