Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sinh trưởng và sinh sản của con lai giữa gà d304 và gà HA1 - Pdf 22

1
PHẦN I. MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Chăn nuôi gia cầm chiếm một vị trí quan trọng trong việc cung cấp thực phẩm.
Trứng và thịt gia cầm có giá trị dinh dưỡng cao, tương đối đầy đủ và cân đối các chất.
Trứng gia cầm có tới 12,5% protein và thịt gia cầm chứa 21 - 22,5% protein. Trong
chăn nuôi gia cầm, chăn nuôi gà là nghề đã có từ rất lâu đời, gắn liền với đời sống của
nhiều nông hộ. Chăn nuôi gà có nhiều ưu điểm như: Gà là giống gia cầm có hiệu suất
chuyển hóa thức ăn thành sản phẩm cao, thời gian cho sản phẩm ngắn hơn nuôi lợn,
trâu bò Một gà thịt đạt khối lượng 50 lần khối lượng sơ sinh chỉ sau 8 tuần lễ, con
số này ở lợn là 20 lần trong 26 tuần, ở bò là 6 - 7 lần trong 52 tuần.
Tuy ngành chăn nuôi gia cầm có khá nhiều điểm mạnh nhưng cũng bộc lộ
không ít những khó khăn như: giống có chất lượng thấp, thức ăn kém chất lượng,
chăn nuôi nhỏ lẻ, thường xuyên chịu tác động của dịch bệnh,… Do vậy muốn chăn
nuôi đạt được năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao thì đòi hỏi phải có con
giống năng suất, chất lượng cao, thức ăn phải cân đối dinh dưỡng, quy trình thú y an
toàn sinh học phải thực hiện nghiêm ngặt. Trong các yêu cầu đó, con giống chất
lượng cao là yêu cầu đầu tiên.
Để góp phần giải quyết vấn đề trên, xuất phát từ yêu cầu của công tác nghiên
cứu và thực tế sản xuất, chúng tôi đã chọn hai đối tượng là gà D304 và HA1 làm
nguyên liệu lai, cho con lai chất lượng cao. Trong đó, gà HA1 được Trung tâm
nghiên cứu gia cầm Thụy Phương chọn tạo thành công và nghiệm thu năm 2010. Gà
HA1 có năng suất trứng đạt 232,88 quả/mái/72 tuần tuổi, trứng màu trắng hồng, khối
lượng trứng nhỏ 40,0 - 42,0g, chất lượng trứng rất thơm ngon phù hợp với thị hiếu
người tiêu dùng. Tuy nhiên, năng suất này vẫn thấp hơn so với một số gà trên thế giới.
Gà D304 được Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương nhập từ cộng hòa Séc vào
tháng 7/2011, gà có lông màu trắng, cổ có cườm đen, năng suất trứng cao đạt 273,6
3
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

I. Cơ sở khoa học của đề tài
1. Cơ sở khoa học nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
1.1. Cơ sở khoa học nghiên cứu ngoại hình
Ngoại hình là hình dáng bên ngoài mang đặc điểm của giống, phản ánh tình
trạng sức khỏe, kết cấu các bộ phận bên trong cũng như thể hiện khuynh hướng, khả
năng sản xuất, giá trị kinh tế và là đặc điểm hình dáng đặc trưng phẩm giá của vật
nuôi [17]. Vì vậy ngoại hình là một trong những tiêu chí đánh giá chọn lọc vật nuôi.
Ngoại hình của gà bao gồm: Vóc dáng, màu sắc lông, da, hình dạng, màu sắc mỏ,
mào, chân.
Vóc dáng của gà được thể hiện qua kích thước một số chiều đo. Vóc dáng là đặc
điểm thể hiện rõ nhất hướng sản xuất của gà. Gà hướng trứng thường có ngoại hình cân
đối, thân dài, rộng và sâu, ngực rộng, hơi nhô về phía trước, bụng rộng, khoảng cách
giữa hai chân rộng. Khoảng cách từ đầu mút của xương lưỡi hái đến điểm sau
cùng của xương ngồi và khoảng cách giữa hai mỏm xương háng rộng. Gà hướng
thịt có ngực sâu rộng, cơ ngực, cơ đùi, cơ ức, cơ lườn và cơ lưng phát triển, thân
tròn hình trụ, xương lưỡi hái to. Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có
hướng kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng. Schuberth và Ruhland (1978,

giá sức khoẻ của gia cầm. Khi buồng trứng hoạt động bình thường thì mào lớn,
chứa nhiều máu nên gà đẻ mào có màu đỏ tươi. Trong chọn giống nếu chọn gà thịt
nên chọn con có mào màu đỏ tươi, nếu là giống gà mào đơn thì mào phải thẳng
đứng, răng cưa thưa đều.
Mào gà khá đa dạng về hình thù, kích thước, màu sắc, đặc trưng cho từng
giống và là đặc điểm phân biệt trống mái như: mào đơn (mào cờ) ở gà Ri, gà Mía;
mào hoa hồng (mào giống như hoa mào gà) ở gà Hồ, Đông Tảo; mào quả dâu và
mào hình hạt đậu (không có mào điển hình) ở gà chọi. Hình dạng mào gà do các
gen nằm trên nhiễm sắc thể thường quy định. Khi có mặt gen Ab gà sẽ có dạng hoa
5
hồng (mào đôi). Khi có mặt gen aB thì gà có mào nụ và gen ab có dạng mào cờ
(mào đơn).
Mỏ: có nguồn gốc vảy sừng, cứng, chắc. Gà có mỏ dài và mảnh thì khả năng
sản xuất giảm. Ngược lại, gà mái đẻ tốt có mỏ ngắn, chân có vẩy chắc, móng ngắn.
Những giống gà da vàng thì mỏ cũng vàng, gà da đen thì mỏ cũng tối màu.
Chân: thường có 4 ngón, cá biệt có giống 5 ngón (gà Ác), chân có vảy sừng bao
bọc, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Da chân có thể màu vàng, trắng đen (gà Ác) hay
đỏ (gà Chọi). Đặc điểm chân cao có liên quan đến khả năng cho thịt thấp và khả năng
phát dục chậm, gà mái có chân thấp thì khả năng đẻ tốt.
1.2. Cơ sở khoa học nghiên cứu tập tính
Tập tính (behaviour): Tập tính động vật là những phản ứng, là cách mà cơ thể động
vật trả lời với các tác nhân kích thích. Hay tập tính là mọi vận động, cử động hoặc ngừng
cử động có thể quan sát trực tiếp trong đời sống hàng ngày của con vật.
Căn cứ vào đặc điểm và khả năng tiến hóa, phân biệt ba loại tập tính:
Tập tính bẩm sinh (bản năng, nguyên thủy): Là loại tập tính có tính bản năng
được quyết định bởi yếu tố di truyền, con vật mới sinh ra đã có, không thay đổi
được. Loại tập tính này thường gắn liền với hoạt động sống còn của con vật như

Nhìn chung, tập tính là một tính trạng được sử dụng trong chọn giống bởi
chúng đảm bảo cho sự tồn tại của loài trước môi trường vốn luôn biến động. Mặt
khác, chỉ tiêu cơ bản của ngành chăn nuôi là năng suất, điều này liên
Cơ quan thụ cảm
(ngoài hoặc trong)
Kích thích trong
(hoocmon,
nội thể)
Kích thích ngoài
(vật lý, cơ học,
hóa học)
Cơ quan thực hiện
phản ứng thích
hợp
Thần kinh
trung ƣơng
7
quan tới trạng thái tối ưu của vật nuôi. Trạng thái đó biểu hiện bên ngoài bằng các
tập tính. Vì vậy nghiên cứu về tập tính có ý nghĩa rất quan trọng cả về lý thuyết lẫn
thực tiễn.
2. Bản chất di truyền của tính trạng sản xuất
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm, được nuôi
trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di truyền số lượng và
ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính trạng đó. Hầu hết các tính
trạng về năng suất của gia cầm như sinh trưởng, sinh sản, tăng trưởng, đẻ trứng đều
là các tính trạng số lượng.
Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng là do các gen quy định. Các tính

D là giá trị sai lệch trội
I là giá trị sai lệch tương tác
Ngoài ra, các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng của môi trường. Có hai
loại môi trường chính:
- Môi trường chung (Eg) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn
bộ các cá thể trong nhóm vật nuôi. Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như:
thức ăn, khí hậu, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng
- Môi trường riêng (Es) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ
lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai đoạn nhất định trong cuộc đời
con vật. Loại này có tính chất không thường xuyên.
Nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh, quan hệ của kiểu hình
(P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể:
P = A + D + I + Eg + Es
Qua phân tích cho thấy các giống gia cầm, cũng như các giống sinh vật khác,
con cái đều nhận được ở bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng nào đó.
Tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền, nhưng khả
năng đó phát huy được hay không còn phụ thuộc vào môi trường sống như: chế độ
chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý,
Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung (g),
mức độ biến dị (CV%), hệ số di truyền của các tính trạng (h
2
), hệ số lặp lại của các
tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng, v.v
2.1. Sức sống và khả năng kháng bệnh của gà
9
Sức khỏe của gia cầm tốt sẽ làm tăng khả năng sản xuất của bản thân chúng,
đồng thời tạo ra thế hệ sau cũng khỏe mạnh và có sức sản xuất cao hơn, vì vậy nó

được chăm sóc nuôi dưỡng tốt thì thành thục sinh dục sớm hơn so với cá thể nuôi
kém.
Ngày tháng nở của gà con hay nói chính xác là độ dài của ngày chiếu sáng,
khoảng thời gian chiếu sáng tự nhiên hay nhân tạo cũng ảnh hưởng tới khả năng
thành thục về tính. Theo Lương Thị Hồng (2005) [21] gà Leghorn ấp nở quanh
năm, tuy nhiên những gà ấp nở vào tháng 12 và tháng 1 có tuổi thành thục về tính
dục là 150 ngày, những gà ấp nở từ tháng 4 đến tháng 8 thì tuổi thành thục về tính
dục trên 170 ngày.
Trong chăn nuôi người ta rất chú trọng đến chương trình chiếu sáng. Các nhà
chăn nuôi thường áp dụng chương trình chiếu sáng giảm dần trong giai đoạn nuôi
hậu bị. Trước thời gian đẻ vài ngày, người ta thường tăng thời gian chiếu sáng để
kích thích phát dục và sau đó chiếu sáng theo quy trình chăn nuôi gia cầm đẻ để ánh
sáng tăng dần tới 15 - 16 giờ chiếu sáng/ngày.
Hướng sản xuất cũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính dục. Các giống gà
hướng trứng có tuổi đẻ quả trứng đầu tiên sớm hơn. Gà TP1: 168 ngày, TP2 165 ngày,
TP3: 169 ngày, TP4: 185 ngày, gà TM1: 143 ngày, gà TM2: 141 ngày, gà HA1: 140
ngày, gà HA2: 143 ngày theo Phùng Đức Tiến và cs (2010) [52].
Thông thường gà bắt đầu đẻ từ 20 - 21 tuần và chỉ sản xuất trong vòng một
năm, sau đó mức độ đẻ giảm sút so với lượng thức ăn tiêu thụ nên nếu tiếp tục nuôi
sẽ không có hiệu quả kinh tế.
Ngoài ra để đánh giá khả năng sinh sản của giống người ta còn chú ý tới tuổi
đạt 50% và tuổi đẻ đạt đỉnh cao.
Theo Phùng Đức Tiến và cs (2011) [53] khối lượng cơ thể và khối lượng trứng gà
TMH1, TMH2 ở các thời điểm 5% và 50% đạt 1444,33 - 42,33g; 1618,66 - 50,84 và
1418,66 - 41,69g; 1669,33 - 46,98g.
2.2.2. Năng suất trứng
Năng suất trứng là số trứng trung bình của mái đẻ trong một khoảng thời gian
nhất định. Đây là chỉ tiêu quan trọng xác định khả năng hoạt động của hệ sinh dục ở gia
cầm. Theo Brandsch và Bichel (1978) [12] năng suất trứng được tính theo năm sinh


Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng, gà mái già hàm lượng tiroxin ít hơn các gà
mái tơ khá nhiều.
Nuôi dưỡng: Sản lượng trứng sẽ giảm sút nếu không cung cấp đầy đủ các chất
dinh dưỡng cho cơ thể. Gà có thể không đẻ nếu các chất dinh dưỡng được cung cấp
12
kém phẩm chất. Theo Phùng Đức Tiến (dẫn theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận
(2003) [32]) khi bổ sung vào khẩu phần ăn cho gà mái đẻ methionin 0,1% làm tăng
tỉ lệ đẻ tới 67,78%. Gà mái đẻ nhu cầu về nước uống rất quan trọng, nước uống
không những giúp duy trì sống mà còn đảm bảo sự sản xuất trứng. Gà đẻ sản lượng
trứng càng cao thì nhu cầu về nước uống càng lớn.
Sự thay lông: Gà thay lông sớm, thời gian thay lông kéo dài sức đẻ thấp, gà
thay lông muộn và thay lông nhanh sức đẻ phục hồi nhanh và cao.
Khí hậu: Gà rất nhạy cảm với ánh sáng vì ánh sáng có tác động mạnh đến tuổi
thành thục về tính theo cơ chế: ánh sáng tác động lên mắt, thông qua dây thần kinh
lên não bộ, từ đó tác động lên vùng dưới đồi, kết quả giải phóng hoocmon LH và
hoocmon Gonandotropin. Các hoocmon này kích thích sự phát triển của nang trứng
và điều tiết quá trình rụng trứng. Gà mái đẻ được chuyển từ chế độ chiếu sáng ngắn
sang chế độ chiếu sáng dài sẽ có sức đẻ trứng tăng lên và chuyển từ chế độ chiếu
sáng dài sang chế độ chiếu sáng ngắn sẽ giảm sức đẻ trứng. Gà mái đẻ cần 14 - 16
giờ chiếu sáng/ngày [20]. Ngoài ánh sáng, sản lượng trứng còn chịu tác động của
nhiệt độ, độ ẩm, …
Nghiên cứu của Hays (1944), Albada (1955) (dẫn theo Trịnh Đình Đạt (2002) [9])
cho rằng sản lượng trứng do 5 yếu tố quyết định và được sắp xếp theo thứ tự quan trọng là:
Thời gian kéo dài sự đẻ trứng, cường độ đẻ, thời gian nghỉ đẻ mùa đông, tuổi thành thục và
bản năng đòi ấp. Cụ thể:
Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ: do cặp gen P và p điều hành.
Cường độ đẻ: yếu tố này do hai cặp gen R và r, R’ và r’ điều hành.

Thanh Bình (2012) [3] gà TP1, TP3 có năng suất trứng lúc 68 tuần tuổi lần lượt là
181,140 trứng /máivà 183,53 trứng/mái. Nghiên cứu của Phùng Đức Tiến và cs (2010)
[52] trên đàn gà Hung nhập nội đạt tỉ lệ đẻ cao nhất vào tuần đẻ thứ 8: 65,12%. Nghiên
cứu của Nguyễn Ngọc Dụng và cs (2010) (dẫn theo Phùng Đức Tiến (2010) [52]) cho
thấy tỉ lệ đẻ của 2 dòng gà tây màu đồng và gà tây màu thiếc đều đạt đỉnh cao ở tháng đẻ
thứ 2 là 50,73% - 48,95%.
2.2.3. Khối lượng trứng
Khối lượng trứng là khối lượng trung bình của các trứng đẻ trong một năm. khối
lượng trứng của gia cầm thuộc nhóm tính trạng số lượng chịu ảnh hưởng của nhiều
gen, do vậy có thể nâng cao tính trạng bằng cách chọn lọc. Tuy nhiên, đến nay người ta
cũng chưa xác định được chính xác số lượng gen quy định tính trạng này.
Sau sản lượng trứng thì khối lượng trứng là một chỉ tiêu cấu thành năng suất ở gia
cầm. Hệ số di truyền của tính trạng này theo một số kết quả nghiên cứu là: 0,48 - 0,8
theo Brandsch và Buelchel (dẫn theo Nguyễn Viết Thái (2012) [45]), 0,6 - 0,74 theo
Nguyễn văn Thiện [46], 0,46 - 0,48 theo Comstock và cs [62], 0,44 - 0,74 theo Waters
[72], 0,54 theo Pencheva [68].
14
Khối lượng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố:
Giống và tuổi thành thục về tính của gia cầm: Gia cầm đẻ càng sớm thì trứng
càng nhỏ, tuổi gia cầm càng cao thì khối lượng trứng càng lớn.
Môi trường: Chế độ chiếu sáng cũng ảnh hưởng đến khối lượng trứng của gia
cầm. Theo Moris (1973) (dẫn theo Phạm Thị Minh Thu và cs (2004) [47]) ở chế độ
chiếu sáng 14 giờ sáng và 13 giờ tối thì khối lượng trứng gà tăng 1,4g so với chế độ
chiếu sáng 14 giờ sáng và 10 giờ tối, trong khi đó ở chế độ chiếu sáng 14 giờ sáng
và 16 giờ tối thì khối lượng trứng tăng lên 2,9g so với chế độ 14 giờ sáng và 10 giờ
tối.
Chế độ dinh dưỡng: Khi thiếu protein có ảnh hưởng rõ đến khối lượng trứng.

(Brandsch và Biilchel, 1978, Nguyễn Chí Bảo dịch) [4], đặc trưng cho mỗi giống.
Màu sắc vỏ trứng được quyết định bởi các hạt sắc tố porphyrin tiết ra ở phần tử
cung của ống dẫn trứng. Màu sắc vỏ trứng gia cầm đa dạng: nâu, xanh, trắng,
đốm Thường những quả trứng đẻ đầu chu kỳ có màu đậm hơn. Phần lớn trứng gà
siêu trứng có vỏ màu nâu, gà siêu thịt có vỏ màu trắng hồng hay trắng sáng. Do
phần lớn gà nội có vỏ màu trắng hồng hay trắng sáng nên người tiêu dùng cũng ưa
chuộng trứng có hai màu.
Màu sắc vỏ trứng không ảnh hưởng đến chất lượng trứng nhưng có ảnh hưởng
đến kỹ thuật soi trứng khi ấp và thị hiếu của người tiêu dùng.
Màu sắc vỏ trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Giống, dòng, chế độ chăm sóc,…
Bề mặt vỏ trứng: Thông thường trứng gia cầm đẻ ra có bề mặt trơn, đều, song
bên cạnh đó cũng có một số cá thể thường đẻ ra những trứng có bề mặt xấu, xù xì,
méo mó có vệt canxi hay đường gờ lượn sóng, loại trứng này có ảnh hưởng xấu đến tỉ
lệ ấp nở cũng như thị hiếu của người tiêu dùng .
Khối lượng trứng
Khối lượng trứng là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất
lượng trứng và sản lượng trứng tuyệt đối của gia cầm.
Trong kỹ thuật lựa chọn trứng ấp, những quả trứng có khối lượng xung quanh
khối lượng trung bình của giống luôn có kết quả ấp nở tốt nhất. Khối lượng trứng càng
xa trị số trung bình thì tỉ lệ nở càng thấp. Trong một đời gà đẻ, khối lượng trứng tăng
dần từ khi đẻ bói, cho đến khi đẻ đỉnh cao thì ổn định, vì vậy để xác định khối lượng
trứng của một dòng hay giống, nên xác định ở thời điểm 28 - 32 tuần tuổi đối với gà
hướng trứng, 30 - 34 tuần tuổi đối với gà hướng thịt.
16
Khối lượng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Loài, giống, hướng sản xuất, cá
thể, chế độ dinh dưỡng, tuổi gà mái, khối lượng gà mái
Vỏ trứng bảo vệ trứng tránh tác động cơ học và các vi khuẩn xâm nhập. Thành

17
chỉ số này không dưới 0,09 và ở giống kiêm dụng khoảng 0,08. Nguyễn Huy Đạt và
cs (2001) [10] cho biết, trứng gà Lương Phượng có chỉ số lòng trắng và lòng đỏ ở
38 tuần tuổi tương ứng là 0,14 và 0,53; ở 60 tuần tuổi tương ứng là 0,091 và 0,49.
Ngoài chỉ số lòng trắng, chất lượng lòng trắng còn được xác định qua đơn vị
Haugh. Đơn vị này phụ thuộc vào khối lượng trứng và chiều cao lòng trắng đặc.
Đơn vị Haugh càng cao, chất lượng trứng càng tốt. Thực nghiệm đã chứng minh
rằng những quả trứng chênh lệch nhau dưới 8 đơn vị Haugh thì có chất lượng trứng
tương đương nhau [11].
Đơn vị Haugh bị ảnh hưởng bởi thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà
càng già trứng có đơn vị Haugh càng thấp), bệnh tật, nhiệt độ, thay lông (sau thay lông
đơn vị Haugh cao hơn trước thay lông) và giống. Theo Peniond Jkevich và cs (dẫn theo
Bạch Thanh Dân (1995) [6]), chất lượng trứng được đánh giá rất tốt nếu có chỉ số
Haugh: 80 - 100, tốt: 65 - 79, trung bình: 55 - 64 và xấu dưới 55. Nguyễn Huy Đạt và
cs (2001) [10] cho biết, trứng gà Lương Phượng có chỉ số Haugh ở 38 tuần tuổi đạt
94,4 và 60 tuần tuổi đạt 91,1. Phùng Đức Tiến và cs (2011) [53] cho biết, trứng gà
TM1 và trứng gà TM2 có chỉ số Haugh ở 38 tuần tuổi lần lượt đạt 84,81 và 83,37.
Chất lượng lòng đỏ: Lòng đỏ là một tế bào khổng lồ được bao bọc bởi một lớp
màng mỏng có tính đàn hồi lớn, là nguồn dinh dưỡng dự trữ cho phôi.
Lòng đỏ trứng có cấu tạo: lớp màng dày 6 - 11mm, đĩa phôi màu trắng sáng có
đường kính 3 mm. Lòng đỏ có các lớp đậm nhạt khác nhau sẽ là nguồn dinh dưỡng dồi
dào cho phôi. Ngoài ra, còn có mầm sống gắn chặt vào lòng đỏ tạo thành đĩa phôi.
Chỉ số lòng đỏ được tính bằng tỷ số giữa chiều cao và đường kính của nó. Chỉ số
lòng đỏ biểu hiện trạng thái và chất lượng của lòng đỏ, chỉ số này này cao chứng tỏ
trứng có chất lượng tốt, trứng gia cầm tươi chỉ số này là 0,4 - 0,5.
Chỉ số lòng đỏ phụ thuộc vào đặc điểm loài, giống, cá thể, thời gian bảo quản trứng.
Chỉ số lòng đỏ của một số giống gà: Gà TM1, TM2 lần lượt là 26,05% và

Tỉ lệ trống/mái: Tỉ lệ trống/mái trong một đàn gà tùy từng giống. Nếu thiếu
trống phải bổ xung cho phù hợp. các giống gà nhẹ cân tỉ lệ này là 1 trống với 10 -
15 mái, gà kiêm dụng loại cân nặng trung bình là 1 - 8 đến 1 - 10, giống gà chuyên
hướng thịt tỉ lệ này thấp hơn. Khi đàn gia cầm già thì giảm số gà mái/trống.
Kỹ thuật nhân giống: Ảnh hưởng đến tỉ lệ thụ tinh. Nếu cho giao phối đồng
huyết sẽ giảm tỉ lệ thụ tinh.
Yếu tố dinh dưỡng: Dinh dưỡng của đàn bố mẹ có ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ
thụ tinh. Khẩu phần ăn không đủ các chất dinh dưỡng cần thiết làm giảm tỉ lệ thụ
19
tinh. Nếu khẩu phần ăn thiếu protein, phẩm chất tinh dịch sẽ kém vì đây là nguyên
liệu cơ bản để hình thành tinh trùng. Nếu thiếu các vitamin, đặc biệt là vitamin A, E
thì cơ quan sinh dục phát triển không bình thường, từ đó ảnh hưởng đến khả năng
sinh tinh và các hoạt động sinh dục.
Điều kiện ngoại cảnh: Là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới tỉ lệ thụ
tinh.
Thời gian chiếu sáng 10 - 12 giờ/ngày cho tỉ lệ trứng có phôi tốt nhất, nếu
chiếu sáng quá 14 giờ/ngày, gà mái bị kích thích, gà mái bị hưng phấn quá giảm
tỉ lệ thụ tinh [57].
Nhiệt độ thấp hơn hay cao hơn so với quy định đều ảnh hưởng tới tỉ lệ thụ tinh do
rối loạn quá trình trao đổi chất của cơ thể. Tỉ lệ thụ tinh thường cao vào mùa xuân và
mùa thu, giảm vào mùa hè nhất là vào những ngày nắng nóng.
Khi độ ẩm chuồng nuôi quá cao, lớp độn chuồng ẩm ướt, gà trống rất dễ mắc
bệnh ở chân, kết quả tỉ lệ thụ tinh giảm. Tuy nhiên, nếu độ ẩm quá cao gà dễ mắc
các bệnh đường ruột, chuồng nuôi kém thông thoáng, hàm lượng khí độc trong
chuồng nuôi tăng lên, do vậy ảnh hưởng đến sức khoẻ và gián tiếp làm giảm tỉ lệ thụ
tinh.
Tỷ lệ ấp nở

lượng tinh trùng, mật độ của chúng sẽ thấp, lâu dài có thể gây thoái hóa dịch hoàn.
Bên cạnh đó, các yếu tố di truyền gây chết và nửa gây chết cũng làm giảm tỉ lệ ấp
nở do các gen làm gà con không thể nở ra hết hoặc chết trong giai đoạn đầu của phôi.
2.3. Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn
2.3.1. Khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là một quá trình sinh học phức tạp, được duy trì từ khi phôi thai
được hình thành, đến khi con vật thành thục về tính. Hay sinh trưởng là sự tích lũy
chất hữu cơ do quá trình trao đổi chất (đồng hóa, dị hóa) làm cho cơ thể tăng lên về
khối lượng, thể tích của từng cơ quan, bộ phận và toàn bộ cơ thể.
Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem là quá trình tổng hợp protein, nên
thường lấy việc tăng khối lượng làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng. Tuy
nhiên, không phải cứ tăng trọng là có sinh trưởng như béo mỡ do tích nước, không
có sự phát triển của mô cơ. Với gia cầm, sinh trưởng được chia thành hai giai đoạn
chính là thời kỳ hậu phôi và thời kỳ trưởng thành.
21
Thực chất của sinh trưởng là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong
cơ thể vật nuôi. Sự sinh trưởng thông qua ba quá trình: Phân chia tế bào để tăng số
lượng, thể tích của tế bào và tăng thể tích giữa các tế bào.
Thí nghiệm cổ điển của Hammond (1959) (dẫn theo Vũ Ngọc Sơn (2006) [42])
đã chứng minh sự sinh trưởng của các mô cơ được diễn ra theo các trình tự sau:
Hình thành hệ thống chức năng tiêu hóa, nội tiết; hình thành hệ thống khung xương;
hình thành và phát triển hệ thống xương khớp và tích lũy mỡ.
Theo Chambers J. R (1990) [61] đường cong sinh trưởng của gà có 4 đặc
điểm chính:
Pha sinh trưởng tích lũy tăng nhanh tốc độ sau nở
Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất
Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn

Theo Jull M.A (1972) (dẫn theo Phùng Đức Tiến (1996) [51]) gà trống có tốc
độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32%. Tác giả cũng cho biết sự sai khác này
do gen liên kết với giới tính, những gen ở gà trống (2 nhiễm sắc thể) hoạt động
mạnh hơn ở gà mái (1 nhiễm sắc thể). Theo North M.O và cs (1990) (dẫn theo
Nguyễn Viết Thái (2012) [45]) đã rút ra kết luận: lúc mới nở gà trống nặng hơn gà
mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn. Ở 2 tuần tuổi hơn 5%, 3 tuần tuổi
hơn 11%, 4 tuần tuổi hơn 27%, 5 tuần tuổi hơn 17%, 6 tuần tuổi hơn 20%, 7 tuần
tuổi hơn 23%, 8 tuần tuổi hơn 27%.
Dựa vào sự chênh lệch khối lượng cơ thể giữa gà trống và gà mái, người ta đã
tách riêng trống, mái từ một ngày tuổi, phương pháp này đem lại hiệu quả cao trong
chăn nuôi. Tùy mục đích chăn nuôi mà từng đàn có thể có tỉ lệ trống, mái khác
nhau. Đàn nuôi lấy trứng có tỉ lệ mái nhiều hơn trống, đàn nuôi thịt tỉ lệ trống nhiều
hơn.
Tuổi: Cũng như các loài vật nuôi khác, quá trình sinh trưởng phát dục ở gia
cầm chịu sự chi phối của quy luật sinh trưởng phát dục theo giai đoạn. Theo
BoZKO P.E (1973) (dẫn theo Lê Huy Liễu (2010) [30]) cho thấy, trong độ tuổi từ
mới nở đến 60 ngày, quá trình sinh trưởng của gà chia làm 3 giai đoạn:
Từ mới nở đến 10 ngày: gà con chưa điều tiết được thân nhiệt, chưa có sự khác
nhau về sinh trưởng giữa gà trống và gà mái, cơ xương mềm yếu, gà ít vận động, buồn
ngủ, phản ứng với ngoại cảnh kém, gà có tốc độ sinh trưởng nhanh.
23
Từ 11 đến 30 ngày: gà sinh trưởng rất nhanh, có sự khác biệt rõ rệt giữa con
trống và con mái về tốc độ sinh trưởng, màu sắc lông và các đặc điểm thứ cấp, gà
chuyển hóa thức ăn tốt, cơ quan điều tiết thân nhiệt đã hoàn thiện.
Từ 31 đến 60 ngày: khối lượng tăng nhanh, các phản xạ về thức ăn, nước
uống, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đã được củng cố bền vững, gà con kết thúc
quá trình thay lông tơ bằng lông vũ.

biệt là giai đoạn gà con, gà hậu bị. Khối lượng cơ thể gà phản ánh chế độ chăm sóc
nuôi dưỡng có hợp lý hay không và chúng liên quan chặt chẽ tới khả năng sinh sản.
Khối lượng cơ thể là tính trạng có hệ số di truyền khá cao (40 - 60%) và phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như: tính di truyền, tính biệt, tuổi, tốc độ mộc lông, chế độ chăm sóc
nuôi dưỡng,… Khối lượng thường được theo dõi theo tuần tuổi.
Khối lượng cơ thể của gà mái trong giai đoạn đẻ là một chỉ tiêu quan trọng, có
liên quan tới khối lượng trứng đẻ ra và hiệu quả sử dụng thức ăn. Khối lượng gà
mái được kiểm tra ở 20 tuần tuổi (quan trọng nhất), khi tỉ lệ đẻ đạt 5%, 50% và đẻ
đỉnh cao. Theo Nguyễn Thị Mai (2000) [33] yêu cầu đạt được với gà mái sinh sản
hướng trứng: Đạt khối lượng chuẩn ở 20 tuần tuổi từ 1500 - 1650g, tùy giống mà có
độ đồng đều trên 80%, trong giai đoạn đẻ trứng gà không quá béo.
Tốc độ sinh trưởng: Đây là chỉ tiêu quan trọng trong chăn nuôi gia cầm vì
chúng phản ánh mức độ tăng lên về khối lượng, thể tích của bộ phận hay toàn bộ cơ
thể trong thời gian nhất định. Tốc độ sinh trưởng là những tính trạng tính di truyền
có liên quan đến những đặc điểm trao đổi chất. Điều này có ý nghĩa kinh tế rất lớn
với các gia cầm hướng thịt vì những giống, dòng gia cầm có khả năng sinh
trưởng nhanh thì có thể vỗ béo và giết thịt sớm hơn. Với gia cầm đẻ khối lượng
cơ thể gia cầm có ý nghĩa quan trọng bởi nó liên quan tới khả năng đẻ trứng và
hiệu quả sử dụng thức ăn. Gia cầm quá béo hoặc quá gầy đều có ảnh hưởng
không tốt đến khả năng đẻ trứng. Chính vì vậy, trong chăn nuôi gà đẻ, cần có
một chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng hợp lý để gà mái có khối lượng cơ thể đạt
chuẩn từ đó cho sức sản xuất trứng cao nhất.
Tốc độ sinh trưởng của gia cầm phụ thuộc vào nhiều yếu tố: Tính di truyền,
tính biệt, tốc độ mọc lông, chế dộ chăm sóc nuôi dưỡng,… Thông thường, người ta
sử dụng khối lượng ở các tuần tuổi, thể hiện bằng đồ thị sinh trưởng tích luỹ. Đồ thị sinh
trưởng tích lũy luôn có dạng hình chữ S.
25

, AV
53
, AV
135
cho biết TTTA/kg tăng

Trích đoạn Nội dung nghiên cứu Ngoại hình Tập tính Khảo sát chất lượng trứng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status