ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH,
KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TRÌNH TỰ GEN CYTOCHROME B
CỦA LỢN BẢN NUÔI TẠI HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HOÀNG VĂN TUẤN
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH,
KHẢ NĂNG SẢN XUẤT VÀ TRÌNH TỰ GEN CYTOCHROME B
CỦA LỢN BẢN NUÔI TẠI HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: TS. Trương Hữu Dũng
TS. Hồ Lam Sơn
THÁI NGUYÊN - 2017
TS. Trương Hữu Dũng, TS. Hồ Lam Sơn là người thầy hướng dẫn về khoa học, đã
giúp đỡ tôi tận tình và có trách nhiệm trong quá trình nghiên cứu cũng như hoàn
thiện bản luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá trình
xây dựng đề cương và hoàn thành bản luận văn này. Nhân dịp này, cho phép tôi được
bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đã tận tình giúp đỡ, động viên khích lệ để tôi
vượt qua mọi khó khăn hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Hoàng Văn Tuấn
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN.................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ................................................................................. v
DANH MỤC BẢNG ............................................................................................. vi
DANH MỤC HÌNH .............................................................................................vii
MỞ ĐẦU ............................................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài .................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu đề tài ................................................................................................. 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ........................................................ 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài ................................................................................... 3
1.1.1. Các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội hình thành giống lợn ...................... 3
1.1.2. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm ngoại hình và khả
3.5. Khả năng sinh trưởng của lợn Bản ................................................................ 41
3.5.1. Kết quả sinh trưởng tích lũy của lợn Bản .................................................. 41
3.5.2. Sinh trưởng tuyệt đối của lợn Bản ............................................................. 43
3.5.3. Sinh trưởng tương đối của lợn Bản ............................................................ 45
3.6. Kết quả khảo sát khả năng cho thịt và chất lượng thịt của lợn Bản .............. 46
3.6.1. Kết quả khảo sát thân thịt lợn Bản ............................................................. 46
3.6.2. Kết quả phân tích thành phần hóa học và tính chất lý hóa của thịt lợn Bản .... 48
3.7. Xác định của đa hình trình tự gen Cytochrome b ty thể của lợn Bản và
mối quan hệ họ hàng giữa lợn Bản với lợn rừng ....................................... 51
3.7.1. Kết quả giải trình tự gen Cytochrom b....................................................... 51
3.7.2. Đa dạng nucleotide và đa hình trình tự gen Cytochrome b ở lợn Bản....... 51
3.7.3. Mối quan hệ phát sinh giữa lợn bản lợn nuôi, lợn rừng Châu Á ............... 52
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................................ 55
1. Kết luận ............................................................................................................ 55
2. Đề nghị ............................................................................................................. 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................................. 57
PHỤ LỤC ẢNH MINH HỌA............................................................................ 60
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DNA
Deoxyribonucleic acid
ĐVT
Đơn vị tính
HĐQT
Bảng 3.5.
Năng suất sinh sản của lợn nái Bản .................................................... 38
Bảng 3.6.
Sinh trưởng tích lũy của lợn Bản ở các tháng tuổi ............................. 42
Bảng 3.7.
Sinh trưởng tuyệt đối của lợn Bản ...................................................... 44
Bảng 3.8.
Sinh trưởng tương đối của lợn Bản qua các tháng tuổi ....................... 45
Bảng 3.9.
Kết quả mổ khảo sát lợn Bản .............................................................. 47
Bảng 3.10.
Thành phần hóa học của thịt lợn Bản .................................................. 49
Bảng 3.11.
Hàm lượng một số axit amin của thịt lợn Bản .................................... 50
Bảng 3.12.
Hình 3.4.
Một đoạn kết quả giải trình tự gen Cytochrome b ................................. 51
Hình 3.5.
Cây phân loại thể hiện mối quan hệ phát sinh giữa 29 haplotype được
xây dựng theo mô hình neighbor-joining bằng phần mềm MEGA7 ........ 53
1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Do tạo hóa mà Viêt Nam chúng ta được thiên nhiên ưu đãi là một trong số ít
các nước trên thế giới có sự đa dạng sinh học, nguồn gen vật nuôi khá phong phú.
Đồng thời, cũng có được nhiều môi trường sinh thái tự nhiên dẫn đến sự khác nhau
về hệ thống canh tác, nền văn hóa giữa các địa phương và các dân tộc. Vì mục tiêu
tồn tại và sinh sống, các dân tộc đã biết thuần hoá động vật thành vật nuôi phục vụ
cho mục đích sản xuất của mình, trong đó có rất nhiều giống lợn bản địa như: lợn Ỉ,
Móng Cái, Lang Hồng, Mường Khương, Hung-Hà Giang, Mẹo, Thuộc Nhiêu, Ô
Lâm-An Giang, Vân Pa, Táp Ná,... Hầu hết các giống lợn lợn bản địa là các giống
được nuôi lâu đời và được xem là thích nghi với môi trường sống của địa phương.
Các quần thể này thường được quản lý bởi nông dân, có cường độ chọn lọc thấp và
chịu ảnh hưởng nhiều của chọn lọc tự nhiên. Đây là nguồn tài nguyên sinh học quan
trọng, có khả năng thích nghi với điều kiện môi trường sinh thái trong vùng, chống
chọi tốt với dịch bệnh và đặc biệt là khả năng ăn phàm (ăn tạp) tận dụng được thức
ăn sẵn có ở địa phương. Tuy nhiên, hầu hết những giống lợn bản địa thường có đặc
điểm tăng khối lượng chậm, sản xuất kém trong khi nhu cầu về thực phẩm của
người dân ngày càng tăng cao, do đó các giống lợn này không thể đáp ứng được mà
sạch, an toàn, có chất lượng cao đáp ứng với nhu cầu tiêu dùng ngày càng gia tăng
của xã hội.
Phân tích đa dạng di truyền trình tự gen Cyb của lợn Bản, nhằm xác định
nguồn gốc và mối quan hệ họ hàng của giống lợn này với một số giống lợn khác
(lợn rừng, lợn lửng, lợn mẹo).
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học: Đề tài cung cấp các số liệu, thông tin khoa học về đặc
điểm ngoại hình, tính năng sản xuất của giống lợn Bản để làm cơ sở xây dựng và
triển khai đề án phát triển chăn nuôi lợn Bản tại địa phương.
Xác định nguồn gốc và mối quan hệ họ hàng của giống lợn Bản với một số
giống lợn khác
Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đề góp phần thúc đẩy sản xuất chăn nuôi và khai
thác sản phẩm lợn Bản tại địa phương.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Các điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội hình thành giống lợn
1.1.1.1. Nguồn gốc các giống lợn nhà
Theo Võ Trọng Hốt và cs (2005) [13], lợn nhà có 2 nguồn gốc chính, đó là lợn
rừng Châu Âu (Sus serofaferus) và lợn rừng Châu Á (Sus orientalis, Sus cristatus
sus vittatus) được con người thuần hoá trong thời gian dài mà thành.
Lợn rừng Châu Âu
(Sus serofaferus)
Lợn rừng Châu Á
(S. orientalis,S. cristatus, S. vittatus)
năng chịu đựng kham khổ cao.
Nguyễn Thiện và cs (2005) [29] cho biết, khi đã được thuần hoá, lợn hoang đã
có nhiều thay đổi. Điều trông thấy rõ rệt là thân hình bé hẳn đi, nên các loại lợn nhà
nguyên thuỷ đều bé nhỏ. Ở Châu Âu, mãi đến cuối thời kỳ Trung Cổ, mới có các
loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như tai rủ, mãi về sau này do lai tạo có
ý thức nên khối lượng lợn mới đa dạng hơn về hình dáng dần dà dài thêm, cao chân,
mông phát triển.
Trong điều kiện của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, các giống lợn ít
được tác động chọn lọc, cải tạo nên tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, ít biến đổi di
truyền nên tính thích nghi hẹp và đầy đủ đặc tính của giống nguyên thủy hay giống
quá độ.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với sự phát triển nhanh của khoa
học kỹ thuật thì giống lợn chịu nhiều tác động chọn lọc của con người nên có sự
thay đổi lớn về tầm vóc, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho thịt và hiệu quả chuyển
hóa thức ăn cao. Nước ta trong quá trình giao lưu kinh tế thế giới ở các thời kỳ,
giống lợn nuôi ở Việt Nam đã chịu khá nhiều tác động biến đổi.
Vào những thập kỷ 20, trong từng thời kỳ khác nhau, ở cả hai miền Nam Bắc
chúng ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản.
Ở miền Nam từ những năm 1950 đã tuần tự nhập các giống Berkshire,
Yorkshire, Larrge white, Landrace…
Ở miền Bắc từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước nhập hàng loạt lợn Tân
Kim, Tân Cương… từ Trung Quốc. Sau đó toàn quốc vào những năm 70 - 80 đã
nhập các giống có tỷ lệ nạc cao như: Landrace, Yorkshire, Larrge white… và vài
chục năm nay nhập các dòng Hybrid, các tổ hợp lai siêu nạc từ các nước Đông Âu,
5
Tây Âu, Mỹ… để phát triển lợn lai các loại. Các giống lợn cao sản thường được dùng
để cho lai với các giống lợn địa phương như: Đại Bạch x Ỉ, Landerace x Móng Cái,
Yorkshire x Ba Xuyên… hoặc để pha máu cho các loại dòng lợn cao sản khác.
di truyền trung bình.
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng có hệ
số di truyền cao và cho hiệu quả chọn lọc cao.
6
Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao.
Từ những kết quả phân tích trên cho thấy, các tính trạng về năng suất ở lợn
cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền và các yếu
tố môi trường. Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều môi
trường sống như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn... Vì thế trong thực tiễn công tác
giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng cao thì ngoài việc thay đổi kiểu gen
tạo ra những tổ hợp gen mới có năng suất chất lượng cao, cần phải chú ý đến việc
cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc đối với con vật.
1.1.3. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục và khả
năng sinh sản của lợn
1.1.3.1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn
* Tuổi động dục lần đầu
Là thời gian từ sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị có biểu hiện động dục lần
đầu tiên.Tuỳ theo giống, tuổi động dục lần đầu tiên có khác nhau. Lợn nội tuổi động
dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, ở lợn nái lai tuổi động lần đầu muộn hơn so với lợn
nái nội thuần (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [27]. Lợn Ỉ 120 - 135 ngày, Lợn
Móng Cái 130 - 140 ngày, lợn Đại Bạch nhập vào Việt Nam từ 203 - 208 ngày, lợn
Landrace từ 208 - 209 ngày. Ở lợn nội có tuổi động dục sớm, mà khả năng tăng
khối lượng thấp, khối lượng khi động dục lần đầu đạt từ 20 - 25 kg. Vì vậy, không
nên phối giống ở thời kỳ này, vì cơ thể lợn chưa phát triển đầy đủ, trứng chưa chín
một cách hoàn chỉnh. Để đạt được hiệu quả sinh sản tốt và duy trì con nái bền lâu,
cần bỏ qua 1 - 2 chu kỳ động dục rồi mới phối giống (Phạm Hữu Doanh và cs,
1996) [7];
* Tuổi phối giống lần đầu
đông. Cần có biện pháp để tránh sự hao mòn của cơ thể mẹ sau khi đẻ. Mức độ hao
mòn không cho phép vượt quá 20%, không ép phối nếu lợn nái sau khi cai sữa con
mà cơ thể hao mòn, gầy sút nhiều. Cần bỏ qua một chu kỳ động dục để lợn nái lại
sức và nuôi được lâu bền hơn (Phạm Hữu Doanh và cs, 1996) [7].
* Đặc điểm động dục của lợn nái
Là sự phát triển mạnh của cơ quan sinh dục lợn cái đặc biệt là buồng trứng và
tử cung xảy ra ở độ tuổi 6 - 9 tháng với lợn ngoại, 4 - 5 tháng với lợn nội. Ở lợn lai
khi 15 tuần tuổi mới xuất hiện các nang trứng đầu tiên, khi ở giai đoạn hậu bị trung
bình rụng từ 8 - 14 trứng và số lượng đạt cao nhất ở giai đoạn lợn cái cơ bản là 12 20 trứng. Số lượng trứng rụng còn phụ thuộc vào giống tuổi và cá thể.
Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ tinh cao, số con đẻ ra nhiều, cần phối giống đúng thời
điểm vì thời gian trứng rụng và có hiệu quả thụ thai rất ngắn. Trong khi đó tinh
trùng chỉ kéo dài và sống trong tử cung khoảng 45 - 48 giờ. Theo các kết quả nghiên
cứu, quá trình rụng trứng bắt đầu lúc 30 - 40 giờ sau khi xuất hiện phản xạ mê ì. Như
8
vậy, phải cho lợn cái phối giống 10 - 12 giờ trước lúc rụng trứng, tức là 20 - 30 giờ
sau khi bắt đầu chịu đực (Nguyễn Thiện và cs, 1993) [28].
Thời gian động dục của lợn nái nội kéo dài 3 - 4 ngày, lợn nái lai, nái ngoại 4 5 ngày. Do vậy, thời điểm phối giống tốt nhất là giai đoạn giữa chịu đực: Nái lai và
nái ngoại cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sáng ngày thứ 4, lợn nái nội cho phối vào
cuối ngày thứ 2 và sáng ngày thứ 3, nếu tính từ lúc bắt đầu động dục. Trong sản
xuất, thụ tinh nhân tạo khi lợn có triệu chứng chịu đực buổi sớm thì buổi chiều cho
phối, nếu có triệu chứng vào buổi chiều thì sớm hôm sau phối, (Phạm Hữu Doanh
và cs, 1966) [7].
1.1.3.2. Khả năng sinh sản của lợn
Kết quả hoạt động sinh sản của lợn nái là tổng hợp của các chỉ tiêu về sinh lý
sinh dục và khả năng sinh sản gồm: tuổi động dục đầu, phối giống đầu, chu kỳ động
dục, thời gian mang thai, khả năng đẻ con, nuôi con, số lứa đẻ trong năm, số con sơ
sinh, số con cai sữa, khối lượng sơ sinh, khối lượng cai sữa, thời gian cai sữa.
* Quá trình mang thai và đẻ
Các giống lợn khác nhau cho khối lượng sơ sinh khác nhau. Các giống lợn nội
(Móng Cái): 0,5 - 0,7 kg/ con, lợn Ỉ 0,45 kg/ con. Lợn ngoại Yorshise nuôi tại Việt Nam
1,24 kg/ con, lợn Duroc 1,2 - 1,5kg/con (Trần Văn Phùng và cs, 2004) [24].
* Khối lượng cai sữa/ổ
Khối lượng cai sữa/ổ của các giống lợn khác nhau cho khối lượng không
giống nhau. Lợn Móng Cái có khối lượng cai sữa/ổ lúc 2 tháng tuổi là 58,20 - 60,88
kg; lợn F1 (Đại Bạch x Móng Cái) có khối lượng 60 ngày/ổ là 61,80 kg (Nguyễn
Thiện và cs, 1998) [30]. Khối lượng cai sữa của lợn con cao hay thấp, sức khoẻ tốt
hay xấu, sinh trưởng phát dục nhanh hay chậm, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến
phẩm chất đàn giống và khả năng nuôi thịt sau này.
* Khả năng tiết sữa
Sữa là sản phẩm tiết ra từ tuyến vú, là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, dễ
tiêu hóa, dễ hấp thu, rất cần thiết cho gia súc non đang bú sữa và là loại thực phẩm có
giá trị dinh dưỡng cao đối với con người (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [27].
Khả năng tiết sữa của lợn mẹ là một chỉ tiêu nói lên đặc điểm của giống. Sản
lượng sữa và chất lượng sữa ở các vị trí khác nhau của bầu vú cũng không giống nhau.
Theo (Trương Lăng, 1996) [16], vú trước lượng sữa tiết nhiều hơn. Trong thời kỳ tiết
sữa, lợn con bú vú sau được 32 - 39 kg thì vú trước cho 36 - 45 kg sữa vì oxytoxin theo
máu đến tuyến vú phía trước nhiều hơn. Vì vậy, để đảm bảo tính đồng đều toàn ổ lợn ta
nên cố định đầu vú trong đàn lợn. Nhất thiết phải cho lợn con bú sữa đầu chậm nhất là
2 giờ sau khi đẻ, để lợn con có đủ kháng thể cho 5 tuần đầu của cuộc sống vì trong sữa
đầu của lợn mẹ có chứa β globulin giúp tăng đề kháng cho cơ thể lợn con, đồng thời
theo (Trịnh Văn Thịnh 1978) [32], trong sữa đầu thành phần hóa học nhiều hơn sữa
thường, lượng protein gấp 3 lần sữa thường (17 -18% so với 5 - 6%).
10
* Số con cai sữa/lứa
Số lợn con cai sữa trên lứa là số lợn con được nuôi sống cho đến khi cai sữa
mẹ. Thời gian cai sữa dài hay ngắn phụ thuộc vào tập quán chăn nuôi, kỹ thuật chăn
11
- Mùa vụ
Khả năng sinh sản của lợn nái cũng bị ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố mùa vụ
hay cụ thể hơn là nhiệt độ và độ ẩm của môi trường. Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh
hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh sản của lợn nái.
Theo Lê Xuân Cương (1986) [6], ở mùa hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn
so với mùa thu - đông, điều đó có thể ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn
liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức. Theo (Nguyễn Tấn Anh và cs,
1995) [1], tỷ lệ thụ tinh còn phụ thuộc vào mùa vụ phối giống, nếu cho lợn phối
giống vào các tháng 6-8 thì tỷ lệ thụ tinh giảm 10% so với phối giống ở tháng 11-12.
Đối với lợn nái, nhiệt độ thích hợp từ 18 - 21oC. Do đó về mùa hè sức sản xuất
của lợn nái thấp hơn so với các mùa khác, vì nếu nhiệt độ chuồng nuôi trên 30oC sẽ
làm giảm tỷ lệ thụ thai, tỷ lệ chết phôi và chết thai tăng cao, thai kém phát triển do
lợn mẹ ăn ít. Mặt khác, nhiệt độ cao sẽ làm kéo dài thời gian đẻ, gây sát nhau, tỷ lệ
con bị chết cao, lợn nái không động dục hoặc động dục chậm.
- Tuổi đẻ lứa đầu và lứa đẻ
Tuổi và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ. Nếu phối
giống sớm cơ thể mẹ chưa thành thục về thể vóc, cơ quan sinh sản chưa thật hoàn
thiện. Do vậy, số con đẻ ra ít, còi cọc và ảnh hưởng tới sự phát triển của lợn mẹ, nếu
phối muộn sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế. Thông thường người ta bỏ qua lần động
dục đầu tiên và phối vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3. Số lượng trứng rụng thấp
nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục thứ hai
và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Deckert và cs, 1998) [38]. Tuổi đẻ
lứa đầu, khối lượng con mẹ lúc phối giống và lứa đẻ có ảnh hưởng rõ rệt đến tính
trạng số con sơ sinh/lứa và khối lượng sơ sinh/lứa (Tạ Thị Bích Duyên, 2003) [9].
- Thời gian cai sữa
Theo Phùng Thị Vân (2000) [37], thời gian cai sữa cho lợn con có ảnh hưởng
rất lớn đến năng suất chăn nuôi, như ảnh hưởng đến hao hụt của lợn mẹ. Do vậy,
việc cai sữa cho lợn con trong khoảng thời gian từ 3 - 4 tuần tuổi ngày nay đã trở
DNA ty thể còn là cơ sở nghiên cứu tổ tiên chung của các loài sau một quá trình
tiến hóa lâu dài do không xảy ra quá trình tái tổ hợp.
DNA ty thể được xem như một marker trung tính do những đột biến xảy ra
trên DNA ty thể không làm ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của sinh vật. Vì vậy,
đột biến xảy ra trên ty thể không làm mất đi những kiểu gen của sinh vật đã được
chọn lọc trong quá trình tiến hóa.
Ở Việt Nam chưa từng có tài liệu nào nghiên cứu về giải trình tự gen
Cytochrome b trên giống lợn Bản mà mới làm trên các gen đánh giá chất lượng thịt
như gen halothane, đa hình gen PRKAG3…
13
1.1.5. Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình
Đà Bắc là huyện vùng cao của tỉnh Hòa Bình, có những điều kiện tự nhiên
tương đối đặc thù. Huyện Đà Bắc phía bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía tây giáp tỉnh Sơn
La, phía đông tiếp giáp thị xã Hòa Bình và phía nam giáp các huyện Tân Lạc, Mai
Châu. Là một huyện vùng cao nên có địa hình đồi, núi, sông, suối xen kẽ tạo thành
nhiều dải hẹp bị cắt phá mạnh mẽ nên đất có độ dốc lớn, mặc dù có diện tích đất tự
nhiên lớn nhất so với các huyện trong tỉnh nhưng đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít,
chủ yếu là đất rừng. Cụ thể: Đất lâm nghiệp 50,662 ha chiếm 65,12%, đất nông
nghiệp 3.537 ha chiếm 4,55%, đất phi nông nghiệp 8.556 ha chiếm 11%, đất nuôi
trồng thuỷ sản và đất Nông nghiệp khác 100,6 ha chiếm 1,3%, đất chưa sử dụng
14.94 ha chiếm 19,2%.
Xuất phát điểm của nền kinh tế của huyện vào loại thấp trong tỉnh, đời sống ở
các khu vực dân cư có nhưng chênh lệch lớn. Khu vực thành thị có mức sống ổn
định tương đối đồng đều nhưng tỷ lệ không cao, không có các doanh nghiệp sản
xuất kinh doanh lớn, khu vực nông thôn có mức sống thấp còn nhiều hộ nghèo, việc
xoá đói giảm nghèo hết sức khó khăn, các hộ nghèo chủ yếu ở nông thôn sản xuất
theo dạng tự cung tự cấp, chưa có thói quen tạo ra sản phẩm hàng hoá có chất lượng
để trao đổi theo nhu cầu thị trường. Nền kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào phát
chăn nuôi chưa tốt để cung cấp thực phẩm tại chỗ và cung cấp nguồn thực phẩm đặc
sản cho các khu vực khác (Lê Viết Ly, 1999) [19].
Điểm hạn chế cơ bản nhất của các giống lợn nội là: tăng khối lượng hàng ngày
thấp, tiêu tốn thức ăn và độ dày mỡ lưng cao, tỷ lệ thịt nạc rất thấp. Hầu hết, các giống
lợn nội đều thích ứng với điều kiện khí hậu nóng ẩm nhiệt đới; khả năng thích nghi,
chống chịu stress nhiệt và điều kiện kham khổ cao, khả năng chống chịu bệnh tật tốt.
Ngoài ra, các giống lợn nội tốt còn được sử dụng trong lai giống với các giống
nhập ngoại để khai thác thịt và đặc biệt khai thác khả năng sinh sản tốt, nhờ ưu thế
lai cao cho các vùng có điều kiện chăn nuôi trung bình, nhằm sản xuất một khối
lượng lớn thịt lợn cung cấp cho thị trường vùng nông thôn, đồng thời nuôi giữ và
khai thác nguồn gen để tạo giống mới trong tương lai lâu dài.
* Kết quả nghiên cứu về lợn nội
- Giống lợn Móng Cái
Giống lợn Móng Cái là giống lợn nội phổ biến nhất của Việt Nam, có nguồn
gốc từ Hà Cối và Móng Cái, Quảng Ninh. Hiện nay, lợn được phân bố rộng khắp cả
nước, phổ biến ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và một số nơi ở Tây Nguyên.
Lợn Móng Cái có tầm vóc trung bình: khối lượng lúc 8 tháng tuổi đạt 65-75
kg, ngắn mình, cổ ngắn, tai nhỏ, lưng võng, bụng sệ, màu đen, trừ 6 điểm trắng
(đốm trắng hình tam giác hoặc hình thoi nằm giữa trán, mõm trắng, cuối đuôi có
chùm lông trắng, bụng trắng và bốn chân trắng và đặc biệt, một khoang trắng nối
15
giữa 2 bên hông với nhau vắt qua vai trông giống như cái “Yên ngựa” là nét đặc
trưng nhất về màu sắc của giống lợn Móng Cái.
Lợn Móng Cái sinh trưởng chậm: 2 tháng tuổi nặng 6 kg và 10 tháng tuổi chỉ
đạt 80-85 kg, song phát dục sớm: "lợn cái lúc 5 tháng tuổi và lợn đực có biểu hiện
nhảy giống lúc 2 tháng tuổi nhưng có khả năng phối chửa lúc 3-4 tháng tuổi".
Lợn Móng Cái sinh sản tốt nhất trong các giống lợn nội của ta: có 10 - 16 vú,
thông dụng nhất là 12 vú, xếp thành hai dãy cân đối 2 bên bụng. Số con sơ sinh
Hóa,… chỉ tồn tại cho đến năm 1990. Do khả năng tăng khối lượng thấp, tỷ lệ nạc
thấp và sức sinh sản thấp dẫn đến hiệu quả kinh tế không cao. Vì vậy, số lượng lợn Ỉ
giảm nhanh. Trong Atlat giống gia súc gia cầm Việt Nam, dòng lợn Ỉ mỡ đã biến
mất, tuy nhiên sau đó năm 1996 phát hiện được dòng lợn ỉ này vẫn được nuôi ở một
số xã huyện Hậu Lộc (Thanh Hóa). Hiện nay, dòng Ỉ này đã được nuôi giữ bảo tồn
nhân giống ở Trung tâm giống lợn Thụy Phương (Viện Chăn nuôi). Giống lợn Ỉ có
nhiều loại hình, tên gọi khác nhau theo từng địa phương, nhưng thông dụng nhất là Ỉ
mỡ và Ỉ pha.
* Giống lợn Mường Khương
Là một trong những giống lợn nội to nhất của Việt Nam. Khối lượng trưởng
thành con đực và con cái tương ứng là 150 kg và 132 kg.
Nguồn gốc: Lợn chủ yếu ở huyện Mường Khương và tập trung nhiều nhất ở
một số vùng như: Cao Sơn, La Pán Tẩn, Tả Thàng, Nậm Chảy... và một số ít ở
huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai.
Về đặc điểm ngoại hình: Lợn Mường Khương có thân hình vững chắc, thô,
lông đại đa số là màu đen, có một số ít lông màu nâu, trên nền có những đốm trắng
xuất hiện ở trán và 4 chân (từ móng đến đốt xương bàn). Lông gáy có con dài 5 - 6
cm, da thô dầy cứng, đầu to vừa phải và dài, mõm thẳng. Trên trán có nếp nhăn
thường chạy dọc theo chiều dài sóng mũi dài khoảng 5 - 8 cm. Tai to hơi choãi
ngang hoặc có thiên hướng về phía trước, có con tai to, mềm hơi cúp xuống. Thân
dài, hẹp ngang, bụng thon gọn, rất thích nghi với việc chăn thả, bốn chân cao to,
tương đối vững chắc, chân không đi bàn, móng gọn, không có vết nứt, nếu nhìn
nghiêng thì có dáng tiền thấp hậu cao.
Về đặc điểm sinh trưởng: Lợn Mường Khương sinh trưởng chậm, từ 4 - 6
tháng tuổi sinh trưởng nhanh. Nhưng giai đoạn từ 7 - 9 tháng tuổi sinh trưởng chậm
lại, từ 10 - 14 tháng tuổi sinh trưởng bình thường, từ 18 tháng tuổi sinh trưởng rất
chậm và giảm dần đến 36 tháng tuổi. (Nguyễn Thiện và cs, 2005) [40]. cho rằng lợn
Mường Khương lúc 12 tháng tuổi có khối lượng trung bình là 70 - 80 kg, nếu được nuôi
tốt có thể đạt 90 kg, tăng khối lượng trung bình là 300 - 340 g/ngày. Tỷ lệ móc hàm 74 80%, tỷ lệ thịt xẻ 66 - 74%, tỷ lệ mỡ 33 - 42%, tỷ lệ thịt nạc 40 - 44% lợn có xu
hướng nhiều nạc hơn so với các giống lợn nội khác. Khối lượng giết mổ to nhưng tỷ