Download miễn phí Tiểu luận Tìm hiểu pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng
MỤC LỤC
I. Khái niệm về tổ chức tín dụng . 2
II. Pháp luật đảm bảo an toàn trong hoạt động huy động vốn
của các tổ chức tín dụng và thực tiễn áp dụng . 4
1. Đảm bảo an toàn cho hoạt động nhận tiền gửi . 5
2. Bảo đảm an toàn cho hoạt động phát hành giấy tờ có giá 13
3. Bảo đảm an toàn cho hình thức huy động vốn bằng việc
vay vốn của tổ chức tín dụng khác 14
4. Bảo đảm an toàn cho hình thức huy động vốn bằng việc
vay vốn của Ngân hàng nhà nước . 15
III. Một số đề xuất pháp lý nhằm hoàn thiện các quy định
về đảm bảo an toàn cho hoạt động huy động vốn của các tổ
chức tín dụng. 16
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39539/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
đất” hoạt động rất sôi động với quyền chủ động thuộc về các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, những lợi thế trong các hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng vẫn nằm trong sự quản lý của nhà nước. Quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức của các tổ chức tín dụng bị hạn chế bởi những quy định về bảo đảm an toàn. Pháp luật Việt Nam đã quy định bốn hình thức huy động vốn của tổ chức tín dụng là nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn giữa các tổ chức tín dụng, và vay vốn của Ngân hàng nhà nước. Với các hình thức khá đa dạng như vậy, phần nào đã tạo được sự ổn định, chất lượng về vốn và đáp ứng kịp thời khả năng chi trả. Trong mỗi hình thức đó, pháp luật cũng đặt ra những yêu cầu, điều kiện riêng thích ứng nhằm bảo toàn tốt nhất cho các nguồn huy động vốn.
1. Đảm bảo an toàn cho hoạt động nhận tiền gửi
Trong các hình thức huy động vốn thì nhận tiền gửi là hình thức chủ yếu và quan trọng nhất bởi nguồn vốn kinh doanh của các tổ chức tín dụng tập trung phần lớn ở đây. Tuy nhiên nghiệp vụ này lại chứa đựng những rủi ro nhất định do các tổ chức tín dụng dễ lâm vào tình trạng không thanh toán, hoàn trả được tiền gửi của khách hàng, không bảo vệ được quyền lợi của người gửi tiền, người đầu tư. Do vậy, luật các tổ chức tín dụng cũng như các văn bản hướng dẫn đã rất chú trọng tới loại quy phạm an toàn này trong các quy định cụ thể của mình.
a. Quy định về hình thức các loại tiền gửi được nhận của các loại hình tổ chức tín dụng
Với các tổ chức tín dụng là ngân hàng. Nếu như tại pháp lệnh ngân hàng trước kia, các hình thức nhận tiền gửi không được quy định rõ thì tại Luật các tổ chức tín dụng đã quy định khách hàng được gửi tiền vào ngân hàng dưới hình thức không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Quy định này một mặt đáp ứng nhu cầu của khách hàng, mặt khác đảm bảo cho ngân hàng tập trung thu hút được mọi khoản tiền nhàn rỗi trong dân cư, dù là nhỏ nhất. Bên cạnh ý nghĩa đó, quy định này còn có vai trò rất quan trọng và cần thiết cho sự an toàn tiền gửi của khách hàng. Việc phân ra các hình thức tiền gửi giúp cho ngân hàng có kế hoạch sử dụng vốn phù hợp, thích ứng với tính chất từng loại tiền gửi. Điều này thể hiện rõ nhất trong quy định về tỉ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn.
Với tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Khác với loại hình ngân hàng, pháp luật cho phép nhận mọi loại tiền gửi, với tổ chức tín dụng phi ngân hàng, pháp luật quy định chỉ được nhân tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên của tổ chức, cá nhân. Sở dĩ như vậy bởi loại chủ thể này kinh doanh dài hạn, nên việc nhận tiền gửi không kỳ hạn hay kỳ hạn nhỏ hơn 12 tháng để cấp tín dụng thì rủi ro mất khả năng chi trả là rất lớn. Pháp luật một số nước trên thế giới cũng quy định giới hạn về nhận tiền gửi đối với loại tổ chức tín dụng chuyên đầu tư dài hạn này. Chẳng hạn như Đạo luật 372- luật về các tổ chức tài chính và ngân hàng Malaysia 1989 tại Điều 33 quy định: một công ty tài chính, ngân hàng đầu tư hay trung tâm triết khấu sẽ không được nhận tiền gửi không kỳ hạn do người gửi tiền tại các tổ chức đó được hoàn trả bằng séc, hối phiếu, lệnh phiếu hay các loại công cụ thanh toán khác.
Ngoài ra, theo pháp luật Việt Nam, tổ chức tín dụng phi ngân hàng không được nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác bởi vì tính chất kinh doanh kéo dài của nó dễ gây ra rủi ro lan truyền cũng như làm ảnh hưởng tới hoạt động bình thường của các tổ chức tín dụng khác do việc tập trung vốn quá lâu ở một nơi.
Với các tổ chức tín dụng có đặc điểm riêng biệt như tổ chức tín dụng nước ngoài hay hợp tác xã tín dụng thì cũng có những hạn chế nhất định trong các hình thức huy động tiền gửi của mình. Ngân hàng nước ngoài thì không được nhận tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn của dân cư nhằm đảm bảo an toàn cho số tiền tiết kiệm này bởi yếu tố nước ngoài gây khó khăn cho việc quản lý hơn là các ngân hàng trong nước. Còn hợp tác xã tín dụng chỉ được huy động vốn của xã viên mà không được huy động vốn rộng rãi trong dân chúng. Điều này là hợp lý khi mà mục tiêu hoạt động của nó chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống. Việc vay vốn rộng rãi từ dân chúng để phục vụ lợi ích cho bản thân nhóm người này sẽ dẫn đến những tiêu cực ảnh hưởng đến quyền lợi của những người gửi tiền khác.
Như vậy, các quy định về hình thức nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng đã bước đầu tạo ra sự an toàn tối thiểu cho hoạt động huy động vốn.
b. Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn
Vì là chủ thể cầm giữ tiền của rất nhiều cá nhân, tổ chức trong xã hội nên các tổ chức tín dụng sẽ gặp nguy hiểm khi có thể do không chi trả được tiền gửi do một nguyên nhân nào đó. Do vậy, để đảm bảo an toàn thì pháp luật các nước cũng như pháp luật Việt Nam đều định ra các tỷ lệ bảo đảm an toàn nhất định mà việc duy trì nó sẽ đảm bảo được phần nào khả năng thanh toán, trả nợ của các tổ chức tín dụng.
Trước hết, các tổ chức tín dụng khi thực hiện hoạt động nhận tiền gửi phải đảm bảo các quy định về khả năng chi trả. Theo quy định tại Điều 12 Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN, tổ chức tín dụng phải thường xuyên đảm bảo tỷ lệ về khả năng chi trả:
“1. Tỷ lệ tối thiểu 25% giữa giá trị các tài sản “có” có thể thanh toán ngay và các tài sản “nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo.
2. Tỷ lệ tối thiểu bằng 1 giữa tổng tài sản “có” có thể thanh toán ngay trong khoảng thời gian 7 ngày làm việc tiếp theo và tổng tài sản nợ phải thanh toán trong khoảng thời gian 7 ngày tiếp theo.”
Tài sản “có” được phân nhóm theo các mức độ rủi ro bao gồm nhóm tài sản “có” hệ số rủi ro 0%, 20%, 50% và 100%.
Thứ hai, các tổ chức tín dụng khi thực hiện hoạt động nhân tiền gửi phải đảm bảo các quy định về tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu được xác định bằng tỷ lệ giữa vốn tự có so với tài sản “có”, kể cả các cam kết ngoại bảng được điều chỉnh theo mức độ rủi ro. Vốn tự có của các tổ chức tín dụng ngoài vốn điều lệ còn gồm quỹ dự đặc biệt, các tài sản cố định. Còn tài sản “có” thì ngoài vốn tự có còn gồm các khoản vốn huy động khác. Việc khống chế mức tối đa về huy động vốn so với vốn tự có là rất quan trọng, tránh huy động vốn một cách ồ ạt và tuỳ tiện, không theo đúng thực lực của ngân hàng. Sẽ rất phương hại đến người gửi bởi nó sẽ thiếu tiềm lực tài chính để bù đắp rủi ro và chi trả cho khách hàng.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN thì các tổ chức tín dụng (trừ chi nhánh ngân hàng nước ngoài) phải duy trì tỷ lệ tối thiểu 8% giữa vốn tự có so với tổng tài sản “có” rủi ro. Nếu tổ chức tín dụng có tỷ lệ an...