xác định một số đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của lợn hung hà giang - Pdf 24

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN MÃO
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM
NGOẠI HÌNH, KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
CỦA LỢN HUNG HÀ GIANG

Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60.62.01.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Trần Huê Viên
2. TS. Phạm Công Thiếu
THÁI NGUYÊN - 2013


Hoàng Su Phì, Uỷ ban nhân dân các xã Nậm Ty, Nậm Dịch, Hồ Thầu, Nam
Sơn, Bản luốc, Tụ Nhân, Bản Nhùng, Bản Péo, Ngàm Đăng Vài, Chiến Phố,
Thàng Tín là các cơ quan quản lí nhà nước trên địa bàn tôi triển khai, thực
hiện đề tài đã tạo điều kiện và giúp đỡ về nhân lực, vật lực tốt nhất để tôi hoàn
thành bản luận văn này.
Để hoàn thành bản luận văn này tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc
tới PGS.TS. Trần Huê Viên, TS. Phạm Công Thiếu là người thầy hướng dẫn
về khoa học, đã giúp đỡ tôi tận tình và có trách nhiệm trong quá trình nghiên
cứu cũng như hoàn thiện bản luận văn.
Xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi trong quá
trình xây dựng đề cương và thực hiện bản luận văn này. Nhân dịp này cho phép
tôi được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới gia đình đã tận tình giúp đỡ, động viên
khích lệ để tôi vượt qua mọi khó khăn hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, ngày 10 tháng 9 năm 2013
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Mão iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1

1.2.1.2. Kết quả nghiên cứu một số giống lợn nội phổ biến ở Việt Nam 30
1.2.1.3. Kết quả nghiên cứu một số giống lợn bản địa 35
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước 39
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1. Đối tượng nghiên cứu 42
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 42
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu 42
2.2.2. Thời gian nghiên cứu 42
2.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu 42
2.3.1. Nội dung nghiên cứu 42
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu 42
2.3.2.1. Điều tra điều kiện tự nhiên, xã hội, tình hình chăn nuôi lợn Hung tại
huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang 42
2.3.2.2. Đánh giá một số đặc điểm ngoại hình của lợn Hung 43
2.3.2.3. Đánh giá khả năng sinh sản của lợn Hung 43
2.3.2.4. Đánh giá khả năng sinh trưởng, cho thịt và chất lượng thịt lợn Hung . 44
2.3.2.5. Mổ khảo sát đánh giá khả năng cho thịt và chất lượng thịt lợn Hung . 45
2.3.2.6. Phương pháp phân tích thành phần hoá học thịt nạc 47
2.4. Phương pháp xử lý số liệu 48 v
Chƣơng 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 50
3.1. Điều tra đánh giá tình hình chăn nuôi lợn Hung về số lượng, cơ cấu,
phương thức chăn nuôi 50
3.1.1. Tình hình chăn nuôi lợn và lợn Hung tại Hoàng Su Phì - Hà Giang 50
3.1.2. Số lượng và cơ cấu đàn lợn Hung 51
3.1.3. Phương thức chăn nuôi lợn 53
3.2. Đặc điểm ngoại hình lợn Hung 55
3.3. Đặc điểm sinh lý sinh dục và khả năng sinh sản của lợn Hung 56

GRH
: Gonandotropine releasing hoormone
ISO
: International Organization for Standardization
(Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hoá)
LH
: Luteinizing Hormone
NN&PTNT
: Nông nghiệp và phát triển nông thôn
NST
: Nhiễm sắc thể
PRA
: Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia
PTNT
: Phát triển nông thôn
STT
: Số thứ tự
SWOT
: Sử dụng ma trận để phân tích lập kế hoạch
TB
: Trung bình
TCVN
:
TT
: Thị trấn
TTTĂ
: Tiêu tốn thức ăn


1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trên thế giới, chăn nuôi lợn là ngành sản xuất, kinh doanh lớn, thịt lợn
chiếm 40 % tổng lượng các loại thịt (thịt bò 31 %, thịt gia cầm 23 %, thịt cừu 6 %).
Ở Việt Nam, chăn nuôi lợn là nghề truyền thống của hàng triệu hộ nông dân,
thịt lợn chiếm 64,8 % tổng lượng các loại thịt tiêu thụ hàng ngày trên thị
trường. Theo Niên giám thống kê năm 2012, cả nước có 26,7 triệu con lợn,
đạt sản lượng 2,6 triệu tấn. Trong số đó, lợn nội nuôi ở quy mô nhỏ hộ gia
đình vẫn chiếm tỷ trọng cao trên 60%.
Nước ta là một nước nông nghiệp có hệ sinh thái và văn hóa đa dạng.
Hầu như cộng đồng dân cư nào ở Việt Nam cũng có các sản phẩm giống
vật nuôi riêng của mình, trong đó có các giống lợn. Tuy nhiên, điểm chung
nhất của các giống lợn của nền văn minh lúa nước Việt Nam là có tính địa
phương cao, ít được chọn lọc nên năng suất thấp, không đáp ứng được nhu
cầu thịt lợn ngày càng tăng lên trên thị trường. Để khắc phục hạn chế này,
chúng ta đã triển khai nhiều giải pháp kỹ thuật và chính sách khuyến khích
phát triển chăn nuôi lợn. Một trong các giải pháp được ưu tiên hàng đầu là
giải pháp công tác giống. Để cải tiến giống lợn và nâng cao năng suất chăn
nuôi chúng ta đã nhập các giống lợn ngoại như: Đại Bạch, Landrace,
Yorkshire, New Hampshire, Pietrain… để lai kinh tế với một số giống lợn
nội tốt như: Lợn Móng Cái, lợn Ỉ, lợn Lang Hồng… ngoàì việc dùng đực
giống ngoại để lai cải tạo giống địa phương, chúng ta cũng đã nhập nhiều
giống lợn ngoại tốt của thế giới để tổ chức chăn nuôi công nghiệp quy mô
lớn. Tuy nhiên, các giống lợn ở nước ta khá phong phú chiếm khoảng
20,57% tổng số giống vật nuôi bản địa của Việt Nam, trải dài từ Bắc đến
Nam đều có những giống lợn bản địa đặc trưng cho từng miền, từng vùng.
Theo thống kê, Việt Nam có tới 20 giống lợn bản địa như lợn Ỉ, lợn Móng



3
quan tâm đúng mức nên có thể đã dẫn tới sự pha tạp nguồn gen. Song, nhìn
chung đa số cá thể lợn vẫn giữ được đặc điểm ngoại hình đặc trưng của giống
như màu lông hung (địa phương quen gọi là “lợn đỏ”)
Thực tế cho thấy, lợn Hung được nuôi khá nhiều tại các huyện Hoàng
Su Phì, Bắc Mê và Vị Xuyên của tỉnh Hà Giang. Giống lợn Hung thích nghi
cao với điều kiện sinh thái địa phương, sức đề kháng tốt, chịu được kham khổ,
đặc biệt chất lượng thịt thơm ngon, rất được ưa chuộng, giá bán trên thị
trường luôn cao hơn các giống lợn khác từ 20-25 %.
Tuy vậy, cho đến nay vẫn chưa có các nghiên cứu nhằm đánh giá một
cách cơ bản và toàn diện về lợn Hung. Các nghiên cứu nhằm quản lý và khai
thác tiềm năng của lợn Hung vào việc phát triển đa dạng hệ thống giống trong
chăn nuôi, phù hợp với sinh thái và trình độ sản xuất của từng vùng cũng
chưa được thực hiện. Từ những lý do nêu trên, để có các số liệu khoa học
phục vụ cho công tác bảo tồn, khai thác nguồn gen lợn Hung cũng như hoạch
định các chính sách phát triển chăn nuôi địa phương, việc nghiên cứu cơ bản
về con lợn Hung cần được đặt ra. Xuất phát từ tình hình thực tế trên, việc tiến
hành đề tài “Xác định một số đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của
lợn Hung - Hà Giang” là cần thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
1.2. Mục đích của đề tài
- Xác định được một số đặc điểm ngoại hình của lợn Hung, từ đó làm
căn cứ bảo tồn, khai thác và phát triển giống lợn này.
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng và sinh sản để đề xuất các giải
pháp kỹ thuật nâng cao năng suất cũng như hướng khai thác đạt hiệu quả kinh
tế cao khi chăn nuôi lợn Hung. 4
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

(Trần Văn Phùng và cs, 2004) [37].
1.1.1.2. Ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tới việc hình
thành giống lợn
Trong quá trình thuần hoá lợn rừng, do điều kiện tự nhiên của các vùng
khác nhau, điều kiện lịch sử và trình độ phát triển sản xuất không giống nhau
dẫn đến việc hình thành các giống lợn khác nhau.
Để giải quyết nhu cầu về thịt, con người đã thuần hóa lợn rừng thành
lợn châu Á có đặc điểm dễ béo, sớm thành thục. Ở Châu Âu, cũng do điều 6
kiện tự nhiên đã hình thành nên các giống lợn nguyên thuỷ Châu Âu có đặc
điểm như thành thục muộn, khả năng chịu đựng kham khổ cao.
Nguyễn Thiện và cs, (2005) [54] cho biết khi đã được thuần hoá, lợn
hoang đã có nhiều thay đổi. Điều trông thấy rõ rệt là thân hình bé, nên các loại
lợn nhà nguyên thuỷ đều bé nhỏ. Ở Châu Âu, mãi đến cuối thời kỳ Trung Cổ,
mới có các loại lợn to lớn, có những đặc điểm bên ngoài như tai rủ, qua quá trình
thuần dưỡng về sau này do lai tạo có ý thức nên khối lượng lợn được cải thiện,
đa dạng hơn về hình dáng và tăng về chiều dài, cao chân, mông phát triển.
Trong điều kiện của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, các giống lợn
ít được tác động chọn lọc, cải tạo nên tầm vóc nhỏ, năng suất thấp, ít biến đổi
di truyền nên tính thích nghi hẹp và đầy đủ đặc tính của giống nguyên thủy
hay giống quá độ.
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường với sự phát triển nhanh của
khoa học kỹ thuật thì giống lợn chịu nhiều tác động chọn lọc của con người nên
có sự thay đổi lớn về tầm vóc, tốc độ sinh trưởng, khả năng cho thịt và hiệu quả
chuyển hóa thức ăn cao. Nước ta trong quá trình giao lưu kinh tế thế giới ở các
thời kỳ, giống lợn nuôi ở Việt Nam đã chịu khá nhiều tác động biến đổi.
Vào những thập kỷ 20, nước ta đã nhập nhiều giống lợn cao sản.
- Tại miền Nam từ những năm 1950 đã tuần tự nhập các giống

minorgene này tác động lên tính trạng theo 3 phương thức: Cộng gộp, trội và
át gen. Vì vậy giá trị kiểu gen hoạt động thể hiện qua công thức:
G = A + D + I
Trong đó: G : Giá trị kiểu gen
A : Giá trị cộng gộp
D : Giá trị sai lệch trội
I : Giá trị sai lệch tương tác
A là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen vì nó ổn định, có thể xác
định được và di truyền cho đời sau. Hai thành phần D và I cũng có vai trò 8
quan trọng vì đó là giá trị giống đặc biệt và chỉ xác định được thông qua con
đường thực nghiệm.
Theo J.F. Lasley, (1974) [27] cho biết những tính trạng có hệ số di
truyền (h
2
) từ 0,12 - 0,30 là những tính trạng có hệ số di truyền thấp.
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,4 - 0,5 là những tính trạng
có hệ số di truyền trung bình.
Những tính trạng có hệ số di truyền bằng 0,5 trở lên là những tính trạng
có hệ số di truyền cao và cho hệ quả chọn lọc cao.
Những tính trạng cho hệ số di truyền thấp sẽ cho ưu thế lai cao.
Từ những kết quả phân tích trên cho thấy, các tính trạng về năng suất ở
lợn cũng như các vật nuôi khác là kết quả tác động giữa các yếu tố di truyền
và các yếu tố môi trường. Yếu tố di truyền được thể hiện cao hay thấp phụ
thuộc vào nhiều môi trường sống như: Khí hậu, dinh dưỡng, thức ăn Vì thế
trong thực tiễn công tác giống, muốn vật nuôi đạt năng suất chất lượng cao thì
ngoài việc thay đổi kiểu gen tạo ra những tổ hợp gen mới có năng suất chất
lượng cao, cần phải chú ý đến việc cải tiến môi trường nuôi dưỡng, chăm sóc

sinh dục là tinh trùng và trứng. Sự kết hợp giữa tinh trùng và trứng tạo thành
hợp tử và phát triển thành phôi, thai và sinh ra một thế hệ mới.
Quá trình hoạt động sinh sản của gia súc là do hệ thống thần kinh thể
dịch của cơ thể điều khiển, chịu ảnh hưởng của các yếu tố di truyền và
ngoại cảnh (thời tiết, khí hậu, thức ăn, dinh dưỡng ). Trong chăn nuôi, lợn
là loài gia súc có khả năng sinh sản cao và thành thục sớm, đẻ dễ dàng, ít
gặp khó khăn trong khi đẻ. Nhất là các giống lợn nội, con đực 30 ngày tuổi
đã có phản xạ nhảy, 40 ngày tuổi đã có thể có tinh trùng non, 50 - 60 ngày
tuổi cho phối thì con cái đã có thể có chửa. Lợn cái nội 3 - 4 tháng đã động
dục và có hiện tượng rụng trứng, đối với con cái ngoại 5 - 6 tháng tuổi đã 10
động dục. Lợn là loài gia súc đa thai như: Lợn Móng Cái đẻ 11 - 14 con/
lứa, lợn Ỉ đẻ 10 - 12 con/ lứa. Thời gian chửa đẻ của lợn ngắn từ 113 - 114
ngày (Nguyễn Thiện và cs, 1998) [52].
1.1.2.4. Tập tính sinh sản của lợn
Trong tự nhiên lợn rừng sống theo bầy đàn, giao phối tự nhiên vào mùa
sinh sản của lợn thường xảy ra các cuộc chiến tranh giành giật lợn cái giữa
các con đực.
Lợn nhà thích nghi nhanh với những tập luyện do con người như hiệu
lệnh, đúng giờ ăn, nơi thải phân, nước tiểu và nằm ngủ đúng chỗ quy định.
Lợn còn có những đặc thù riêng biệt như: Khi con bú lợn mẹ nằm nghiêng,
lợn con sinh ra có thể đứng ngay và có thể tìm vú mẹ để bú, lợn mẹ có thể vừa đẻ
vừa cho con bú, đó là những tập tính sinh hoạt và đặc thù riêng của lợn.
Hiểu biết những tập tính đó sẽ có tác dụng rất tốt đối với việc xây dựng quy
trình kỹ thuật chăn nuôi, huấn luyện lợn theo phản xạ có điều kiện, làm cho khả
năng thích nghi của lợn trong điều kiện chăn nuôi tập trung trở nên phong phú hơn.
1.1.3. Cơ sở khoa học về sự sinh trưởng và khả năng cho thịt của lợn
1.1.3.1. Sự sinh trưởng, phát dục của lợn

(1995) [31] bào thai lợn tháng thứ 2 phát triển tăng 33,5 lần so với tháng thứ
nhất, tháng thứ 3 phát triển tăng 8,7 lần và 3 tuần tháng thứ 4 chỉ tăng 2,2 lần.
Nếu lợn chửa kỳ II mà nuôi dưỡng kém, sau khi sinh dù nuôi dưỡng tốt vẫn
chậm lớn, ảnh hưởng đến khối lượng cai sữa và thời gian nuôi cho đến khối
lượng xuất chuồng.
Giai đoạn ngoài cơ thể mẹ gồm: Thời kỳ bú sữa, thời kỳ thành thục,
thời kỳ trưởng thành, thời kỳ già cỗi.
Thời kỳ bú sữa của lợn ở Việt Nam thông thường là 60 ngày. Hiện nay
một số cơ sở chăn nuôi đã tiến hành cai sữa sớm ở 21, 28, 35 hay 45 ngày
tuổi, thức ăn của lợn con chủ yếu ở thời kỳ này là bú sữa mẹ. Tuy nhiên, 12
muốn lợn con sinh trưởng nhanh hơn, khối lượng khi cai sữa cao hơn ta phải
bổ sung thêm thức ăn. Sau khi tách mẹ những ngày đầu thức ăn phải đảm bảo
sao cho lợn con tăng trọng đều mỗi ngày như khi bú mẹ. Có như vậy, lợn con
đưa vào nuôi thịt hay hậu bị không bị chậm lớn. Đây là điều kiện để cai sữa
sớm cho lợn con có kết quả (Nguyễn Thiện và cs, (1998) [52].
Trên cơ sở nắm vững những đặc điểm và quy luật sinh trưởng, phát dục
của gia súc, có thể trong một mức độ nào đó chúng ta tạo điều kiện cho con vật
phát triển tốt ngay lúc đó còn là bào thai, nâng cao sức sản xuất và phẩm chất
giống sau này.
* Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng
Trong phạm vi ứng dụng có thể đề cập đến các chỉ tiêu sau đây:
- Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo
tăng lên sau một thời gian sinh trưởng.
- Sinh trưởng tuyệt đối: Là khối lượng, kích thước của cơ thể gia súc tăng
lên trong một đơn vị thời gian đối với lợn, thường bằng ngày. Sinh trưởng tuyệt
đối cho biết mỗi con lợn, mỗi ngày tăng được bao nhiều gam. Giá trị sinh trưởng
tuyệt đối càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn.

chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon. Hormon thuỳ trước tuyến
yên STH là loại hormon rất cần thiết cho sinh trưởng của cơ thể. Theo
Hoàng Toàn Thắng và Cao Văn, (2006) [45]: STH có tác dụng sinh lý chủ
yếu kích thích sự sinh trưởng của cơ thể bằng cách làm tăng sự tổng hợp
protein và kích thích sụn liên hợp phát triển, tăng tạo xương (nhất là các
xương dài). Nguyễn Thiện và cs, (2005) [54] cho rằng: Giống cũng là yếu tố
quan trọng ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục, năng suất và phẩm chất
thịt. Thông thường, các giống lợn nội cho năng suất thấp hơn so với những
giống ngoại nhập nội: Lợn Ỉ, Móng Cái nuôi 10 tháng tuổi trung bình đạt 14
khoảng 60 kg. Trong khi đó, lợn ngoại (Landrace, Yorkshire…) nuôi tại Việt
Nam có thể đạt 90 - 100 kg lúc 6 tháng tuổi.
* Các yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình trưởng và phát triển
cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ môi trường, ánh sáng và các yếu
tố khác.
- Dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất trong các yếu tố ngoại cảnh chi
phối đến sinh trưởng và sức cho thịt của lợn. Trần Văn Phùng và cs, (2004)
[37] cho rằng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không có
một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh. Một số thí nghiệm đã
chứng minh rằng, khi chúng ta cung cấp cho lợn các mức dinh dưỡng khác
nhau có thể làm thay đổi tỷ lệ các phần trong cơ thể, ví như chúng ta cho lợn
ăn khẩu phần có nhiều protein thì tỷ lệ nạc sẽ cao hơn và ngược lại nếu chúng
ta cho ăn khẩu phần có nhiều bột đường hoặc nhiều chất béo thì tỷ lệ mỡ
trong thịt sẽ tăng lên.
Cũng theo các tác giả nói trên thời gian mang thai ảnh hưởng của nuôi
dưỡng rất rõ. Nuôi dưỡng gia súc mẹ tốt trong thời gian mang thai sẽ giúp gia
súc mẹ nhiều con và gia súc con khoẻ mạnh. Thành phần thức ăn và chế độ

Do đó, tăng khối lượng bị ảnh hưởng và khả năng chuyển hóa thức ăn kém
dẫn đến sự sinh trưởng, phát dục của lợn bị giảm.
Các tác giả trên đều cho rằng ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của lợn đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không
đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm 9,5 - 1,5% so với lợn con được
vận động dưới ánh sáng mặt trời. Ánh sáng mặt trời có thể tăng cường hoạt
động sống và quá trình sinh lý của cơ thể vật nuôi. Dưới ánh sáng mặt trời cơ
thể phát sinh những phản ứng bên trong và bên ngoài có lợi, tăng cường sinh
trưởng phát dục, hồi phục cơ thể. Tuy nhiên, ánh sáng gay gắt cũng làm mỡ
của những vật nuôi béo bị oxy hoá mạnh. Do vậy, khi trời nóng bức không
nên để vật nuôi làm việc nặng dưới trời nắng lâu. Ngoài các yếu tố ảnh hưởng
đến sinh trưởng và phát dục của lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như:
Chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi Nếu chúng ta
cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn sẽ giúp cho cơ
thể lợn sinh trưởng đạt mức tối đa. 16
1.1.4. Cơ sở khoa học của nghiên cứu các đặc điểm sinh lý sinh dục và khả
năng sinh sản của lợn
1.1.4.1. Đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn
* Tuổi động dục lần đầu
Là thời gian từ sơ sinh cho đến khi lợn cái hậu bị có biểu hiện động dục
lần đầu tiên. Tuỳ theo giống, tuổi động dục lần đầu tiên có khác nhau. Lợn nội
tuổi động dục lần đầu sớm hơn lợn ngoại, ở lợn nái lai tuổi động lần đầu
muộn hơn so với lợn nái nội thuần (Hoàng Toàn Thắng và cs, 2006) [45]. Lợn
Ỉ 120 - 135 ngày, Lợn Móng Cái 130 - 140 ngày, lợn Đại Bạch nhập vào Việt
Nam từ 203 - 208 ngày, lợn Landrace từ 208 - 209 ngày. Ở lợn nội có tuổi
động dục sớm, mà khả năng tăng khối lượng thấp, khối lượng khi động dục
lần đầu đạt từ 20 - 25 kg. Vì vậy, không nên phối giống ở thời kỳ này, vì cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status