Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sản xuất của gà mèo nuôi tại 3 huyện vùng cao núi đá của tỉnh hà giang - Pdf 35

1

đại học thái nguyên

Trờng đại học nông lâm

Nguyễn Văn Sinh

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng
sản xuất của gà mèo nuôi tại 3 huyện vùng cao
núi đá của tỉnh Hà Giang

luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp

Thái nguyên, năm 2006


đại học thái nguyên

Trờng đại học nông lâm

Nguyễn Văn Sinh

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng
sản xuất của gà mèo nuôi tại 3 huyện vùng cao
núi đá của tỉnh Hà Giang
Chuyên ngành
Mã số

: Chăn nuôi
: 60.62.40

y, Phòng thí nghiệm Trung tâm trờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên, ban
Giám đốc Sở KH&CN, ban Giám đốc Trung tâm TT&CGCN mới Hà Giang,
l nh đạo phòng Kinh tế 3 huyện: Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, bạn bè và gia
đình.
Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới: Ban Giám hiệu nhà
trờng, tập thể cán bộ giáo viên khoa Sau Đại học, khoa Chăn nuôi Thú y,
PGS.TS. Trần Thanh Vân - Phó phòng QLKH & QHQT, thầy đ trực tiếp
hớng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho tôi hoàn thành tốt luận văn
của mình.
Tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới ban Giám đốc Sở Khoa học và
Công nghệ, ban Giám đốc Trung tâm TT&CGCN mới Hà Giang, l nh đạo
phòng Kinh tế 3 huyện: Quản Bạ, Đồng Văn, Mèo Vạc, bạn bè và gia đình đ
tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng gửi tới tất cả các thầy cô trong Hội đồng,
các bạn, anh em đồng nghiệp sự biết ơn sâu sắc và lời chúc tốt đẹp nhất.
Thái nguyên, ngày 25 tháng 11/2006
Tác giả

Nguyễn Văn Sinh


mục lục

nội dung
đặt vấn đề

Trang
1

Đặt vấn đề

1.1.2.3. Khả năng cho thịt

13

1.1.2.4. Sức sống và khả năng kháng bệnh

14

1.1.2.5. Khả năng đẻ trứng

15

1.1.2.6. Tỷ lệ ấp nở

16

1.1.3. Một số yếu tố ảnh hởng đến chất lợng thịt gia cầm

20

1.1.3.1. Những yêu cầu đối với chất lợng thịt

20

1.1.3.2. Các biện pháp cải thiện chất lợng thịt gia cầm.

21

1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nớc


2.2.2. Phơng pháp nghiên cứu

36

2.3. Các chỉ tiêu theo dõi

38

2.3.1. Các chỉ tiêu điều tra

38

2.3.1.1. Các chỉ tiêu về sinh sản

38

2.3.1.2. Các chỉ tiêu về sinh trởng

39

2.3.1.3. Một số đặc điểm sinh học

39

2.3.2. Các chỉ tiêu khảo sát

39

2.4. Phơng pháp tính toán các chỉ tiêu



3.5.2.Thời gian sử dụng của gà trống, mái

55

3.5.3. Trứng, đặc điểm về chất lợng trứng.

56

3.5.4. Các chỉ tiêu về ấp nở.

56

3.6. Các chỉ tiêu về sinh trởng và sản xuất thịt của gà Mèo.

58

3.6.1. Tỷ lệ nuôi sống của gà Mèo.

58

3.6.2. Đặc điểm sinh trởng của gà Mèo.

60

3.6.2.1. Kích thớc các chiều đo của cơ thể.

60



76

Một số hình ảnh về gà mèo của đề tài

82


Danh mục các bảng

Nội dung

Trang

Bảng 3.1. Cơ cấu đàn gà tại 3 huyện

49

Bảng 3.2. Tình hình chăn nuôi gà trong các hộ

50

Bảng 3.3. Tỷ lệ gà mèo trong nông hộ tại3 huyện

52

Bảng 3.4. Đặc điểm màu sắc lông của gà Mèo Hà Giang

53

Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu sinh sản của gà mái


Bảng 3.13. Khả năng tiêu thụ và chuyển hóa T.ăn của gà mèonuôi thịt

69

Bảng 3.14. Các chỉ tiêu mổ khảo sát

71

Bảng 3.15. Thành phần hóa học của thịt gà Mèo 12 tuần tuổi nuôi khảo sát

72

Bảng 3.15. Thành phần hóa học của thịt gà Mèo 12 tuần tuổi nuôi tự nhiên

72


Danh mục các biểu đồ, đồ thị

Nội dung

Trang

Đồ thị 3.1. Sinh trởng tích lũy của gà Mèo Hà Giang

63

Đồ thị 3.2. Sinh trởng tơng đối của gà Mèo Hà Giang


Trong thực tế, người tiêu dùng vẫn ưa sử dụng thịt của các giống gà nội
hơn, giá bán thịt các giống gà nội trên thị trường luôn cao hơn gà nhập nội và
gà lai. Mặt khác một số các địa phương, nhất là các tỉnh Miền núi thì việc đưa


các giống nhập nội vào nuôi là vấn đề hết sức khó khăn. Song song với vấn đề
đưa các giống gà ngoại và gà lai vào phát triển kinh tế hộ nhưng đồng thời
cần phải nghiên cứu, chọn lọc các giống gà nội có chất lượng thịt cao, để đáp
ứng nhu cầu người tiêu dùng và phù hợp với điều kiện kinh tế và chăn nuôi
của từng vùng là việc làm cần thiết.
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía bắc với nét đặc trưng là địa hình bị
chia cắt bởi các dãy núi tạo ra các thung lũng. Dân cư gồm 22 dân tộc anh em
cùng sinh sống bằng canh tác nông nghiệp và chăn nuôi. Cùng với các gia
súc, gia cầm khác, con gà đã được các dân tộc địa phương nuôi dưỡng từ lâu
đời với phương thức quảng canh, tập quán dân địa phương là sử dụng thịt và
trứng gà rộng rãi như một nguồn thực phẩm giàu đạm và đặc biệt gà còn được
sử dụng trong các nghi thức đình đám, tín ngưỡng từ ngàn xưa. Giống gà Mèo
được đồng bào H'mông và một số ít dân tộc khác ở Hà Giang nuôi nhiều ở
những vùng núi cao, vùng sâu với phương thức chăn thả quảng canh không có
đầu tư. Đây là giống gà có tầm vóc tương đối lớn từ 3 - 4 kg , gà có chân cao,
tốc độ sinh trưởng khá, lông có nhiều màu: xám, vằn đen và đen... mà các chỉ
tiêu sản xuất chưa được khảo sát, theo dõi đầy đủ. Đặc biệt là các vùng miền
núi chăn nuôi còn mang những nét hoang sơ như những giống gà nguyên
thuỷ, đây là một trong những nguồn gen quý, rất phong phú và có tiềm năng
di truyền cao đối với công tác lai tạo do đó cần được bảo tồn. Gà Mèo không
những là món ăn đặc sản mà còn được Hội nghị Quốc tế về dinh dưỡng trị
liệu tại Hà Nội (ngày 07/4/1996) công nhận có tác dụng tăng khả năng sinh lý
và giá trị dược liệu cao, rất tốt cho những người bị bệnh tim mạch. Đồng bào
người H’Mông dùng xương, thịt của gà đen như một loại thuốc bồi dưỡng sức
khỏe cho những người ốm yếu (Nguyễn Văn Trụ, 1999 [31])

một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng
lực sản xuất khác nhau. Nghĩa là các điều kiện môi trường, chăm sóc nuôi
dưỡng có thể phát huy hoặc hạn chế các đặc tính di truyền của vật nuôi.
Thông qua việc nắm được các yếu tố di truyền, môi trường ngoại cảnh tối
thích, bằng các biện pháp khoa học kỹ thuật hợp lý, con người sẽ không chỉ
bồi dưỡng duy trì được các đặc tính của một phẩm chất giống mà còn tạo ra
các giống mới theo những hướng sản xuất khác nhau.
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức xản xuất thịt của một giống gà, nó
có tính di truyền tương đối cao thể hiện ở đặc điểm về trao đổi chất, kiểu hình
của dòng, giống. Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng
sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn. Tốc độ sinh trưởng được thể
hiện ở khối lượng cơ thể, kích thước các chiều đo (dài lườn, rộng ngực, dài
đùi...). Để nâng cao năng lực sản xuất thịt của một giống gà nào đó, người ta
thường cho lai giữa mái của giống đó với trống của một giống khác có tốc độ
sinh trưởng lớn hơn.
Năng lực tăng đàn của một giống gà được quyết định bởi khả năng
sinh sản bao gồm: khả năng đẻ trứng, tỉ lệ trứng cho phôi, tỉ lệ ấp nở, tỉ lệ
nuôi sống của gà... Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng ấp trứng của gà
mái, nguồn thức ăn (với gà nuôi thả) . . .
Sức sống và khả năng kháng bệnh: trong cơ thể gia cầm có hệ thống
miễn dịch hoàn hảo gồm tuỷ xương, tuyến ức, hạch lâm ba, lách... khi kháng
nguyên vào cơ thể, cơ thể sẽ thông qua hệ thống đáp ứng miễn dịch sinh ra
những cơ chế tiêu diệt kháng nguyên, khi cơ thể gia cầm khoẻ mạnh thì khả
năng đáp ứng miễn dịch cao, khả năng kháng bệnh tốt đây chính là yếu tố
quan trọng giúp cho người chăn nuôi đạt hiệu quả cao.


1.1.2. Đặc điểm về sinh trưởng di truyền và một số tính trạng sản xuất
của gia cầm
1.1.2.1. Khả năng sinh trưởng

- Tăng thể tích giữa các tế bào.
Trong quá trình này thì sự phát triển của tế bào là chính, các đặc tính của
các bộ phận trong cơ thể hình thành nên quá trình sinh trưởng là sự tiếp tục thừa
hưởng các đặc tính di truyền từ đời trước, nhưng hoạt động mạnh hay yếu, hoàn
thiện hay không hoàn thiện còn phụ thuộc vào sự tác động của môi trường.
Trong các tổ chức cấu tạo của cơ thể gia cầm thì khối lượng cơ chiếm
nhiều nhất từ: 42 - 45% khối lượng cơ thể. Khối lượng cơ thể của con trống
luôn lớn hơn con mái (không phụ thuộc thuộc vào lứa tuổi và loại gia cầm).
(dẫn theo Ngô Giản Luyện, 1994 [14] ).
* Các giai đoạn sinh trưởng của gà.
Đối với gà, quá trình tích luỹ các chất thông qua quá trình trao đổi
chất đó, là sự tăng lên về khối lượng, kích thước tế bào, số lượng tế bào và
dịch thể trong mô bào ở giai đoạn phát triển đầu của phôi trên cơ sở tính di
truyền. Sau khi nở thì sinh trưởng là do sự lớn dần của các mô, đó là sự
tăng lên về kích thước của tế bào và được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn
gà con và giai đoạn trưởng thành.
+ Giai đoạn gà con
Giai đoạn này gà sinh trưởng rất nhanh do lượng tế bào tăng nhanh,
một số bộ phận của cơ quan nội tạng còn chưa phát triển hoàn chỉnh như các
men tiêu hoá trong hệ tiêu hoá chưa đầy đủ do vậy thức ăn giai đoạn này cần
chú ý đến thức ăn dễ tiêu, vì thức ăn giai đoạn này ảnh hưởng rất lớn đến tốc
độ sinh trưởng của gà. Quá trình thay lông diễn ra trong cùng giai đoạn này là
quá trình phát triển sinh lý, nó làm thay đổi quá trình trao đổi chất, tiêu hoá và


hấp thu, do đó cần chú ý đến hàm lượng của các chất dinh dưỡng và axit amin
thiết yếu trong khẩu phần thức ăn.
+ Giai đoạn trưởng thành
Giai đoạn này các cơ quan trong cơ thể gà gần như đã phát triển hoàn
thiện, số lượng tế bào tăng chậm chủ yếu là quá trình phát dục. Quá trình tích

+ Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có sinh trưởng cao nhất
+ Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn
+ Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành.
Đồ thị sinh trưởng tích lũy biểu thị một cách đơn giản nhất về
đường cong sinh trưởng.
Đường cong sinh trưởng không những được sử dụng để chỉ rõ về khối
lượng mà còn làm rõ về mặt chất lượng, sự sai khác nhau giữa các dòng,
giống, giới tính (H.Knizetova, J.Hyanck, B.Knize and J.Roubicek, 1991) [46].
Trần Long, 1994 [11] khi nghiên về đường cong sinh trưởng của các
dòng V1, V3, V5 trong giống gà Hybro (HV85) cho thấy các dòng đều phát
triển theo đúng quy luật sinh học. Đường cong sinh trưởng của 3 dòng có sự
khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và gà mái cũng có sự khác nhau:
Sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi với gà trống và 6 -7 tuần tuổi đối với gà mái.
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà.
Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà như: dòng,
giống, tính biệt, tốc độ mọc lông, dinh dưỡng và các điều kiện chăn nuôi…
+ Ảnh hưởng của dòng, giống
Theo J.R Chambers, 1990 [37] có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng
và phát triển của của cơ thể, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển chung, có gen
ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen thì ảnh hưởng theo nhóm tính
trạng và có gen ảnh hưởng tới một vài tính trạng riêng lẻ.


E.F Goedfrey và R.G Jaap, 1952 [42] cùng một số tác giả khác cho
rằng các tính trạng số lượng được quy định bởi ít nhất 15 cặp gen.
Theo R.G Jaap và cộng sự, 1969 [44]; A.B Champman, 1995 [39] đều
cho rằng kiểu di truyền về khối lượng cơ thể, phải do nhiều gen quy định và ít
nhất phải có một gen liên kết với giới tính.
Cook và cộng sự, 1956 [40] đã xác định được hệ số di truyền tại 6 tuần
tuổi về khối lượng là 0,50; hệ số di truyền khối lượng cơ thể theo Godman và

+ Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng
Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng tới từng mô khác nhau, gây nên sự biến
đổi trong quá trình phát triển của mô này đối với mô khác, dinh dưỡng còn
ảnh hưởng đến biến động di truyền về sinh trưởng
Theo Bùi đức Lũng, Lê Hồng Mận, 1993 [13] để phát huy khả năng
sinh trưởng cần cung cấp thức ăn với đầy đủ các chất dinh dưỡng và được cân
bằng Protein, các axit amin với năng lượng, ngoài ra những năm gần đây
trong thức ăn hỗn hợp chúng ta đã bổ sung một số các chế phẩm hoá học
không mang ý nghĩa về dinh dưỡng, nhưng nó có tác dụng kích thích về sinh
trưởng và làm tăng chất lượng thịt.
Lê Hồng Mận và cộng sự, 1993 [16] xác định được nhu cầu dinh
dưỡng về Protein nuôi gà Broiler cho năng suất cao, thì ngoài tỷ lệ năng
lượng/Protein (ME/CP) trong khẩu phần thức ăn cũng là vấn đề rất quan
trọng cần được quan tâm.
Dinh dưỡng của gia cầm gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần đều có
tầm quan trọng và ý nghĩa riêng của nó.
Ở gà Broiler, một phần năng lượng để duy trì, một phần để tăng khối
lượng, cá thể có tốc độ tăng trưởng nhanh thì sẽ cần ít năng lượng để duy trì


hơn, tiêu tốn thức ăn ít hơn. Tăng khối lượng nhanh do cơ thể đồng hoá tốt,
trao đổi chất được tăng cường làm cho việc sử dụng thức ăn có hiệu quả tốt
hơn. Theo J.R Chambers và cộng sự, 1984 [38] thì mối tương quan giữa khối
lượng của gà Broiler với lượng thức ăn tiêu tốn từ 0,5 - 0,9. Gà có tốc độ tăng
khối lượng cao thì yêu cầu thức ăn có tỷ lệ Protein cao hơn, hiệu quả sử dụng
thức ăn tốt hơn (J.A Paudman và cộng sự, 1970 [9]); (R.A.E Pym và cộng sự,
1978 [50]). Dinh dưỡng không chỉ cần thiết cho quá trình sinh trưởng mà còn
cần thiết để thể hiện khả năng di truyền của sinh trưởng.
Meller David Soares, J.R Josepbb, 1981 [19] đã xác định được sự ảnh
hưởng của hàm lượng Clorocid, Sulfat và lượng Natri, Phot pho trong chế độ

ăn được không có xương).Ngoài ra năng xuất thịt còn phụ thuộc vào tính
biệt và chế độ dinh dưỡng.
* Chất lượng thịt
Thịt gia cầm có tính ngon miệng và mùi vị hấp dẫn, điều này liên quan
đến đặc điểm sinh thái của tổ chức cơ và tính chất lý học của nó như độ mềm,
độ ướt... Những sợi cơ của thịt gà rất mỏng và các tổ chức liên kết giữa chúng
nhỏ hơn thịt một số loài gia súc khác.
Theo J.R Chambers, 1990 [37] thì tốc độ sinh trưởng có tương quan âm
với tỷ lệ mỡ (- 0,32) và khoáng tổng số (- 0,14). Chất lượng thịt phụ thuộc
vào thành phần hoá học của thịt và có sự khác nhau giữa các dòng, giống,
cùng một chế độ chăm sóc và nuôi dưỡng, cùng một lứa tuổi và cùng một
giống thì không có sự khác nhau về thành phần hoá học của thịt. Prias (1984)
đã xác định được hệ số di truyền về tỷ lệ thịt xẻ như: Độ ẩm là 0,38; Protein là
0,47; mỡ là 0,48 và khoáng là 0,25 (dẫn Theo J.R Chambers, 1990 [37]).


Ngoài ra việc đánh giá chất lượng thịt còn dựa theo độ béo, tròn của thân
hình, mùi vị, độ ngọt, độ mềm và cứng của thịt ... Các khuyết tật như lở loét
da, có chứa u và tổn thương, gãy lườn..., cũng ảnh hưởng tới chất lượng thịt.
1.1.2.4. Sức sống và khả năng kháng bệnh
Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm là yếu tố quan trọng
giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả. Tổn thất do dịch bệnh ở gia cầm là rất lớn
nên cần phải có những biện pháp ngăn chặn, phòng ngừa để giảm bớt tổn
thất đó. Khi đàn gà bị mắc bệnh tỷ lệ chết tăng cao, dễ lây nhiễm và mắc
các bệnh khác, nhất là các bệnh truyền nhiễm. Để điều trị và đề phòng các
loại dịch bệnh phải cần rất nhiều kinh phí để mua vacxin tiêm phòng, thuốc
kháng sinh để chữa bệnh, cùng hàng loạt các biện pháp thú y khác.
A.S Marco và cộng sự (1992) (dẫn Theo Hoàng Toàn Thắng, 1996
[27]) cho biết: sức sống được thể hiện ở thể chất và xác định trước hết bởi
khả năng có tính di truyền ở động vật có thể chống lại những ảnh hưởng

hơn nhiều so với số lượng tế bào trứng trong buồng trứng.
Người ta thường xác định số lượng trứng sau một chu kỳ đẻ trứng
sinh học hoặc sau một năm đẻ trứng. Chu kỳ đẻ trứng sinh học được tính
từ khi đẻ quá trứng đầu tiên tới khi ngừng đẻ thay lông - đó là chu kỳ thứ
nhất, chu kỳ thứ hai tính từ khi gia cầm bắt đầu đẻ lại (sau khi thay lông)
tới khi ngừng đẻ và thay lông lần thứ hai. Qua nhiều kết quả nghiên cứu
cho thấy thời gian hình thành trứng trong ống dẫn trứng dao động trong
khoảng từ 23,5 - 24 giờ (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998) [6].
Nếu gà mái có thời gian hình thành trứng trong ống dẫn trứng dưới 24
giờ thì có thể dẻ trứng liên tục đều đặn. Trong trường hợp này, quá trình rụng
trứng diễn ra sau khi dẻ trứng khoảng nửa giờ thì gà đẻ sẽ không liên tục.


Sức đẻ trứng phụ thuộc và liên quan trực tiếp với giống, dòng gia cầm,
sự phát triển của cá thể, tuổi, độ béo, trạng thái sức khỏe, thể trạng, sự thay
lông, tính ấp bóng, độ thành thục, cường độ và sức bền đẻ trứng, chu kỳ và
nhịp độ đẻ trứng. Đồng thời phụ thuộc vào các đặc trưng di truyền và chọn
giống, thức ăn dinh dưỡng, nhiệt độ, ánh sáng và các yếu tố tiểu khí hậu khác.
Giống, dòng ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp như: Giống
gà Leghorn có sản lượng 250 - 270 trứng/mái/năm, trong khi đó gà Ri chỉ có
90 - 110 trứng/mái/năm. Những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao sản
hơn những dòng chưa chọn lọc kỹ khoảng 15 - 30% về sản lượng trứng.
Mùa vụ cũng có ảnh hưởng tới khả năng đẻ trứng của gia cầm. ở
nước ta do mùa hè nắng nóng nên sức đẻ trứng giảm xuống rất nhiều so
với mùa xuân và đến mùa thu lại tăng lên. Tuổi gia cầm cũng ảnh hưởng
rất lớn đến sức đẻ trứng, sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình
năm thứ hai giảm 15 - 20% so với năm thứ nhất (ở vịt sản lượng trứng lại
cao nhất vào năm tuổi thứ hai).
Ngoài ra các yếu tố khác như nhiệt độ, ánh sáng, cũng ảnh hưởng
nhiều đến sản lượng trứng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status