ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BẠC CẦM THỊ XIÊNG
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THÂN, LÁ, CỦ SẮN Ủ CHUA
LÀM THỨC ĂN CHO BÒ THỊT TRONG MÙA ĐÔNG
TẠI HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BẠC CẦM THỊ XIÊNG
NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG THÂN, LÁ, CỦ SẮN Ủ CHUA
LÀM THỨC ĂN CHO BÒ THỊT TRONG MÙA ĐÔNG TẠI
HUYỆN PHÙ YÊN, TỈNH SƠN LA
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học:
PGS. TS. NGUYỄN HƯNG QUANG
THÁI NGUYÊN - 2017
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Các số
liệu công bố trong luận văn là trung thực, chính xác và có trích dẫn rõ ràng. Tác giả
chịu trách nhiệm hoàn toàn về nội dung và các số liệu đã công bố trong luận văn này.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu và
hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn đầy đủ.
Thái Nguyên, ngày
tháng
năm 2017
Học viên
Bạc Cầm Thị Xiêng
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. i
LỜI NÓI ĐẦU ........................................................................................................... ii
MỤC LỤC ................................................................................................................. iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT .................................................................................... vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU ..................................................................................... vii
DANH MỤC HÌNH ẢNH ...................................................................................... viii
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài .......................................................................................1
2. Mục tiêu của đề tài..............................................................................................2
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ................................................3
3.1. Ý nghĩa khoa học ..........................................................................................3
2.3.2. Phương pháp ủ chua thức ăn ....................................................................27
2.3.3. Phương pháp đánh giá khả năng tiêu hóa invitro gasproduction .............27
2.3.3. Phương pháp lấy mẫu và phân tích mẫu ..................................................28
2.3.4. Thí nghiệm đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn trên bò thịt.....................29
2.4. Các chỉ tiêu theo dõi .......................................................................................31
2.5. Xử lý số liệu....................................................................................................31
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ......................................32
3.1. Thực trạng diện tích, sản lượng một số giống sắn trồng phổ biến ở huyện Phù
Yên, Tỉnh Sơn La...................................................................................................32
3.2. Kết quả khảo sát năng suất, sản lượng sắn KM94 trên địa bàn huyện Phù
Yên, Tỉnh Sơn La...................................................................................................33
3.3. Kết quả xác định pH, HCN của các công thức ủ chua ...................................35
3.3.1. Giá trị pH của thức ăn ủ chua...................................................................35
3.3.2. Hàm lượng HCN của thức ăn ủ chua .......................................................37
3.4. Thành phần hóa học của các loại thức ăn .......................................................39
3.4. Đánh giá khả năng tiêu hóa invitro gasproduction của thức ăn ủ chua ..........40
3.4.1. Động thái sinh khí invitro của các thức ăn ủ chua ...................................40
3.4.2. Đặc điểm sinh khí của các thức ăn ủ chua ...............................................42
3.4.3. Ước tính tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và năng lượng trao đổi.....................44
3.5. Ảnh hưởng sử dụng thức ăn ủ chua đến sinh trưởng của bò thí nghiệm ........45
3.5.1. Sinh trưởng tích lũy của bò thí nghiệm ....................................................45
3.5.2. Sinh trưởng tuyệt đối của bò thí nghiệm ..................................................47
3.5.3. Sinh trưởng tương đối của bò thí nghiệm ................................................48
3.6. Đánh giá hiệu quả sử dụng thức ăn của bò thí nghiệm...................................50
3.6.1. Tiêu thụ thức ăn của bò thí nghiệm..........................................................50
3.6.2. Tiêu tốn thức ăn của bò thí nghiệm..........................................................52
3.6.3. Tiêu tốn vật chất khô của bò thí nghiệm ..................................................53
3.7. Hiệu quả kinh tế khi vỗ béo bò .......................................................................54
Xơ thô (Crude fiber)
CP
Protein thô (Crude protein)
cs
Cộng sự
CT
Công thức
DM
Vật chất khô (Dry master)
EE
Chất béo thô (Ether extract)
Kg
Kilogram
Mean
Trung bình cộng
Thức ăn
TL
Tỷ lệ
TN
Thí nghiệm
TT
Tăng trọng
tr.
Trang
VSV
Vi sinh vật
VK
Vi khuẩn
vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Hình 3.3: Đồ thị động thái sinh khí invitro gas production của thức ăn ủ chua .......41
Hình 3.4: Biểu đồ sinh trưởng tích lũy của bò thí nghiệm ........................................46
Hình 3.5: Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của bò thí nghiệm ........................................48
Hình 3.6: Đồ thị sinh trưởng tương đối của bò thí nghiệm .......................................50
Hình 3.7: Biểu đồ so sánh hiệu quả kinh tế từ chăn nuôi bò thịt ..............................56
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bò là một trong những đối tượng vật nuôi có vị trí và vai trò rất quan trọng
trong ngành chăn nuôi nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung của hầu hết các
quốc gia trên thế giới. Chúng là loài vật nuôi phổ biến và mang lại nhiều lợi ích cho
con người vì chúng cung cấp một nguồn thực phẩm lớn, có giá trị dinh dưỡng cao,
đồng thời bò còn là một nguồn sức kéo quan trọng phục vụ cho sản xuất nông
nghiệp. Tại Việt Nam, từ năm 1990 đến nay, đàn bò phát triển nhanh với tốc độ
tăng đàn hàng năm trên 4%. Miền Bắc có Đồng Bằng Sông Hồng và miền Nam có
Đông Nam Bộ là hai vùng có tốc độ phát triển đàn bò nhanh nhất, số lượng đàn bò
cả nước là 5,23 triệu con (2014) và đạt 5,5 triệu con (tháng 1/2016) (Tổng cục thống
kê, 2016)[39], hình thức chăn nuôi bò đang dần chuyển từ quản canh sang sản xuất
hàng hóa có giá trị kinh tế cao
Nguồn thức ăn cho bò chủ yếu là thức ăn thô xanh, có nguồn gốc từ thực vật,
với thành phần chủ yếu là chất xơ. Do đặc thù của hệ thống tiêu hóa trâu bò có hệ vi
sinh vật cộng sinh trong dạ cỏ, chúng có thể chuyển hóa các chất xơ có ít giá trị dinh
dưỡng thành những chất có giá trị dinh dưỡng cao đối với trâu bò (Vũ Duy Giảng và
cs, 1999)[12]. Nguồn thức ăn chủ yếu dựa vào đồng cỏ tự nhiên và cỏ trồng, tuy
nhiên cùng với nhu cầu sản xuất lương thực, tốc độ đô thị hóa ngày càng cao làm cho
diện tích đồng cỏ tự nhiên, đất đai trồng cỏ và bãi chăn thả bò bị thu hẹp.
Phù Yên là một huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Sơn La, có diện tích tự
Yên, tỉnh Sơn La”
2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá năng suất, sản lượng thân, lá, củ sắn tươi đang trồng phổ biến trên
địa bàn huyện Phù Yên, Sơn La
- Đánh giá khả năng tiêu hóa Invitro của các công thức thức ăn ủ chua thân,
lá và củ sắn.
- Sử dụng thân, lá, củ sắn ủ chua làm thức ăn cho bò thịt trong thời điểm
khan hiếm thức ăn, mùa đông giá rét.
3
3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Đề tài cung cấp thông tin cần thiết về tiềm năng cây sắn, tỷ lệ tiêu hoá in
vitro của thức ăn chế biến thân, lá, củ sắn sắn tươi ủ chua
- Thức ăn sử dụng trong thí nghiệm sẵn có, dễ áp dụng tại địa phương, thông
qua đó giúp cho người chăn nuôi biết cách chế biến thân, lá, củ sắn tươi bổ sung
trong khẩu phần nuôi bò vỗ béo trong mùa đông giá rét khan hiếm thiếu thức ăn,
nhằm tận dụng phụ phẩm và đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi.
- Đề xuất áp dụng chế biến thức ăn ủ chua từ thân, lá, củ sắn tươi bổ sung
nuôi bò vỗ béo cho bò phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật. Từ đó tuyên truyền,
phổ biến và chuyển giao quy trình kỹ thuật rộng rãi trên địa bàn.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp và củng cố những minh chứng
về về sử dụng thân lá, củ sắn tươi, phương pháp ủ chua thức ăn làm thức ăn cho bò,
đồng thời góp phần khuyến cáo cho những hộ gia đình chăn nuôi.
- Kết quả nghiên cứu góp phần đề xuất giải pháp bảo quản và sử dụng hiệu
quả nguồn thức ăn tại chỗ phục vụ chăn nuôi trâu bò trong giai đoạn khan hiếm thức
ăn, góp phần nâng cao hiệu quả cho người chăn nuôi.
các điều kiện thuận lợi cho hoạt động của quần thể VSV yếm khí như:
5
- Độ pH gần như trung tính và tương đối ổn định nhờ tác dụng đệm của muối
phốt phát và bicacbonat của nước bọt.
- Nhiệt độ dạ cỏ khá ổn định, dao động trong khoảng 38-420C, không phụ
thuộc vào thức ăn.
- Môi trường dạ cỏ là môi trường yếm khí, nồng độ O2 thấp hơn 1%, nồng độ
CO2 cao lên tới 50-70% và phần còn lại là CH4.
- Độ ẩm trong dạ cỏ cao (khoảng 70-80%) và khá ổn định nhờ vào vai trò
điều hoà của nước bọt.
- Nhu động dạ cỏ yếu nên thức ăn lưu lại lâu.
- Nhóm vi khuẩn (VK) phân giải xơ (Cellulolytic bacteria): gồm VK phân
giải cellulose (Bacteroides succinogenes, Butyrivibrio fibrisolvens Ruminoccocus
flavefaciens, Ruminococcus albus, Cillobacterium cellulosesolvens) và VK phân
giải
hemicellulose
(Butyrivibrio
fibrisolvens,
Lachnospira
multiparus
và
fibrisolvens,Ruminoccocus filavefacciens, Ruminococus albus, Cillobacterium
celluloslvens…
Vi khuẩn phân giải Hemicellulose: gồm những loài chính như Butyrivibrio
fibrisolvens, Lachnospora multiparus, Bacteroides ruminicola.
Vi khẩn phân giải tinh bột: Bacteroides amylophilus, Succinimonas
amylolytica, Butyrivibrio fibrisolbvens, Bacteroides ruminantium, Selenomonas
ruminantium, Steptococcus bovis.
Vi khuẩn phân giải đường: Hầu hết các vi khuẩn sử dụng được các loại
polysaccharid nói trên thì cũng sử dụng được đường disaccharid và đường
monosaccharid. Celobioza cũng có thể là nguồn năng lượng cung cấp cho nhóm vi
khuẩn này, vì chúng có men β- glucosidaza có thể thuỷ phân cellobioza.
Vi khuẩn phân giải protein: Trong số những loài vi khuẩn phân giải protein và
sinh amoniac (NH3) thì Peptostreptococus và Clostridium có khả năng lớn nhất. Sự
phân giải protein và axit amin để sản sinh ra amoniac trong dạ cỏ có ý nghĩa quan trọng
đặc biệt cả về phương diện tiết kiệm nitơ cũng như nguy cơ dư thừa amoniac. Amoniac
cần cho các loài vi khuẩn dạ cỏ để tổng hợp nên sinh khối protein của bản thân chúng,
đồng thời một số vi khuẩn đòi hỏi hay được kích thích bởi axit amin, peptit và isoaxit
có nguồn gốc từ valine, leucine và isoleucine. Như vậy cần phải có một lượng protein
được phân giải trong dạ cỏ để đáp ứng nhu cầu này của vi sinh vật dạ cỏ.
7
Vi khuẩn tạo mê tan: Nhóm VK này rất khó nuôi cấy trong ống nghiệm, cho
nên những thông tin về những chúng còn hạn chế. Các loài VK của nhóm này là
Methano baccterium, Methano ruminantium và Methano forminicum.
Vi khuẩn tổng hợp vitamin. Nhiều loài VK dạ cỏ có khả năng tổng hợp các
vitamin nhóm B và vitamin K.
*Nấm (Fungi):
Nấm trong dạ cả thuộc loại yến khí, bao gồm các loài: Neocallimastic
frontalis, Piramonas communis và Sphaeromonas communis, số lượng khoảng
1.1.4. Sinh trưởng của vi sinh vật dạ cỏ
Sản xuất các tế bào mới trong quá trình sinh trưởng của VSV dạ cỏ đòi hỏi
cần có các cơ chất, trước hết là các chất đơn giản và năng lượng (Adenosine
Trphosphate – ATP) (Tamminga, 1981)[93]. Các tiền chất cần thiết cho sự sinh
tổng hợp protein VSV được trình bày sau đây:
- Nhu cầu dinh dưỡng cho sự phát triển VSV: Việc tổng hợp protein của
VSV dạ cỏ được sử dụng nitơ từ nhiều nguồn, hầu hết được lấy từ amoniac. Những
nguồn nitơ khác bao gồn urê được tái sử dụng thông qua nước bọt và từ vách dạ dày
và nitơ nội sinh có nguồn gốc từ các tế bào biểu mô dạ cỏ bị bong (Orskov,
1994)[81]. Tuy nhiên, để tổng hợp protein, một số loài VK đòi hỏi phải có một
lượng nhỏ peptid và axit amin, các axit amin này được sử dụng để tạo ra các axit
béo mạch ngắn là các yếu tố điều khiển sinh trưởng của VSV.
Mức độ sinh trưởng của VSV phụ thuộc vào lượng ATP sẵn có bởi vì các
chức năng của tế bào và các hoạt động vận chuyển tích cực, duy trì độ pH, độ lệch
áp suất thẩm thấu, tất cả đều cần đến ATP (Preston and Leng, 1987)[83];
Tamminga, 1981)[93]
Các chất khoáng và vitamin cũng có vai trò quan trọng tác động tới sự sinh
trưởng và phát triển của VSV dạ cỏ. Lưu huỳnh cần cho sự tổng hợp methyonin và
cystin. Phốt pho đóng vai trò quan trọng trong việc tạo thành những phần thiết yếu
trong cấu trúc AND, ARN và các hoạt động vận chuyển năng lượng trong tế bào
(Orskov, 1994)[81]. Thiếu coban làm hạn chế sự sinh trưởng và hiệu suất sinh tổng
hợp của các VSV dạ cỏ, bởi vì các tế bào cần coban (Co) để tổng hợp vitamin B12
(Orskov, 1994)[81].
9
Hiệu suất sinh tổng hợp của VSV dạ cỏ chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao
gồm pH và tốc độ lưu chuyển của dịch dạ cỏ. Ngoài ra còn chịu ảnh hưởng của
nồng độ NH3 trong dạ cỏ, với nồng độ NH3: 50-80 mg/lít dịch dạ cỏ là nồng độ cần
thiết để hiệu xuất sinh tổng hợp của VSV sẽ được nâng cao (Leng, 1984)[77]. Như
Theo Hoàng Kim và Phạm Văn Biên (1995)[16], các giai đoạn sinh trưởng phát
triển của cây sắn gồm 4 giai đoạn như sau:
1.2.1.1. Thời kỳ mọc
Sau khi trồng 3-5 ngày rễ đầu tiên bắt đầu mọc và rễ tiếp tục mọc cho đến
ngày thứ 15. Từ ngày thứ 8-10 sau khi trồng hom sắn bắt đầu mọc mầm. Số mầm
thân ra nhiều hay ít phụ thuộc vào cách dặt hom và chất lượng hom (hom đặt ngang
ra nhiều thân hơn đặt đứng hoặc nghiêng). Thời kỳ hom ra rễ và mọc mầm thường
kéo dài khoảng 2-3 tuần.
1.2.1.2. Thời kỳ bén rễ và phát triển rễ
Đặc điểm chủ yếu của thời kỳ này là rễ phát triển nhanh và mạnh cả về số
lượng và chiều dài. Đầu tiên rễ mọc dài theo hướng nằm ngang (trung bình
25cm/tháng). Từ các rễ này mọc ra các rễ con và phát triển theo hướng đâm xiên
sâu vào đất. Thời kỳ này thân lá phát triển chậm, thân mầm sống chủ yếu nhờ chất
dự trữ trong hom. Khi chất dự trữ trong hom đã kiệt sẽ xuất hiện hiện tượng khủng
hoảng của thân, hiện tượng này đánh dấu kết thúc thời kỳ 2. Thời kỳ này kéo dài
khoảng 45-60 ngày và chịu sự chi phối sâu sắc của chất lượng hom.
1.2.1.3. Thời kỳ phát triển thân lá
Đặc điểm củ thời kỳ này là hệ rễ đã phát triển đầy đủ, cây chuyển sang phát triển
mạnh thân lá và kéo dài khoảng 45-60 ngày. Đặc trưng chủ yếu của thời kỳ này:
+ Tốc độ phát triển của thân mạnh, số lá tăng nhanh, rễ củ bắt đầu phát triển
(nhưng còn chậm), gặp điều kiện thuận lợi thân có thể vươn cao được 4cm/ngày.
+ Chỉ số diện tích lá đạt đến mức cao nhất, tối đa vào khoảng tháng thứ 6,
tháng thứ 4 chỉ số diện tích lá đạt khoảng lớn hơn 3. Số lá trung bình từ 10-20
lá/tháng; diện tích lá biến đổi động từ 50-400 cm2/lá (diện tích lá lớn hay bé còn
phụ thuộc vào giống). Thời kỳ này cũng là thời kỳ diện tích trung bình của lá đạt
cao nhất; tuổi thọ của lá thay đổi từ 40-140 ngày.
+ Sự phân cành của cây sắn cũng được phát triển trong thời kỳ này.
11
12
1.2.2. Thành phần hóa học và giá trị dinh dưỡng của củ sắn và lá sắn
Củ sắn và lá sắn là những loại nguyên liệu có giá trị dinh dưỡng cao đối với
con người và gia súc (CIAT, 1993) [59]. Sắn có thể sản xuất năng suất rất cao (20
tấn củ/ha/năm), đặc biệt là protein (4 tấn/ha/năm), năng suất lá sắn (8 tấn/ha/năm)
điều này làm cây sắn trở thành lý tưởng để tận dụng chất dinh dưỡng trong đất
(Preston, 2001) [84].
Củ sắn có giá trị dinh dưỡng cao, tỷ lệ vật chất khô (DM) 27,70%; protein thô
(CP) 0,9%; lipid thô (EE) 0,4%; xơ thô (CF) 1%; dẫn xuất không đạm (NFE) 24,7%;
khoáng tổng số (Ash) 0,7%; canxi (Ca) 0,05%; photpho (P) 0,04%; và năng lượng trao
đổi (ME) 968 Kcal/kg (Viện chăn nuôi, 2001) [50]. Sắn sử dụng trong chăn nuôi ở
dạng cho ăn tươi, sắn phơi khô, bã sắn, bột lá sắn và sử dụng để ủ chua. Bột củ sắn là
nguồn thức ăn giàu năng lượng, tính toán cho thấy ME có từ 3000 - 3100 Kcal/kg,
nhưng nghèo protein, axit amin (methinone, tryptophan), khoáng và vitamin.
Lá sắn lại là nguồn protein lý tưởng sử dụng làm nguồn thức ăn giàu đạm
cho vật nuôi. Theo Hội chăn nuôi (2003) [15] bình quân trong bột lá sắn có chứa
21% protein thô (16,7 - 39,9%). Hàm lượng protein biến động tùy theo giống sắn,
tuổi thu hoạch, độ phì nhiêu của đất trồng và khí hậu vùng canh tác. Thành phần
hóa học của bột lá sắn như sau: vật chất khô 93%; protein thô 16% (16,7 - 39,9%);
lipit 5,5% (3,8 - 10,5%); xơ thô 20% (4,8 - 29%); khoáng tổng số 8,5% (5,7 12,5%); Ca (canxi) 1,45%; P (photpho) 0,45%; Zn (kẽm) 149 mg/Kg; Mn (mangan)
52 mg/Kg; Fe (sắt) 259 mg/Kg; và Cu (đồng) 12 mg/Kg. Trong lá sắn giàu vitamin
C và A có hàm lượng riboflavin đáng kể, giàu lysine, thiếu methionine. Theo Phuc
and Lindberg (2001) [82] phân tích trong lá sắn có đầy đủ các axit amin thiết yếu; lá
sắn phơi khô và lá sắn ủ chua không có sự chênh lệch đáng kể về tỷ lệ protein thô
và tỷ lệ các axit amin.
Thân sắn chứa nhiều chất xơ, thời điểm thu hoạch một phần thân đã bị gỗ
hóa. Mục đích chính dùng thân sắn sau thu hoạch là dùng để làm giống, nguyên liệu
cho công nghiệp xenlulô, làm nấm, làm củi đun. Tuy nhiên có thể tận dụng phần
thiếu oxy máu tĩnh mạch có màu đỏ thẫm, con vật có biểu hiện ngạt thở. Trong trường
hợp ngộ độc cấp tính, con vật có thể chết trong vòng vài giây. Trường hợp không quá
cấp tính, nước bọt tiết mạnh, chuyển động giật lùi, có hiện tượng rối loạn hô hấp; 15 60 phút sau con vật có thể chết (Hội chăn nuôi, 2003) [15].
14
Dựa vào hàm lượng HCN trong củ sắn người ta chia ra: Giống sắn ngọt có chứa
khoảng 20 - 30 mg/Kg củ tươi; giống sắn đắng có tới 60 - 150 mg/Kg củ tươi (Mai
Thạch Hoành, 2004) [13]. Theo Hội chăn nuôi Việt Nam, (2003) [15] phân loại sắn đắng
có hàm lượng độc tố trên 0,02%; sắn ngọt có hàm lượng độc tố thấp hơn 0,01%.
Độc tố HCN là chất dễ bay hơi, dễ hòa tan trong nước và có thể bị oxy hóa thành
axit cyanic không độc, hoặc có thể hòa tan kết hợp với đường tạo thành chất không độc.
Rất nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng nồng độ HCN trong lá có thể được giảm đi
đáng kể bằng phương pháp bóc vỏ, nấu chín, phơi khô và ủ chua (Bui Van Chinh and Le
Viet Ly, 2001 [6]; Ravindran and cs, 1987 [86]; Ly and Rodriguez, 2001 [71]). Các
phương pháp thông thường được sử dụng để chế biến sắn đó là:
- Hòa tan glucozid trong nước, dùng các phương pháp ngâm củ sắn từ 5 - 7
ngày trong dòng nước chảy hoặc trong bể nước tĩnh sau đó lọc lấy tinh bột. Phương
pháp này tốn nhiều công và không thể áp dụng với quy mô lớn. Mặt khác sắn sau khi
ngâm nước sẽ bị giảm chất lượng vì nước đã xâm nhập vào trong củ.
- Biện pháp nấu chín hoặc luộc sắn để loại bỏ hàm lượng HCN (vô hiệu hóa
men Linamariaza), tuy nhiên phương pháp này khó khả thi và không thể phổ biến nếu
số lượng sắn thu hoạch lớn, tốn kém nhiên liệu và thời gian.
- Biện pháp phân hủy glucozid và bốc hơi hoặc rửa sẽ làm giảm đáng kể hàm
lượng HCN, đây là biện pháp cổ điển hay dùng như: Thái lát phơi khô, băm nhỏ lá
sắn phơi khô, thái lát và ngâm nước (nước muối, nước vôi, axit HCl…). Củ và lá sắn
bị tác động làm thay đổi tế bào cả về hình thái, cấu trúc và sinh hóa, thông qua đó các
glucozit tiếp xúc với enzime dẫn đến HCN được giải phóng và bay hơi.
- Một phương pháp làm giảm HCN trong củ sắn và lá sắn đó là ủ chua.
Phương pháp này vẫn dựa trên nguyên lý tác động làm thay đổi cấu trúc tế bào dẫn
- Vi khuẩn lên men tạo axit butyric: Chúng phân giải axit lactic, chất bột
đường, protein, các axit amin tạo nên axit butyric; nhóm vi khuẩn này không có lợi.
Nhóm vi khuẩn này có sẵn trên thân lá cây cỏ gồm hầu hết các nhóm Clostridium.
Cỏ họ đậu thường có 2,2 triệu tế bào vi khuẩn/gam cỏ tươi.
* Nấm men: Nấm men hoạt động mạnh ở giai đoạn đầu của quá trình ủ chua,
chúng phân huỷ tinh bột đường tạo thành rượu, CO2 và một số axit hữu cơ. Hàm
lượng rượu trong cỏ ủ chua thường trung bình là 0,3%. Khi ủ chua một số nguyên
liệu như thân cây ngô, ngọn củ cải đường đôi khi hàm lượng rượu đạt tới 4% tính