TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
MÔN HỌC BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC
Tiểu luận
NGHIÊN CỨU BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT THÂN GỖ
TẠI RỪNG PHÒNG HỘ CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tháng 5 năm 2009
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA LÂM NGHIỆP
Tiểu luận
NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG SINH HỌC THỰC VẬT THÂN GỖ TẠI
RỪNG PHÒNG HỘ CẦN GIỜ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Đặng Thành Sơn
Cao học khóa 2008
Môn học Bảo tồn đa dạng sinh học
Tháng 6 năm 2009
2
Chương 1
Chương 2
2
2
2
3
3
3
4
5
6
7
7
8
8
8
9
ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm khu vực nghiên cứu ………………………………………..
3.1.1. Điều kiện tự nhiên ………………………………………………..
3.1.2. Thực vật rừng ngập mặn Cần Giờ ………………………………..
3.2. Nội dung nghiên cứu …………………………………………………
3.3. Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật ………................
3.3.1. Cơ sở lựa chọn tiểu khu nghiên cứu ……………………………...
3.3.2. Công tác chuẩn bị ………………………………………………...
3.3.3. Ngoại nghiệp ……………………………………………………...
3.3.4. Xử lý số liệu ……………………………………………………...
3.4. Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học thú ………………………
3.5. Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học chim …………………….
27
3
Chương 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm văn hóa, kinh tế của cả khu vực Nam Bộ.
Tốc độ phát triển kinh tế khá cao so với các tỉnh, thành phố trong cả nước, thể hiện rỏ
nét trong việc đô thị hóa, công nghiệp hóa trên địa bàn. Hệ quả tiêu cực của quá trình
phát triển này là ô nhiễm môi trường sống của người dân thành phố và một số hệ sinh
thái có liên quan khác. Cụ thể là rừng ngập mặn Cần Giờ.
Rừng ngập mặn Cần Giờ được hình thành gắn với quá trình lấn biển tự nhiên
của hệ thống sông ngòi tại đây, trong chiến tranh rừng ngập mặn Cần Giờ bị tàn phá
nặng nề bởi chất khai hoang, sau khi hòa bình lập lại với quyết tâm của người dân
thành phố, rừng ngập mặn Cần Giờ dần được khôi phục lại, đã được thế giới đánh giá
cao và tổ chức UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên ở Việt Nam,
rừng ngập mặn Cần Giờ được ví như lá phổi của thành phố Hồ Chí Minh, có chức năng
cải thiện tình trạng ô nhiễm môi trường của một thành phố đang phát triển với tốc độ
cao. Đồng thời đây cũng là nơi có môi trường và điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức
du lịch sinh thái, đáp ứng nhu cầu du lịch dã ngoại của người dân thành phố và các
vùng lân cận, tạo điều kiện cải thiện cuộc sống của người dân địa phương.
Rừng ngập mặn Cần Giờ còn là môi trường sinh sống cho hệ động vật hoang dã
tại đây, nói cách khác đa dạng sinh học thực vật và đa dạng sinh học động vật có mối
qua hệ chặt chẽ với nhau, trong mối qua hệ đó đa dạng sinh học thực vật quyết định
tính đa dạng của toàn khu vực.
Rừng ngập mặn cần giờ là cửa ngõ tiếp nhận tàu bè trong và ngoài nước đến với
thành phố Hồ Chí Minh, do vậy rừng tại đây còn có chức năng phòng hộ như chống sạt
lỡ, bồi tụ lòng sông do tàu bè gây nên. Là lá chắn thiên tai từ biển cả cho thành phố
Tiểu khu 1, rừng ngập mặn Cần Giờ.
1.4.4. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu đa dạng sinh học thực vật thân gỗ rừng ngập mặn Cần Giờ chỉ thực
hiện đối với 1 tiểu khu, đó là tiểu khu 1 rừng ngập mặn Cần Giờ. Do thời gian và điều
kiện không cho phép, nghiên cứu chỉ ở mức độ đa dạng loài, họ và quần xã thực vật
thân gỗ rừng ngập mặn (có đường kính tại vị trí 1,3 m từ 6 cm trở lên) mà chưa nghiên
cứu về đa dạng gen của hệ thực vật thân gỗ rừng ngập mặn và thực vật có đường kính
tại vị trí 1,3 m từ 6 cm trở xuống.
Chương 2
5
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về đa dạng sinh học
2.1.1. Khái niệm về đa dạng sinh học
Đa dạng sinh học là thuật ngữ chỉ tính phong phú của sự sống trên trái đất, là hàng
triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là các gien chứa đựng trong các loài và những hệ
sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường.
Đa dạng sinh học ở 3 mức độ: đa dạng di truyền, đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái.
. Đa dạng di truyền: Hay còn gọi là đa dạng gen, chỉ sự phong phú về gen và sự khác nhau số
lượng của các gen, bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các cá thể. Nghiên cứu về đa dạng gen
đồi hỏi nhiều thời gian, thiết bị tài chính, kỹ thuật và hiểu biết về đa dạng gen trên thế giới còn
ít. Tuy nhiên, đa dạng di truyền có tầm quan trọng đối với bất kỳ một loài sinh vật nào để duy
trì khả năng sinh sản hữu thụ, tính bền vững và khả năng thích nghi của các cá thể trong loài
với các điều kiện sống luôn luôn biến đổi.
. Đa dạng loài: Là sự phong phú về số loài và trữ lượng các loài trong hệ sinh thái. Đây là
khái niệm dễ hiểu và dễ nhận thấy trong thực tế vì một danh lục các loài động thực vật ghi
nhận được của một dợt khảo sát thực địa chính là đa dạng loài động thực vật ở khu vực đó
Hiện nay có khoảng trên 1,4 triệu loài sinh vật đã được mô tả và dự đoán có thể có từ 5 triệu
2.1.3. Nguyên nhân suy thoái đa dạng sinh học và giải pháp bảo tồn
. Suy thoái đa dạng sinh học: có hai nguyên nhân chính đó là nguyên nhân tự nhiên
và do con người, trong đó nguyên nhân do cong người là chủ yếu:
- Rừng tự nhiên bị mất và chia cắt thành các đám nhỏ, cháy rừng khai thác lâm
sản quá mức, làm mất nơi sống của các loài sinh vật;
- Du canh và xâm lấn đất rừng (phá rừng làm rẫy, di dân tự do, phá rừng ngập
mặn làm đầm nuôi tôm, …);
- Ô nhiễm nguồn nước (do nước thải công nghiệp, thuốc trừ sâu, tràn dầu, lắng
đọng bùn ở các cửa sông, bến cảng, …);
- Sự xuống cấp vùng bờ biển ( bờ biển thu hẹp, vùng triều giảm, độ chua phèn
tăng, quá trình lắng bùn ở cửa sông và ô nhiễm);
- Sự chuyển đổi sang kinh tế thị trường (sử dụng giống cây trồng vật nuôi mới
có năng suất cao, loại bỏ các loài bản địa năng suất thấp, …).
. Lý do bảo tồn đa dạng sinh học
- Phục vụ cho mục đích sử dụng trong hiện tại và tương lai, các nhân tố của đa
dạng sinh học như các nguồn tài nguyên sinh học.
- Phục vụ cho việc duy trì sinh quyển trong trạng thái có thể hỗ trợ cho cuộc
sống con người.
- Phục vụ bảo tồn đa dạng sinh học mà không vì mục đích nào khác, đặc biệt là
tất cả các loài đang sống hiện nay.
. Các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học, Việt Nam cũng như các nước trên thế giới
cũng đang áp dụng 3 giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học chủ yếu sau:
7
- Công ước quốc tế: Chúng ta đã ký tham gia nhiều công ước quốc tế nhma82
góp phần bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu (công ước bảo vệ các vùng đất ngập nước
– RAMSAR, công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp –
chung cho cả Việt Nam; Đề án soạn thảo Danh lục đỏ Việt Nam và Sách đỏ Việt Nam
8
theo tiêu chuẩn IUCN đã được thực hiện từ 2001, hiện nay đã xong bản thảo; Đề tài
độc lập cấp Nhà nước năm 2003 nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện Bộ động vật chí,
thực vật chí Việt Nam; Đề án hợp tác Bảo tồn thực vật Việt Nam giữa Viện Sinh thái
tài nguyên sinh vật với Vườn Thực vật Missouri Hoa Kỳ; Đề án Tài nguyên thực vật
các nước Đông Nam Á; Dự án đa dạng gen của 2 loài tre ở Việt Nam (do Nhật tài trợ);
Đề án xây dựng cơ sở dữ liệu thực vật, động vật Việt Nam (phần lục địa) thực hiện từ
2002 - 2003; Điều tra, nghiên cứu đa dạng sinh học cho các Vườn Quốc gia, Khu Bảo
tồn; Tham gia đánh giá tác động môi trường các công trình xây dựng, chủ trì các vấn
đề đánh giá tác động môi trường của công trình đến hệ sinh thái và đa dạng sinh học;
Tham gia các dự án bảo vệ đa dạng sinh học tiểu vùng, xuyên biên giới, các dự án của
WWF, IUCN, Birdlife, Care...
Một số dự án khác như Dự án "Xây dựng các Khu Bảo tồn thiên nhiên trên cơ
sở xây dựng quan điểm sinh thái cảnh quan" (dự án PARC) do Quỹ môi trường toàn
cầu GEF tài trợ; Dự án "Bảo tồn các loài cây trồng bản địa và họ hàng hoang dại của
chúng ở Việt Nam" và một số dự án khác do tổ chức Trung tâm đa dạng sinh học
Asean (ACB) tài trợ.
2.1.5. Các phương pháp đánh giá đa dạng sinh học
. Điều tra đa dạng sinh học:
- Điều tra thành phần loài: Còn được gọi là điều tra khu hệ (thực vật, động vật
hoặc một nhóm cụ thể) và đó là các hoạt động khảo sát thực địa nhằm cung cấp những
thông tin về số lượng loài hiện có và sự phân bố của chúng trong các dạng sinh cảnh
nếu có thể. Kết quả cuối cùng của các cuộc điều tra như vậy sẽ cung cấp một bản danh
mục các loài có mặt trong khu vực theo hệ thống phân loại và một bản đồ phân bố các
loài chủ yếu.
- Điều tra trữ lượng: Điều tra trữ lượng là những hoạt động ngoại nghiệp khó
pháp ô cố định. Thông thường ô tiêu chuẩn có kích cỡ 1 m x 1m được áp dụng cho nghiên cứu
thực vật thân thảo, 5 m x 5 m áp dụng cho nghiên cứu thảm cây bụi và 10 m x 10 m áp dụng
cho nghiên cứu thảm thực vật cây gỗ lớn. Số liệu hiện trường được sử dụng để tính toán
các giá trị tương đối như tần suất xuất hiện tương đối, mật độ tương đối, độ tàn che
tương đối, tổng tiết diện ngang mỗi loài và cuối cùng tính toán được chỉ số giá trị quan
trọng IVI (trích dẫn bởi Lê Quốc Huy, 2005).
2.2. Khái quát về rừng ngập mặn
Rừng ngập mặn là những cây thân gỗ và cây bụi mọc dưới mức triều cao của
triều cường (FAO, 1952). Vì vậy, hệ thống rễ của chúng thường xuyên bị ngập trong
nước mặn, mặc dù nước có thể được pha loãng do dòng nước ngọt và chỉ ngập một hay
hai lần trong năm (FAO, 1994) (trích dẫn bởi Viên Ngọc Nam,2005).
2.2.1. Trên thế giới
Vùng rừng ngập mặn tập trung lớn nhất trên thế giới là vùng Nam và Đông Nam Á
(chiếm 41,5 %) năm 1997. Diện tích rừng ngập mặn trên thế giới có những biến động đáng
kể trong những năm qua. Từ năm 1997 đến 1983, diện tích giảm 6,7 % nhưng sau 10 năm
diện tích đã tăng lên 17,7 % (năm 1993) (Bảng 2.1). Sở dĩ diện tích rừng ngập mặn đã tăng
là nhờ việc chú trọng trồng lại và xúc tiến tái sinh tự nhiên… khi cả thế giới thấy được tầm
quan trọng đặc biệt của rừng ngập mặn.
10
Rừng ngập mặn không những mang ý nghĩa sinh thái, phòng hộ mà còn có giá trị
kinh tế rất lớn, cung cấp gỗ củi, động vật trên cạn và dưới nước, chức năng điều hòa khí
hậu.
Phân loại thực vật rừng ngập mặn chỉ mang tính tương đối. Saenger và ctv (1983)
cho rằng loài cây trong rừng ngập mặn chia thành 2 nhóm là nhóm đặc trưng và nhóm
không đặc trưng. Tomlinson (1986) lại chia cây rừng ngập mặn thành 3 nhóm là nhóm cây
11
Kathiresan và Qasim (2005) đã cho xuất bản cuốn sách tổng quát các vấn đề về “Đa
dạng sinh học hệ sinh thái rừng ngập mặn” ở Ấn Độ. Cuốn sách giới thiệu chung về đa
dạng sinh học, tầm quan trọng của bảo tồn đa dạng sinh học, hệ sinh thái rừng ngập mặn
ven biển.
Tài liệu của Clarke và Warwick (2001) về “Phương pháp thu thập dữ liệu và phân
tích thống kê để xác định những thay đổi về quần xã ven biển” gồm 17 chương trình bày
cơ sở khoa học, lý luận hình thành phương pháp và phân tích tính đa dạng sinh học bằng
phần mềm PRIMER (Plymouth Routines In Multivariate Ecological Research). Công thức,
ý nghĩa của các chỉ số đa dạng được trình bày và giải thích trên cơ sở khoa học của việc xử
lý định lượng đa dạng sinh học.
2.3.2. Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Việt Nam
Phan Nguyên Hồng (2004) trong cuốn “Hệ sinh thái rừng ngập mặn vùng ven biển
đồng bằng sông Hồng” đã trình bày một số nghiên cứu về rừng ngập mặn với các lĩnh vực
đa dạng sinh học, sinh thái học, kinh tế xã hội, quản lý, tuyên truyền giáo dục vùng ven
biển đồng bằng sông Hồng.
Lê Văn Khôi, Viên Ngọc Nam và Lê Đức Tuấn (2006) với công trình về khôi phục
và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh 1978
– 2000 đã trình bày quá trình khôi phục và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ
từ 1978 – 2000. Đây là cơ sở cho nghiên cứu về đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh
học được thực hiện.
Trong chương trình điều tra cơ bản tổng hợp có định hướng hai huyện Nhà Bè và
Cần Giờ thành phố Hồ Chí Minh, Viên Ngọc Nam và Nguyễn Sơn Thụy (1993) đã điều tra
thành phần loài, sự phân bố loài, các quần xã thực vật tự nhiên, diện tích, cấu trúc, diễn thế
rừng ở Cần Giờ. Kết quả điều tra cung cấp thêm những thông tin về rừng ngập mặn Cần
Giờ và là cơ sở quan trọng cho việc điều tra đa dạng sinh học sau này.
Bài giảng cao học về “Đa dạng sinh học và bảo tồn nguồn gen lâm nghiệp” của
. Lượng mưa: thấp nhất thành phố Hồ Chí Minh, trung bình từ 1.300 – 1.400 mm/năm,
có xu hướng giảm dần từ Bắc xuống Nam trong đó Cần Giờ 1.157mm, Tam Thôn Hiệp
1.504 mm, và ở mũi Nhà Bè 1.744 mm/năm.
Số ngày mưa không quá 160 ngày/năm, mùa mưa thường bắt đầu từ 20 tháng 4
đến 31 tháng 10 hàng năm, tập trung vào tháng 6 và tháng 9. Mưa thường xảy ra vào
buổi chiều, cơn mưa thường kéo dài không quá 30 phút. So với trước năm 1975, những
năm gần đây lượng mưa ở Cần Giờ có giảm đi (khoảng 1.336mm/năm).
- Thủy văn
. Mạng lưới sông rạch
13
Cần Giờ có mạng lưới sông rạch chằng chịt 7 – 10 km/km2, nguồn nước từ biển
đưa vào bởi 2 cửa sông chính hình phễu là vịnh Giồng Tranh và vịnh Gành Rái. Nguồn
nước từ sông đổ ra là nơi hợp lưu của sông Sài Gòn và sông Đồng Nai ra biển bằng 2
tuyến chính là sông Lòng Tàu và Soài Rạp, ngoài ra còn có sông Thị Vải, Gò Gia và
các phụ lưu của nó. Sông Lòng Tàu là thủy lộ chính đưa các tàu có trọng tải trên
20.000 tấn vào cảng Sài Gòn. Sông Rạch chảy theo hướng Đông Nam dạng uốn lượn
có ảnh hưởng đến địa hình và thay đổi cảnh quan các sinh vật cảnh. Hai sông Lòng Tàu
và sông Soài Rạp là hai hệ thống sông chính chi phối toàn bộ chế độ thủy văn của hầu
hết các sông rạch khác.
- Chế độ thủy triều
Rừng ngập mặn Cần Giờ nằm trong vùng có chế độ bán nhật triều không đều
(hai lần nước lớn, hai lần nước ròng trong ngày), hai đỉnh triều thường bằng nhau
nhưng hai chân triều lại lệch nhau rất xa.
Biên độ triều cường ngập mặn từ 4 – 4,2 m vào loại cao nhất Việt Nam và có xu
hướng giảm dần từ phía Nam lên Bắc. Phía Nam giáp biển Đông, thời gian xuất hiện
biên độ triều lớn nhất từ tháng 8 đến tháng 1 với biên độ 3,6 – 4,2 m, ở phía Bắc từ 2,8
– 3,3 m.
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Cơ sở lựa chọn tiểu khu nghiên cứu
- Những tiểu khu này có vai trò quan trọng, là nơi cư trú của một số động vật
quý hiếm. Tiểu khu 1 với các loài đước, mấm… và sân chim (chim nước). (Trung tâm
Tư vấn dịch vụ kỹ thuật Lâm nghiệp, 1998).
- Cách ly với các khu dân cư, kiểm soát tốt nên tính đa dạng sinh học ít bị tác
động bởi điều kiện ngoại cảnh.
- Góp phần cung cấp thông tin trên cơ sở khoa học để làm căn cứ ra quyết định
thành lập và phân vùng trong Dự án khả thi Khu Bảo tồn thiên nhiên rừng ngập mặn
Cần Giờ trong tương lai.
3.3.2. Công tác chuẩn bị
- Thu thập các tài liệu thứ cấp gồm các loại bản đồ, ảnh vệ tinh, ảnh máy bay, tài
liệu và số liệu có liên quan…
- Trên cơ sở bản đồ ranh giới các tiểu khu và ảnh vệ tinh của Rừng ngập mặn
Cần Giờ thu thập được, dùng phần mềm Envi 4.0 và MapInfo 6.0 để thiết kế ô đo đếm
trong từng tiểu khu.
3.3.3. Ngoại nghiệp
- Tiến hành điều tra, khảo sát ngoài thực địa
• Điều tra theo tuyến kết hợp với lập ô tiêu chuẩn điển hình. Bố trí ô tiêu chuẩn
dọc theo hệ thống kênh rạch (rừng tự nhiên) nhằm điều tra được các loài có mặt trong
tiểu khu.
15
• Lập ô tiêu chuẩn có kích thước 10 m x 10 m. Số lượng ô tiêu chuẩn ở mỗi tiểu
khu là 30 ô, dùng đồ thị số lượng loài và ô tiêu chuẩn để kiểm tra số lượng ô tiêu chuẩn
cần thiết để đảm bảo về mặt thống kê. Dùng la bàn và thước dây để xác định kích cỡ và
hướng ô tiêu chuẩn. Đánh dấu ô đo đếm bằng sơn xịt lên 4 cây ở 4 góc của ô đo đếm,
16
Số lượng các ô tiêu chuẩn có loài xuất hiện
Tần suất (%) =
x 100
Tổng số các ô tiêu chuẩn nghiên cứu
Tần suất xuất hiện của một loài nghiên cứu
Tần suất tương đối (RF) (%) =
x 100
Tổng số tần suất xuất hiện của tất cả các loài
+ Độ phong phú được tính theo công thức:
Tổng số cá thể xuất hiện trên tất cả các ô tiêu chuẩn
Độ phong phú (A) =
Số lượng các ô tiêu chuẩn có loài nghiên cứu xuất hiện
Độ phong phú của một loài nghiên cứu
Độ phong phú tương đối A (%) =
x 100
Tổng độ phong phú của tất cả các loài
+ Chỉ số giá trị quan trọng IVI được áp dụng để biểu thị cấu trúc, mối tương quan và
trật tự ưu thế giữa các loài trong quần xã thực vật. Chỉ số IVI của mỗi loài được tính
bằng công thức:
IVI (%) = (RD + RF + A)/3
Trong đó, chỉ số đa dạng Shannon (H’) có ý nghĩa quyết định, những chỉ số còn lại góp
phần bổ sung và lý giải để kết quả mang tính thuyết phục và có độ tin cậy cao. Thể
hiện tất cả các chỉ số lên cùng đồ thị sẽ giúp dễ quan sát, đánh giá tính đa dạng của khu
vực hơn.
- Trên cơ sở những dữ liệu đã có ở trên và tài liệu thu thập được, phân tích và
tổng hợp những điều kiện hiện có để đề xuất biện pháp bảo tồn hợp lý.
3.4. Phương pháp nghiên cứu đa dạng sinh học động vật có vú (thú)
Thú là loài động vật có xương sống, có tổ chúc cơ thể cao nhất trong giới động
vật, thể hiện qua các đặc điểm: để con và nuôi con bằng sữa, thân nhiệt cao và ổn định,
các hệ cơ quan cấu tạo hoàn chỉnh, hệ thần kinh phát triển, đặc biệt não bộ có lớp vỏ
xám với nhiều nếp nhăn, khả năng tạo lập nhanh và phản xạ có điều kiện.
3.4.1. Phương pháp nghiên cứu loài thú
- Mục đích và ý nghĩa
Điều tra thu nhằm cung cấp thông tin về:
. Thành phần và trữ lượng quần thể các loài thú.
. Đặc điểm sinh học, sinh thái và các mối quan hệ giữa các loài thú với môi
trường.
Nội dung bao gồm:
. Điều tra thành phần loài.
18
. Điều tra số lượng.
- Một số đặc điểm hình thái sử dụng trong nhận biết và định loài thú
Nhận biết loài qua:
Nhận biết về hình thái nhằm xác định nhanh loài qua kích thước, màu sắc cơ
thể, dáng điệu, cách thức vận động, tiếng kêu… và với kinh nghiệm của người làm
công tác điều tra.
Phân biệt đực cái, nhằm cung cấp thông tin quan trọng về cấu trúc quần thể, xác
tàng lưu giữ mẫu vật quốc gia hoặc gia đình các thợ săn.
Lập danh mục thú rừng cho khu vực nghiên cứu, dựa trên số liệu thu thập được
từ thực địa, thợ săn tiến hành phân tích và xây dựng danh mục theo loài, bộ, lớp.
- Phương pháp điều tra số lượng loài
Số lượng loài là trữ lượng, mật độ quần thể thú rừng, làm cơ sở cho mọi phương
án quản lý nguồn tài nguyên thú rừng. Tùy thuộc vào mỗi loài thú rừng nghiên cứu mà
có các phương pháp khác nhau, cụ thể như sau:
. Phương pháp phân tích số lượng tiếng kêu, phương pháp này thường sử dụng
đối với các loài thú linh trưởng vào lúc sáng sớm hay chiều tối.
. Phương pháp tính số lượng theo dấu chân, phương pháp này thường được áp
dụng cho những loài thú có trọng lượng cơ thể lớn, môi trường sống trên mặt đất như
thú móng guốc.
. Phương pháp tính số lượng dựa trên lượng phân thải ra, phương pháp này cũng
được áp dụng cho những loài thú móng guốc, tuy nhiên hiệu quả đối với thú có trọng
lượng cơ thể nhỏ như thỏ rừng, chồn (cày), cu li…
Phương pháp đếm đàn, được áp dụng cho thu linh trưởng, thú móng guốc.
. Phương pháp tính số lượng theo tuyến thẳng góc, về nguyên tắc khi thực hiện
người điều tra phải xác định chính xác cự ly từ tuyến đến con vật hoặc từ người quan
sát đến con vật và góc lệch với tuyến điều tra.
. Phương pháp tính số lượng theo bẫy, áp dụng cho thú nhỏ, khó quan sát, hoạt
động ban đêm, phương pháp này cung cấp nhiều thông tin như mùa sinh sản, tuổi, tỉ lệ
đực cái, và có thể đánh dấu giúp cho việc tính mật độ thả bắt lại.
3.4.2. Phương pháp giám sát quần thể thú lớn
Là phương pháp giám sát các loài thú có trọng lượng cơ thể trên 5kg, thường là
những loài đặc biệt được chú ý trong các khu bảo tồn
- Chọn loài thú lớn để giám sát vì: nhiều người biết đến, đối tượng của thợ săn, sự có
mặt của thú lớn hay không có mặt sẽ ảnh hưởng đến sinh cảnh của khu vực, các loài
20
. Tập tính, là về cách bay lượng, bắt mồi, tự vệ, không gian hoạt động, thời gian
xuất hiện, vùng phân bố định cư.
21
. Tiếng hót, được sử dụng khi khó nhận biết ngoài tự nhiên qua hình thái của
một loài chim nào đó.
. Bằng phương tiện bổ sung, như các sách phân loại chim có hình chụp hoặc vẽ
màu, hoặc sử dụng các thiết bị âm thanh có ghi tiếng chim cần nghiên cứu.
. Phân loại học, dựa trên các đặc điểm như chiều dài thân, cách, mỏ, đuôi. Mô tả
đặc điểm về màu sắc lông, một số bộ phận cơ thể khác.
. Nhận biết con đực và con cái, phần lớn dựa vào màu sắc lông, kích thước cơ
thể, tiếng hót…
. Xác định tuổi, tuổi chim được chia làm các cấp: Chim non trong tổ, chim non
rời tổ, chim non, chim non sắp trưởng thành, chim trưởng thành. Phương pháp xác định
dựa vào màu lông, tiếng kêu.
- Phương pháp điều tra thành phần loài, mục đính nhằm nắm được nguồn tài
nguyên đa dạng chim trong khu bảo tồn qua việc xây dựng bản danh mục đầy đủ.
Phương pháp thực hiện gồm, tập hợp thông tin đã có, quan sát trực tiếp trên thực địa,
phỏng vấn dân và thợ săn địa phương, sử dụng các nguồn mẫu vật từ dân và thợ săn và
đánh bắt bằng bẫy… và từ tư liệu vật mẫu của các bảo tàng.
- Phương pháp tính số lượng chim rừng, phương pháp tính số lượng chim phụ thuộc
vào đặc điểm sinh học, sinh thái và tập tính cũng như đặc điểm vùng cư trú của chúng.
Có nhiều phương pháp tính số lượng chim khác nhau, tùy thuộc vào các phương pháp
khác nhau cho kết quả có độ chính xác khác nhau.
. Phương pháp tính số lượng tương đối, phương pháp này cho kết quả là chỉ số
phong phú (tần số gặp so với số lần quan sát) của chim trong vùng nghiên cứu.
. Phương pháp tính số lượng tuyệt đối, phương pháp này có kết quả cho phép
đánh giá được số lượng các thể của loài trong vùng nghiên cứu một cách khá chính
4.1. Vị trí các ô đo đếm
Hình 4.1 thể hiện vị trí các ô tiêu chuẫn ở tiểu khu 1
Ảnh có từ nguồn… Sau đó, sử dụng máy định vị GPS và phần mềm MapSource xác
định tòa độ các ô tiêu chuẩn ngoài thực địa và thể hiện trên bản đồ.
4.2. Định lượng đa dạng sinh học thực vật tại tiểu khu 1
4.2.1. Phân tích đa dạng thực vật loài tại tiểu khu 1
Số
loài
Biểu đồ 4.1: Đồ thị tương quan giữa số lượng loài và ô tiêu chuẩn trong tiểu khu 1
Giữa số loài và ô tiêu chuẩn có mối tương quan với nhau. Số ô tiêu chuẩn càng
tăng thì số loài cũng tăng, nhưng đến một giới hạn nhất định thì số loài không thay đổi.
Để xác định được đầy đủ số loài thì rất tốn kém, mất nhiều thời gian và công sức vì vậy
phương pháp bố trí ô tiêu chuẩn đóng vai trò quan trọng đặc biệt.
Số ô
Tiêu
chuẩn
Khi số ô tiêu chuẩn ít thì không đại diện cho khu vực nghiên cứu nên
số loài
điều tra được trong các ô tiêu chuẩn không bao gồm tất cả số loài của khu vực. Đồ thị
cho thấy, số loài tăng nhanh trong khoảng 1 đến 10 ô tiêu chuẩn, nhưng sau đó tăng
không đáng kể (từ 10 đến 20 ô) và cuối cùng gần như không thay đổi. Kết quả này cho
phép kiểm tra dung lượng mẫu điều tra để đảm bảo về mặt thống kê.
24
Nếu hướng của đồ thị còn tiếp tục tăng thì cần điều tra thêm ô tiêu chuẩn trong
khu vực. Kết quả cho thấy, dung lượng mẫu điều tra trong tiểu khu 1 đã thỏa mãn yêu
t
r
ắ
n
g
,
C
ó
c
v
à
n
g
25