Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––
––––––––––
PHẠM CÔNG HOẰNG
“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC,
KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ CHỌI NUÔI
TẠI HUYỆN TÂN YÊN - TỈNH BẮC GIANG”
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.40
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
PGS-TS. TRẦN THANH VÂN
TS. NGUYỄN THỊ THÚY MỴ
THÁI NGUYÊN – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
I. Đặt vấn đề 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Bản chất di truyền của tính trạng 4
1.1.2. Đặc điểm về sinh trưởng di truyền và một số tính trạng sản xuất của gia
cầm 5
1.1.2.1. Khả năng sinh trưởng 5
1.1.2.2. Tiêu tốn thức ăn 11
1.1.2.3. Khả năng cho thịt 12
1.1.2.4. Sức sống và khả năng kháng bệnh 13
1.1.2.5. Khả năng đẻ trứng 14
1.1.2.6. Tỷ lệ ấp nở 15
1.1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt gia cầm 18
1.1.3.1. Những yêu cầu đối với chất lượng thịt 19
1.1.3.2. Các biện pháp cải thiện chất lượng thịt gia cầm 19
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc 23
3.3.2. Thời gian sử dụng gà Chọi 49
3.3.3. Một số chỉ tiêu về chất lượng trứng 50
3.3.4. Các chỉ tiêu về ấp nở 51
3.4. Các chỉ tiêu khảo sát về sức sản xuất thịt của gà Chọi 52
3.4.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà Chọi 52
3.4.2. Sinh trưởng của gà Chọi 53
3.4.2.1. Sinh trưởng tích luỹ 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 3.4.2.2. Sinh trưởng tuyệt đối và tương đối của gà Chọi nuôi tại huyện Tân
Yên - tỉnh Bắc Giang 56
3.4.3. Khả năng tiêu thụ và chuyển hoá thức ăn 59
3.4.4. Khả năng cho thịt và chất lƣợng thịt 62
3.4.4.1. Năng suất thịt 62
3.4.4.2. Chất lượng thịt 64
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66
1. Kết luận 66
2. Đề nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
I. Tiếng Việt 68
II. Tiếng nƣớc ngoài 71
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1. Số lƣợng gà Chọi tại tại 3 xã huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang
Bảng 3.2. Tình hình chăn nuôi gà Chọi trong nông hộ 43
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 1
Phần 1
Mở đầu
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm ở nước ta ngày
càng phát triển với tốc độ phát triển bình quân của những năm qua
là 5%/năm và chăn nuôi gà chất lượng cao đang là vấn đề được
nhiều người quan tâm. Chăn nuôi gà đ• có những biến chuyển tích
cực, đạt được những thành tựu khả quan: tổng đàn tăng lên về số
lượng và chất lượng được cải thiện. Cùng với sự phát triển của
ngành kinh tế thì nhu cầu tiêu dùng thực phẩm có chất lượng cao
của người dân lại càng tăng lên.
Hiện nay, xu thế chung của ngành chăn nuôi trên thế giới, đặc biệt là
các nước đang phát triển, bên cạnh việc phát triển thâm canh chăn
nuôi cần đẩy mạnh công tác bảo tồn, gìn giữ các giống vật nuôi địa
phương nhằm khai thác hợp lý tài nguyên đa dạng sinh học mang lại
tính ổn định bền vững cho phát triển lâu dài. Đây là vấn đề cấp
bách, khó khăn, phức tạp mang tính toàn cầu, cần được nhiều ngành
quan tâm.
ở việt Nam có rất nhiều giống vật nuôi truyền thống có giá trị kinh
tế thấp nên đang bị thu hẹp về không gian phân bố, giảm dần về số
lượng và có nguy cơ bị tuyệt chủng ví dụ như: lợn ỉ, gà Hồ, gà Đông
Tảo, vịt Kỳ Lừa, gà Mèo. Gà Chọi cũng là một trong những giống
vật nuôi nói trên, mặc dù xét về ý nghĩa kinh tế của giống gà này thì
không lớn, song đây là giống gà được cộng đồng các dân tộc người
bảo tồn và lai tạo, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của gà
Chọi nuôi tại huyện Tân Yên - tỉnh Bắc Giang”.
Nhằm phục vụ cho việc bảo tồn quỹ gen và là cơ sở để khai thác
tiềm năng di truyền của giống gà địa phương này.
2. Mục tiêu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
+ Mục tiêu của đề tài
- Xác định các đặc điểm ngoại hình, một số đặc tính sinh học và
tính năng sản xuất của giống gà Chọi tại huyện Tân Yên tỉnh Bắc
Giang.
- Xác định được cơ cấu, số lượng, sức sống, sinh trưởng, sinh
sản, tình hình chăn nuôi gà Chọi trong nông hộ tại huyện Tân Yên -
tỉnh Bắc Giang.
- Xác định ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến khả
năng sản xuất của gà Chọi nuôi ở nông hộ.
- Bảo tồn được quỹ gen và khai thác tiềm năng di truyền lâu dài
của gà Chọi(theo hướng văn hoá kết hợp phát triển kinh tế x• ội).
+ ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Kết quả của đề tài sẽ cung cấp các thông tin đầu tiên về giống
gà Chọi tại một số huyện của tỉnh Bắc Giang.
- Các số liệu thu được phục vụ cho công tác giống sau này. Mặt
khác kết quả của đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho những nghiên
cứu phát triển tiếp theo.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Nói cách khác: Trong những điều kiện môi trường nhất định thì các
kiểu gen khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau. Trái
lại, cùng một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường
khác nhau sẽ cho năng lưc sản xuất khác nhau. Nghĩa là các điều
kiện môi trường, chăm sóc nuôi dưỡng có thể phát huy hoặc hạn chế
các đặc tính di truyền của vật nuôi. Thông qua việc nắm các yếu tố
di truyền, môi trường ngoại cảnh tối thích, bằng các biện pháp khoa
học kỹ thuật hợp lý, con người sẽ không chỉ bồi dưỡng duy trì được
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 4
các đặc tính của một phẩm chất giống mà còn tạo ra các giống mới
theo những hướng sản xuất khác nhau.
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của một giống gà,
nó có tính di truyền tương đối cao thể hiện ở đặc điểm trao đổi chất,
kiểu hình của dòng, giống. Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng
lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn.
Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể, kích thước
các chiều đo (dài lườn, rộng ngực, dài đùi ). Để nâng cao năng lực
sản xuất thịt của một giống gà nào đó, người ta thường cho lai giữa
mái của giống đó với trống của một giống khác có tốc độ sinh
trưởng lớn hơn.
Năng lực tăng đàn của một giống gà được quyết định bởi khả năng
sinh sản bao gồm: khả năng đẻ trứng, tỉ lệ trứng cho phôi, tỉ lệ ấp
nở, tỉ lệ nuôi sống của gà Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng ấp
trứng của gà mái, nguồn thức ăn (với gà nuôi thả)
Sức sống và khả năng kháng bệnh: trong cơ thể gia cầm có hệ thống
miễn dịch hoàn hảo gồm tủy xương, tuyến ức, hạch lâm ba, lách
sự phát trển của xương, mô cơ, một phần rất ít lưu giữ cho cấu tạo
của mỡ. Đến giai đoạn cuối của sự sinh trưởng, nguồn dinh dưỡng
vẫn được sử dụng nhiều để nuôi hệ thống cơ xương, nhưng hai hệ
thống này tốc độ phát triển đ• giảm, càng ngày con vật càng tích luỹ
dinh dưỡng để cấu tạo mỡ.
Theo Chamber, J.R 1990 [41] thì Mozan (1927) định nghĩa: sinh
trưởng là sự tổng hợp quá trình tăng lên của các bộ phận trên cơ thể
như thịt da, xương. Tuy nhiên có khi tăng khối lượng chưa phải là
sinh trưởng, sự sinh trưởng thực sự phải là tăng các tế bào của mô
cơ tăng thêm khối lượng, số lượng và các chiều của cơ thể. Tóm lại
sinh trưởng phải trải qua 3 quá trình đó là:
- Phân chia để tăng khối lượng tế bào
- Tăng thể tích tế bào
- Tăng thể tích giữa các tế bào
Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc
tính của các bộ phận trong cơ thể hình thành lên quá trình sinh
trưởng là sự tiếp tục thừa hưởng các đặc tính di truyền của đời
trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn thiện hay không hoàn
thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường.
Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ
chiếm nhiều nhất từ: 42 - 45 % khối lượng cơ thể. Khối lượng cơ
thể của con trống luôn lớn hơn con mái (không phụ thuộc vào lứa
tuổi và từng loại gia cầm) (dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994 [18]
* Các giai đoạn sinh trưởng của gà
Đối với gà, quá trình tích luỹ các chất thông qua quá trình trao đổi
chất đó, là sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào và dịch thể
trong mô bào ở giai đoạn phát triển đầu của phôi trên cơ sở tính di
truyền. Sau khi nở thì sinh trưỏng là do sự lớn dần của các mô, đó là
sự tăng lên về kích thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn:
Giai đoạn gà con và giai đoạn trưởng thành.
sinh trưởng tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn và
ngược lại.
+ Sinh trưởng tương đối
Sinh trưởng tương đối được tính bằng tỷ lệ phần trăm tăng lên của
khối lượng (thể tích, kích thước) của cơ thể khi kết thúc quá trình
khảo sát so với thời điểm đầu khảo sát (TCVN.40 - 77, 1997) [26].
Gà con non có sinh trưởng tương đối cao sau đó giảm dần theo tuổi.
Sau giai đoạn trưởng là giai đoạn già cỗi, ở thời kỳ này khối lượng
không tăng mà có chiều hướng giảm. Nếu vẫn có hiện tượng tăng
khối lượng thì đây là do quá trình tích luỹ mỡ. Thời kỳ này sớm hay
muộn phụ thuộc vào giống, tuổi và điều kiện sống của con vật. Thời
kỳ già cỗi được tính từ khi con vật ngừng sinh trưởng, khả năng
sinh sản và mọi khả năng khác đều giảm (Lê Huy Liễu và cs, 2004
[13] ).
- Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị
sinh trưởng của gia súc gia cầm nói chung. Theo Chambers J.R,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7
1990 [41], đường cong sinh trưởng của gà có 4 đặc điểm chính gồm
4 pha:
• Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc nhanh sau khi nở
• Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao
nhất
• Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
• Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành
Đồ thị sinh trưởng tích luỹ biểu thị một cách đơn giản nhất về
đường cong sinh trưởng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 8
Phùng Đức Tiến, 1996 [34] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh
trưởng từ 0,4 - 0,5. Các tài liệu của Chambers J.R, 1984 [42]; Siegel
và cs, 1962 [57] đ• tổng kết một cách hoàn chỉnh về hệ số di truyền
và tốc độ sinh trưởng. Kết quả tính toán qua phân tích phương sai
của con đực từ 0,4 - 0,6.
Theo Kushner K.F, 1978 [12] hệ số di truyền khối lượng cơ thể sống
của gà 1 tháng tuổi là 0,33; 2 tháng tuổi là 0,46; 3 tháng tuổi là 0,44;
6 tháng tuổi là 0,55 và của gà trưởng thành là 0,43. Của Nguyễn Ân
và cộng tác viên, 1998 [1] gà 3 tháng tuổi là 0,26- 0,5.
Nguyễn Mạnh Hùng và cộng tác viên, 1994 [11] cho biết sự khác
nhau giữa các giống gia cầm rất lớn, giống kiêm dụng nặng hơn
hướng trứng khoảng 500- 700g (từ 15- 30%)
Kết quả nghiên cứu 3 giống AA, Avian và BE88 nuôi tại Thái
Nguyên của Nguyễn Thị Thuý Mỵ, 1997 [22] cho thấy: khối lượng
cơ thể của 3 giống khác nhau ở 49 ngày tuổi lần lượt là: 2501,09g;
2423,28g và 2305,14g.
+ ảnh hưởng của tính biệt
Sự khác nhau về tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể còn ảnh
hưởng bởi tính biệt, gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà
mái. Những sai khác này được biểu hiện về mặt cường độ sinh
trưởng, được quy định không phải do hoocmon sinh dục mà do các
gen liên kết với giới tính.
Theo Jull M.A, 1923 [49] cho biết gà trống có tốc độ sinh trưởng
nhanh hơn gà mái từ 24 - 32%. Các tác giả cho rằng sự sai khác này
do gen liên kết giới tính, những gen này ở gà trống hoạt động mạnh
hơn gà mái. North M.O, 1990 [52], đ• rút ra kết luận: lúc mới nở gà
dụng thức ăn có hiệu quả tốt hơn. Theo Chambers J.R và cộng sự,
1984 [42] thì mối tương quan giữa khối lượng của gà Broiler với
lượng thức ăn tiêu tốn từ 0,5 - 0,9. Gà có tốc độ tăng khối lượng cao
thì yêu cầu thức ăn có tỷ lệ protein cao hơn (Paudman J.A và cộng
sự, 1970 [53]; (Pym R.A.E và cộng sự, 1978 [54]). Dinh dưỡng
không chỉ cần thiết cho quá trình sinh trưởng mà còn cần thiết để
thể hiện khả năng di truyền của sinh trưởng.
Meller David Soares, Josepbb J.R, 1981 [23] đ• xác định được sự
ảnh hưởng của hàm lượng Chorocid, Sulfat và lượng Natri, Phot
pho trong chế độ dinh dưỡng đến sinh trưởng của gà.
1.1.2.2. Tiêu tốn thức ăn
Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng phản ánh khả năng
chuyển hoá thức ăn để sinh trưởng, hay nói cách khác tiêu tốn thức
ăn /kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và
ngược lại. Để đạt được một khối lượng cơ thể nào đó, với cơ thể
sinh trưởng chậm sẽ mất thời gian dài hơn, năng lượng dành cho
duy trì cao hơn dẫn đến thức ăn tiêu tốn nhiều hơn so với cơ thể có
tốc độ tăng khối lượng nhanh. Khi sinh trưởng nhanh thì quá trình
trao đổi chất của cơ thể tốt hơn, hiệu quả sử dụng thức ăn tốt hơn do
đó tiêu tốn thức ăn giảm.
Chambers J.R và cộng sự, 1984 [42] đ• xác định hệ số tương quan
di truyền giữa tăng khối lượng của cơ thể với tiêu tốn thức ăn, hệ số
tương quan này thường rất cao từ: 0,5- 0,9 còn tương quan di truyền
giữa sinh trưởng và chuyển hoá thức ăn là thấp và âm (từ -0,2 đến -
0,8).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 10
về tỷ lệ thịt xẻ như: Độ ẩm là 0,38; protein là 0,47; mỡ là 0,48 và
khoáng là 0,25 (dẫn Theo Chambers J.R, 1990 [41]).
Ngoài ra việc đánh giá chất lượng thịt còn dựa theo độ béo, tròn của
thân hình, mùi vị, độ ngọt, độ mềm và cứng của thịt Các khuyết
tật như lở loét da, có chứa u và tổn thương, g•y lườn , cũng ảnh
hưởng đến chất lượng thịt.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 11
1.1.2.4. Sức sống và khả năng kháng bệnh
Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm là yếu tố quan trọng
giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả. Tổn thất do dịch bệnh ở gia cầm là
rất lớn nên cần phải có những biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa để
giảm bớt tổn thất đó. Khi đàn gà bị mắc bệnh tỷ lệ chết tăng cao, dễ
lây nhiễm và mắc các bệnh khác, nhất là các bệnh truyền nhiễm. Để
điều trị và đề phòng các loại dịch bệnh phải cần rất nhiều kinh phí
để mua vacxin tiêm phòng, thuốc kháng sinh để chữa bệnh, cùng
hàng loạt các biện pháp thú y khác.
Marco A.S và cộng sự (1992) (dẫn Theo Hoàng Toàn Thắng, 1996
[31] cho biết: sức sống thể hiện ở thể chất và xác định trước hết bởi
khả năng có tính di truyền ở động vật có thể chống lại những ảnh
hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của
dịch bệnh.
Theo Ngô Giản Luyện, 1994 [18] thì mối liên quan giữa chỉ tiêu
sinh lý, sinh hoá máu đối với sức sống và sản lượng trứng được
Kotris và cộng sự tại viện thú y Matxcơva (1988) xác định: Số
trứng thấp hơn nhiều so với số lượng tế bào trứng trong buồng
trứng.
Người ta thường xác định số lượng trứng sau một chu kỳ đẻ trứng
sinh học hoặc sau một năm đẻ trứng. Chu kỳ đẻ trứng sinh học được
tính từ khi đẻ quá trứng đầu tiên tới khi ngừng đẻ thay lông - đó là
chu kỳ thứ nhất, chu kỳ thứ hai tính từ khi gia cầm bắt đầu đẻ lại
(sau khi thay lông) tới khi ngừng đẻ và thay lông lần thứ hai. Qua
nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy thời gian hình thành trứng trong
ống dẫn trứng dao động trong khoảng từ 23,5 - 24 giờ (Nguyễn Duy
Hoan, Trần Thanh Vân, 1998) [9].
Nếu gà mái có thời gian hình thành trứng trong ống dẫn trứng dưới
24 giờ thì có thể đẻ trứng liên tục đều đặn. Trong trường hợp này,
quá trình rụng trứng diễn ra sau khi đẻ trứng khoảng nửa giờ thì gà
đẻ sẽ không liên tục.
Sức đẻ trứng phụ thuộc và liên quan trực tiếp với giống, dòng gia
cầm, sự phát triển của cá thể, tuổi, độ béo, trạng thái sức khoẻ, thể
trạng, sự thay đổi lông, tính ấp bóng, độ thành thục, cường độ và
sức bền đẻ trứng, chu kỳ và nhịp độ đẻ trứng. Đồng thời phụ thuộc
vào các đặc trưng di truyền và chọn giống, thức ăn dinh dưỡng,
nhiệt độ và các yếu tố tiểu khí hậu khác.
Giống, dòng ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp như:
Giống gà Leghorn có sản lượng 250 - 270 trứng /mái/năm, trong khi
đó gà Ri chỉ có 90 - 110 trứng/mái/năm. Những dòng chọn lọc kỹ
thường đạt chỉ tiêu cao sản hơn những dòng chưa chọn lọc kỹ
khoảng 15- 30 % về sản lượng trứng.
Mùa vụ cũng có ảnh hưởng đến khả năng đẻ trứng của gia cầm. ở
nước ta do mùa hè nắng nóng nên sức đẻ trứng giảm xuống rất
nhiều so với mùa xuân và đến mùa thu lại tăng lên. Tuổi gia cầm
cũng ảnh hưởng rất lớn đến sức đẻ trứng, sản lượng trứng giảm dần
theo tuổi, trung bình năm thứ hai giảm 15 - 20 % so với năm thứ
loại II (%) Tỷ lệ nở/
trứng ấp
Có vòng máu Chết phôi muộn Nở chậm
50 - 55 7,25 2,22 4,58 4,83 8,69 72,43
56 - 61 5,00 1,75 4,50 4,50 5,51 78,74
62 - 67 6,25 2,00 4,75 5,00 7,00 75,00
Điều này chứng tỏ rằng những quả trứng quá to hoặc quá bé, có
thành phần không cân đối đều cho tỷ lệ ấp nở kém, hay nói cách
khác chế độ ấp không phù hợp với trứng có khối lượng nằm ngoài
giới hạn (quá to hoặc quá bé).
Ngoài khối lượng, các chỉ tiêu hình thái của trứng, độ biến dạng của
vỏ trứng ở các mức độ khác nhau đều có ảnh hưởng tới tỷ lệ ấp nở
là chất lượng gà con.
* Chăm sóc đàn gà bố mẹ
Chăm sóc nuôi dưỡng tối ưu cho đàn gà bố mẹ có ý nghĩa rất lớn
trong việc cải thiện chất lượng trứng và nâng cao tỷ lệ ấp nở của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14
trứng ấp. Qua nhiều nghiên cứu thực nghiệm người ta đ• xác định
được rằng việc giảm tỷ lệ nở trong khoảng 25 % trường hợp liên
quan tới sự khiếm khuyết trong chăm sóc nuôi dưỡng, trên 25 %
phụ thuộc vào điều kiện bảo quản trứng, trên 7,5% do vi phạm chế
độ ấp và trên 5% do yếu tố di truyền. Còn lại 37,5% trường hợp liên
quan tới sự tổng hợp của nhiều yếu tố.
Thường thì khi trong thức ăn của đàn gà bố mẹ thiếu một số chất
cần thiết thì sẽ dẫn tới hậu quả chết phôi cao, tỷ lệ ấp nở thấp. Điều
dễ nhận thấy nhất là khi trong khẩu phần thiếu Vitamin nhóm B,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 15
ngàn vi khuẩn, trong đó trực khuẩn đường ruột chỉ biến động từ 0 -
15. Cho nên chế độ thu nhặt trứng cần phải phù hợp với đặc điểm
sinh học của các loại gia cầm khác nhau.
Hầu hết các cơ sở chăn nuôi gia cầm ở nước ta, việc vân chuyển
trứng ấp từ chuồng đến nơi bảo quản thường được sử dụng xe kéo,
hoặc xe vận tải nhỏ, chưa có xe chuyên dụng. Vì vậy cần lưu ý là
mức độ xóc của xe cũng có ảnh hưởng, làm giảm chất lượng trứng,
do xóc tạo chấn động gây cho buồng trứng bị lệch vị trí.
Vận chuyển trứng khi đi xa cần phải bao gói cẩn thận, có thể dùng
khay chuyên dụng để trứng cho vào lồng nhựa hoặc hộp giấy
coston. Trứng được vận chuyển đến nơi nhận cần được dỡ ra và để
trứng cố định từ 10 - 12 giờ trong phòng có nhiệt độ thích hợp,
không khí thoáng mát.
* Điều kiện bảo quản trứng
Ngoài đảm bảo sự tối ưu các thông số về nhiệt độ, ẩm độ, trao đổi
khí trong quá trình bảo quản trứng, người ta còn đưa ra nhiều biện
pháp khác nhau tác động đến trứng trước khi đưa trứng vào ấp nhằm
nâng cao chất lượng ấp nở của gia cầm.
1.1.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thịt gia cầm
Mức sống của con người càng cao thì nhu cầu tiêu thụ thịt càng lớn
và những sản phẩm thịt chất lượng cao (ít mỡ giàu protein) đòi hỏi
ngày càng nhiều. Thịt gia cầm là một trong những loại thịt có thể
đáp ứng được yêu cầu này. Nâng cao năng suất thịt và cải thiện chất
lượng thịt là mục tiêu phấn đấu không ngừng của các nhà chăn nuôi.
1.1.3.1. Những yêu cầu đối với chất lượng thịt
Khi gia cầm còn sống, cần đặc biệt chú ý đến sức khoẻ của chúng,
cầm quý hiếm, việc áp dụng phương thức chăn nuôi, chế độ dinh
dưỡng, chăm sóc, phương thức giết mổ và bảo quản, tất cả đều có
tác động đến chất lượng thịt gia cầm.
- Giống gia cầm: Đây là yếu tố rất quan trọng liên quan chặt chẽ đến
chất lượng thịt, thông qua việc chọn lọc, nhân thuần qua nhiều thế
hệ, các nhà khoa học đ• chọn ra các giống gia cầm có chất lượng
thịt có đặc thù riêng.
Trong các loại gia cầm thì thịt gà và thịt gà tây có chất lượng dinh
dưỡng tốt như: Thịt gà và thịt gà tây màu trắng (thịt thuỷ cầm có
màu đỏ), cơ trắng có giá trị sinh học cao hơn cơ đỏ vì trong đó
không chỉ chứa nhiều protein, mà tỷ lệ giữa protein toàn phần và
không toàn phần cũng như giữa các aixit amin đều tốt hơn. Phần lớn
các nhà nghiên cứu đều công nhận rằng: Các giống gia cầm địa
phương chăn nuôi tự nhiên như: Gà Ri, Gà thịt đen, Vịt cỏ, Ngỗng
cỏ đều có chất lượng thịt tốt hơn so với các giống mới do con
người tạo ra thông qua lai tạo. Giữa chất lượng thịt và năng suất thịt
có mối quan hệ nghịch, thường các giống có năng suất cao thì cho
chất lượng thịt kém. Để giải quyết vấn đề này các nhà tạo giống đ•
cho lai tạo giống gia cầm địa phương, có chất lượng thịt cao so với
các giống cao sản, vừa giữ được chất lượng thịt vừa nâng cao năng
suất chăn nuôi. Ngoài yếu tố giống, vấn đề chăm sóc, quản lý nuôi
dưỡng cũng ảnh hưởng tới chất lượng thịt. Rudlf và Frodshe đ•
nghiên cứu ảnh hưởng của các hàm lượng ngô khác nhau trong thức
ăn hỗn hợp đến kết quả vỗ béo vịt thấy rằng: Ngô có ảnh hưởng rõ
rệt đến khối lượng cơ thể vịt khi vỗ béo. Những lô được ăn thức ăn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 17
kháng sinh, để tránh sự tồn dư trong thịt không nên sử dụng trước
khi giết thịt 2 tuần và đúng liều quy định.
Ngoài thức ăn thì các vấn đề khác như: phương thức nuôi, chăm sóc
quản lý cũng có liên quan đến chất lượng thịt. Gà nuôi chăn thả có
chất lượng thịt tốt hơn, hàm lượng mỡ trong thịt ít hơn và có độ
chắc cao hơn so với gà nuôi nhốt. Vấn đề nuôi chăn thả không phải
chỉ do gà vận động nhiều làm giảm tỷ lệ mỡ, thớ thịt chắc chắn mà
còn liên quan đến việc gà có thể kiếm được các loại thức ăn đa dạng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 18
ở môi trường, gà được tiếp xúc với môi trường hoàn toàn tự nhiên
sẽ làm chất lượng thịt ngày càng tăng lên.
Vấn đề chăm sóc quản lý mà cụ thể là cách đối xử với con vật trước
lúc giết cũng có ảnh hưởng đến chất lượng thịt. Một số tác giả
khẳng định rằng nếu làm cho con vật mệt mỏi quá mức khiến thịt
trở nên nhạt nhẽo và làm tăng khả năng xâm nhập của vi sinh vật
qua các màng ruột.
Vận chuyển gia súc cũng liên quan đến chất lượng thịt. Richter đ•
xác định rằng: Các gia súc lớn sau một thời gian vận chuyển dài
ngày có ít nước trong thịt hơn 0,5% so với các con vật chỉ bị vận
chuyển trong một thời gian ngắn. Do lượng glycogen dự trữ bị giảm
đi trong quá trình vận chuyển để giải phóng năng lượng và axit
lactic trong thịt cũng giảm theo, dần dần độ pH trong thịt cũng tăng
lên làm giảm gía trị của thịt. Các quá trình hoá học này không
những ảnh hưởng đến hình thức bên ngoài của thịt xẻ mà còn ảnh
hưởng tới khả năng kết hợp của nước (dẫn theo Nguyễn Duy Hoan,
Bùi Đức Lũng, Nguyễn Thanh Sơn và Đoàn Xuân Trúc, 1999 [10]).