Download miễn phí Tiểu luận Các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về địa vị pháp lý của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự
MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ 1
B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 1
I. CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TTHS VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TTHS 2
1. Những quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của bị can. 2
1.1. Những quy định về quyền của bị can. 2
(1). Được biết mình bị khởi tố về tội gì; 2
(2). Được giải thích về quyền và nghĩa vụ. 3
(3). Trình bày lời khai. 4
(4). Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu 5
(5). Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch. 5
(6). Tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa 6
(7). Được nhận các quyết định, văn bản tố tụng. 7
(8). Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. 7
1.2. Nghĩa vụ của bị can 7
2. Những quy định của pháp luật TTHS về địa vị pháp lý của bị cáo. 9
2.1. Quyền của bị cáo 9
(1). Được nhận các quyết định, văn bản tố tụng; 9
(2). Được tham gia phiên tòa; 9
(3). Được giải thích về quyền và nghĩa vụ; 10
(4). Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của pháp luật; 10
(5). Đưa ra đồ vật, tài liệu yêu cầu 10
(6). Tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa; 11
(7). Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa; 11
(8). Nói lời sau cùng trước khi nghị án; 12
(9). Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án; 12
(10). Khiếu nại hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; 14
2.2. Nghĩa vụ của bị cáo. 15
II. ĐỀ XUẤT HƯỚNG HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 16
C. KẾT LUẬN 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39549/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
c phải cho bị can biết mình bị khởi tố về tội gì chứ không phải là bị can tự tìm hiểu. Sự thay đổi này là một sự tiến bộ hơn, có ý nghĩa quan trọng trong các quy định về quyền của bị can.
(2). Được giải thích về quyền và nghĩa vụ.
Việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can cũng chính là CQTHTT, NTHTT đã chỉ ra cho bị can hiểu rõ địa vị pháp lý của mình. Từ đó họ có thể biết mình đang trong tình trạng pháp lý nào, đang có quyền và phải có nghĩa vụ gì.
Theo quy định tại khoản 6, Điều 126 BLTTHS 2003 thì CQĐT phải đảm bảo việc giao quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can được thực hiện. Bị can có quyền yêu cầu giải thích về các quyền và nghĩa vụ mà mình chưa nắm rõ cũng như hỏi về cách thức thực hiện các quyền mà pháp luật đã quy định cho họ để từ đó khi tham gia tố tụng họ có thể bảo vệ được quyền lợi của mình một cách hợp pháp.
Trong thực tế có nhiều trường hợp bị can không hề được giải thích về nghĩa vụ của mình mà chủ yếu là nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến tình trạng nhiều trường hợp bị can vi phạm nghĩa vụ này nên đã bị áp giải, bị truy nã trong khi bị can không hề có ý định bỏ trốn.
Đây là một quyền quan trong của bị can nhưng trước đây, BLTTHS 1988 không ghi nhận cho bị can có quyền này. Trước nhu cầu của tình hình, thực trạng nêu trên nên BLTTHS 2003 đã bổ sung, đấy là một sự thay đổi tiến bộ hợp lý, tăng cường cho bị can những quyền cần thiết để bảo vệ mình trước sự buộc tội của CQTHTT.
(3). Trình bày lời khai.
Là đối tượng bị buộc tội bị can có quyền bào chữa, gỡ tội. Việc trình bày lời khai là một trong các cách thức để bào chữa cho mình của bị can. Bị can có quyền trình bày các tình tiết, sự việc có liên quan đến vụ án để đưa ra bằng chứng chứng minh cho mình trước sự buộc tội của CQTHTT. Việc khai báo, trình bày lời khai là một quyền chứ không phải là một nghĩa vụ của bị can. Do đó bị can có thể khai báo hay không khai báo. Pháp luật không đặt ra trách nhiệm cho bị can trong trường hợp không khai báo hay khai báo không đúng sự thật, nhưng pháp luật khuyến khích bị can khai báo thành khẩn, đúng sự thật để có căn cứ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị can.
Khi bị can trình bày lời khai của mình thì NTHTT phải tôn trọng và có nhiệm vụ ghi chép thu thập những thông tin từ lời khai đó để làm chứng cứ cho vụ án. Lời khai của bị can có thể được ghi lại dưới dạng văn bản hay hình ảnh, âm thanh, sau đó điều tra viên đều cho bị can đọc lại, hay nghe lại rồi ký tên vào biên bản. Việc trình bày lời khai chính là việc bị can đang thực hiện quyền bào chữa của mình.
Theo luật định thì trình bày lời khai là quyền của bị can nhưng trên thực tế có nhiều trường hợp điều tra viên vi phạm quy định này như đã dùng hình thức hỏi cung, trái pháp luật (bức cung, ép cung bị can…). Cá biệt có nhiều trường hợp bị can không khai báo, điều tra viên còn tra tấn, bức cung dùng nhục hình để lấy được lời khai của bị can theo ý muốn của mình. Đây là một sự vi phạm quyền nghiêm trọng cần được xem xét và xử lý.
Quyền trình bày lời khai là một quyền mới của bị can được quy định trong BLTTHS 2003, làm tăng thêm cách thức thực hiện các quyền bào chữa của bị can.
(4). Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu
Bị can có quyền đưa ra các đồ vật, tài liệu có liên quan đến vụ án để chứng minh cho sự vô tội của mình. Những đồ vật này có thể là vật dụng của bị can, người bị hại, vũ khí hay vật dụng khác hay những tài liệu liên quan. Trong BLTTHS 1988 quy định: “bị can có quyền đưa ra chứng cứ và những yêu cầu”, đến BLTTHS 2003 thì: “bị can có quyền đưa ra đồ vật, tài liệu yêu cầu”. Đây là một sự thay đổi hợp lý vì những đồ vật, tài liệu mà bị can đưa ra sẽ được coi là chứng cứ nếu được NTHTT thu thập theo trình tự, thủ tục luật định.
Bị can cũng có quyền đưa ra các yêu cầu: yêu cầu có luật sư bào chữa, thay đổi người tiến hành tố tụng… hay đưa ra các yêu cầu khác như trưng cầu giám định, giám định lại hay điều tra lại nếu thỏa mãn các yêu cầu về thủ tục mà pháp luật quy định.
(5). Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch.
Pháp luật ghi nhận quyền yêu cầu thay đổi NTHTT của bị can tại khoản 2 Điều 43 BLTTHS 2003. Bị can có quyền này vì họ là đối tượng bị buộc tội trong vụ án, do vậy hơn ai hết họ là người trước tiên có quyền yêu cầu thay đổi NTHTT. Tùy theo yêu cầu thay đổi từng NTHTT và chức vụ khác nhau mà căn cứ vào từng điều luật theo quy định từ Điều 44 đến Điều 47 BLTTHS 2003 mà người có thẩm quyền quyết định thay đổi hay không thay đổi NTHTT theo yêu cầu của bị can.
Người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định theo quy định của pháp luật. Kết quả giám định chứng minh cho hành vi của bị can có cấu thành tội phạm hay không, do đó bị can có quyền yêu cầu thay đổi người giám định.
Trong trường hợp có người phiên dịch, nếu người này phiên dịch không trung thực hay không có khả năng phiên dịch chính xác thì cũng có thể làm sai lệch vụ án, có thể sẽ ảnh hưởng đến bị can, do đó bị can có quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch. Người phiên dịch phải từ chối hay thay đổi nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 62 BLTTHS 2003.
(6). Tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa
Quyền bào chữa của bị can là một nguyên tắc được Hiến định (Điều 132 hiến pháp 1992 sửa đổi bổ sung 2001), và luật định. Điều 12 BLTTHS 2003 ghi nhận: “bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hay nhờ người khác bào chữa, CQĐT, VKS và TA có nhiệm vụ bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của họ”.
Quyền bào chữa của bị can được thể hiện dưới 2 hình thức: tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa.
Đối với quyền tự bào chữa của bị can được thực hiện trong tất cả các giai đoạn mà bị can tham gia. Bị can có thể dùng lời khai, đưa ra những đồ vật, tài liệu để chứng minh cho sự vô tội của mình.
Bên cạnh quyền tự bào chữa, pháp luật cũng quy định cho bị can quyền nhờ người bào chữa cho mình. NBC có thể là luật sư, bào chữa viên nhân dân hay người thay mặt hợp pháp của bị can. NBC sử dụng quyền năng mà pháp luật cho phép để bảo vệ tốt nhất cho thân chủ của mình.
Thông thường, NBC do bị can hay người thay mặt hợp pháp của họ lựa chọn. Nhưng trong trường hợp bị can bị truy tố về tội có mức hình phạt cao nhất là tử hình theo BLHS hay bị can là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hay tâm thần, mà bị can hay người thay mặt hợp pháp của bị can không mời NBC thì pháp luật bắt buộc CQTHTT phải cử NBC cho bị can vì trong trường hợp này bị can bất lợi hơn và khả năng thực hiện được quyền tự bào chữa của bị can là không cao.
(7). Được nhận các quyết định, văn bản tố tụng.
Bị can có quyền được nhận các quyết định khởi tố quyết định áp dụng, thay đổi ...