Nghiên cứu đa dạng sinh học động vật không xương sống cửa sông Cả và một số đầm nuôi phụ cận ven biển Nghệ An - Hà Tĩnh - Pdf 26



IV
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt Error! Bookmark not defined.
Lời cam kết II
Lời cảm ơn III
Mục lục IV
Danh mục hình X
Mở đầu 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1. Một số khái niệm cơ bản 3
1.1.1. Khái niệm về ĐDSH 3
1.1.2. Khái niệm về vùng cửa sông 6
1.1.3. Thuỷ vực và đặc trƣng đời sống thuỷ sinh vật 8
1.2. Phân loại và phân vùng cửa sông 9
1.3. Chức năng, vai trò của vùng cửa sông 11
1.4. Những nghiên cứu về cửa sông trên thế giới 14
1.4.1. Về đặc điểm điều kiện tự nhiên 14
1.4.2. Những nghiên cứu về ĐVKXS 16
1.5. Những nghiên cứu vùng cửa sông Việt Nam 20
1.5.1. Giá trị của vùng cửa sông ven biển Việt Nam 20
1.5.2. Tình hình nghiên cứu ĐVKXS vùng cửa sông ở Việt Nam 22
1.5.2.1. Về động vật nổi 22
1.5.2.2. Về động vật đáy 24
1.5.3. Một số nét khái quát về sông Cả và khu vực nghiên cứu 28
CHƢƠNG 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1. Thời gian, địa điểm nghiên cứu 32

3.3.1.4. Biến động số lƣợng động vật đáy vùng cửa sông Cả 59
3.3.2. Đa dạng sinh học động vật nổi 62
3.3.2.1. Cấu trúc thành phần loài 62
3.3.2.2. Các nhóm động vật nổi tại các tuyến thu mẫu 64
3.3.2.3. Áp dụng chỉ số Margalef đánh giá mức độ đa dạng sinh học động
vật nổi 65
3.3.2.4. Biến động số lƣợng động vật nổi vùng cửa sông Cả 66
3.4. Đa dạng sinh học động vật không xƣơng sống của một số đầm nuôi tôm
69
3.4.1. Đa dạng sinh học động vật đáy 69
3.4.1.1. Cấu trúc thành phần loài 69
3.4.1.2. Các nhóm động vật đáy ở các đầm nuôi tôm 70
3.4.1.3. Áp dụng chỉ số Shannon Weiner đánh giá mức độ đa dạng sinh
học động vật đáy ở các đầm nuôi tôm 71
3.4.1.4. Biến động số lƣợng động vật đáy ở các đầm nuôi tôm 73
3.4.2. Đa dạng sinh học động vật nổi 81
3.4.2.1. Cấu trúc thành phần loài 81
3.4.2.2. Áp dụng chỉ số Margalef đánh giá mức độ đa dạng sinh học động
vật nổi ở các đầm nuôi tôm 82
3.4.2.3. Biến động số lƣợng động vật nổi ở các đầm nuôi tôm 84
3.5. Nhận xét về sự phân bố của ĐVKXS vùng cửa sông Cả 90
3.5.1. Sự phân bố của động vật đáy 90
3.5.2. Sự phân bố của động vật nổi 96
3.6. Tình hình khai thác, sử dụng nguồn lợi ĐVKXS khu vực nghiên cứu 98
3.6.1. Tầm quan trọng của nguồn lợi ĐVKXS 98 VI
3.6.1.1. Giá trị sử dụng của nguồn lợi ĐVKXS 98
3.6.1.2. Phát triển nuôi trồng thuỷ sản nƣớc lợ nhằm phát huy giá trị của

VII
Danh mục chữ viết tắt

BTS
Bộ thuỷ sản
BTC
Bán thâm canh
ĐNN
Đất ngập nƣớc
ĐVN
Động vật nổi
ĐVĐ
Động vật đáy
ĐVKXS
Động vật không xƣơng sống
ĐKTN
Điều kiện tự nhiên
GNT
VIII

Danh mục bảng
Bảng 1. 1. Hệ thống phân loại các thuỷ vực nƣớc lợ của Venice (1959) 7
Bảng 2. 1. Giới hạn phạm vi giá trị tính đa dạng theo chỉ số Margalef (d) 38
Bảng 3. 1. Kết quả tính trung bình một số yếu tố thuỷ lý thuỷ hoá vùng cửa sông
Cả năm 2004 và 2005 40
Bảng 3. 2. Nhiệt độ và độ muối trung bình trong một số đầm nuôi tôm ở Hƣng
Hoà - Vinh, Nghệ An và Nghi Xuân, Hà Tĩnh năm 2003 và 2004 46
Bảng 3. 3. Chỉ số pH và độ đục trung bình tại một số đầm nuôi tôm ở Hƣng Hoà
- Vinh và Nghi Xuân, Hà Tĩnh 2003 -2004 48
Bảng 3. 4. Sự biến động hàm lƣợng DO và COD trung bình trong một số đầm
nuôi tôm ở Hƣng Hoà - Vinh và Nghi Xuân, Hà Tĩnh 2003 - 2004 50
Bảng 3. 5. Cấu trúc thành phần loài động vật đáy vùng nghiên cứu 51
Bảng 3. 6. Thành phần loài ĐVĐ cửa sông và các đầm nuôi tôm 52
Bảng 3. 7. Cấu trúc thành phần loài động vật nổi vùng cửa sông Cả và một số
đầm nuôi tôm phụ cận 53
Bảng 3. 8. Thành phần loài ĐVN vùng cửa sông và các đầm nuôi tôm 54
Bảng 3. 9. Cấu trúc thành phần loài ĐVĐ vùng cửa sông Cả 56
Bảng 3. 10. Một số nhóm ĐVĐ tại các tuyến thu mẫu vùng cửa sông Cả 57
Bảng 3. 11. Tổng hợp chỉ số đa dạng Shannon Weiner (H’) và chỉ số Magalef (d)
của ĐVĐ tại vùng cửa sông Cả 58
Bảng 3. 12. Số lƣợng trung bình ĐVĐ 2004 và 2005 59
Bảng 3. 13. Biến động số lƣợng ĐVĐ theo mùa vùng cửa sông Cả 61
Bảng 3. 14. Cấu trúc thành phần loài ĐVN vùng cửa sông Cả 63

Bảng 3. 36. Sự phân bố số loài ĐVN theo độ muối tại vùng cửa sông Cả và một
số đầm nuôi tôm phụ cận 97
Bảng 3. 37. Giá trị sử dụng của nguồn lợi ĐVKXS vùng cửa sông Cả 100
Bảng 3. 38. Số hộ NTTS, số hộ đánh bắt thuỷ sản, số lao động đánh bắt thuỷ sản,
số tàu thuyền ở các địa phƣơng thuộc vùng của sông Cả 103
Bảng 3. 39. Tình hình khai thác Hải sản ở huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh 103
Bảng 3. 40. Số lƣợng, kích thƣớc của tôm qua các đợt thu mẫu bằng giã tôm ở
tuyến 2 (năm 2005) 105
Bảng 3. 41. Số lƣợng, kích thƣớc trung bình của tôm thu đƣợc từ đăng cọc lƣới
đáy 106
Bảng 3. 42. Năng suất tôm ở khu vực Phúc Thọ và Hƣng Lam 1995 -2004 107
Bảng 3. 43. Năng suất khai thác cua, ghẹ ở khu vực Cửa Hội, năm 1995- 2004
108
Bảng 3. 44. Một số đặc điểm về tình hình kinh tế dân sinh tại một số xã huyện
Nghi Lộc, Nghệ An và Nghi Xuân, Hà Tĩnh thuộc vùng cửa sông Cả 110
Bảng 3. 45. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản nƣớc lợ ở Nghệ An và một số địa
phƣơng vùng cửa sông Cả 114
X


Vùng cửa sông (Estuary) là nơi chuyển tiếp sông - biển và trở thành hệ
sinh thái rất độc đáo và phức tạp nhƣng giàu có về tài nguyên thiên nhiên. Bởi
vậy, 60% dân số thế giới và 2/3 các thành phố lớn (trên 25 triệu ngƣời tập trung)
ở các khu vực cửa sông trong phạm vi 60 km từ bờ vào đất liền (Công ƣớc RIO,
1992).
Ở Việt Nam có hơn 3260 km bờ biển, là nơi tập trung dân cƣ và có thế
mạnh về kinh tế với hơn 100 cửa sông, trong đó xuất hiện nhiều môi trƣờng sống
đặc trƣng nhƣ cửa các con sông, các bãi triều, rừng ngập mặn, chuỗi các đầm
phá và vụng, vịnh nông ven bờ. Trƣớc đây, việc khai thác các dạng tài nguyên
thiên nhiên trong vùng cửa sông mới ở mức độ thấp, chƣa gây ra những hậu quả
cản trở quá trình phát triển của vùng hay làm suy giảm tài nguyên thiên nhiên
trong vùng. Hiện tại, do sức ép về dân số, do nhu cầu riêng của từng ngành, từng
bộ phận kinh tế, từng địa phƣơng , việc khai thác các dạng tài nguyên vùng cửa
sông ngày càng đẩy mạnh nhƣng không đƣợc đặt trong một quy hoạch tổng thể.
Vì vậy đƣa đến những hậu quả sinh thái nghiêm trọng nhƣ huỷ hoại nơi sống đặc
trƣng của nhiều loài, gây sự suy giảm tính đa dạng sinh học (ĐDSH), giảm sút
nguồn lợi của các đối tƣợng khai thác có giá trị trong vùng.
Sông Cả là sông lớn nhất khu vực miền Trung, nằm giáp ranh hai tỉnh
Nghệ An, Hà Tĩnh. Vùng cửa sông Cả có nguồn tài nguyên thiên nhiên rất đa
dạng và phong phú, là nơi cƣ trú của nhiều loài động thực vật quý hiếm có nguy
cơ bị tuyệt chủng (có trong sách đỏ Việt Nam). Đồng thời đƣợc đánh giá là một
trong 13 bãi cá chính hiện nay của Việt Nam và cũng là vùng khai thác tôm lớn
(Bộ KHCN&MT - kế hoạch Hành động ĐDSH, 1995) [1, 2].
Trong những năm qua, dƣới sự chỉ đạo của các cấp chính quyền, nhân dân
trong vùng đã đầu tƣ nhiều công sức, tiền của để khai thác các dạng tài nguyên
tại đây, nhƣ phát triển sản xuất nông, lâm, thuỷ sản, xây dựng các khu giải trí, du
lịch…. Nhƣng do áp lực về dân số và phát triển kinh tế, tại vùng cửa sông Cả nói
3
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về ĐDSH
Việc nghiên cứu ĐDSH và bảo vệ ĐDSH là vấn đề quan trọng đƣợc nhiều
nhà khoa học quan tâm, nhƣng cụm từ “đa dạng sinh học” có rất nhiều định
nghĩa khác nhau.
Theo Odum (1975) tỷ lệ giữa số lƣợng loài và “các chỉ số phong phú” (số
lƣợng, sinh khối, năng suất, ) gọi là chỉ số đa dạng về loài. Sự đa dạng về loài
thƣờng không lớn trong “các hệ sinh thái bị giới hạn bởi các yếu tố vật lý”, nghĩa
là trong các hệ sinh thái bị phụ thuộc rất nhiều các yếu tố giới hạn vật lý - hoá
học, và rất lớn trong các hệ sinh thái bị khống chế bởi các yếu tố sinh học. Sự đa
dạng có quan hệ trực tiếp với tính ổn định, song không biết đƣợc là, đến mức độ
nào thì quan hệ đó là nguyên nhân - kết quả [67, 122].
Quỹ Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF, 1989) định nghĩa “ĐDSH là
sự phồn thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và
vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là hệ sinh thái vô cùng
phức tạp cùng tồn tại trong môi trƣờng”. Do vậy, ĐDSH phải tính theo ba mức
độ. ĐDSH ở cấp loài bao gồm toàn bộ các sinh vật sống trên trái đất, từ vi khuẩn
đến các loài thực vật, động vật và các loài nấm. Ở mức độ tinh tế hơn, ĐDSH
bao gồm cả sự khác biệt về gen giữa các quần thể sống cách ly nhau về địa lý
cũng nhƣ khác biệt giữa các cá thể cùng chung sống trong một quần thể. ĐDSH
còn bao gồm cả sự khác biệt giữa các quần xã mà trong đó các loài sinh sống,
các hệ sinh thái nơi mà các loài cũng nhƣ các quần xã sinh vật tồn tại và cả sự
khác biệt của các mối tƣơng tác giữa chúng với nhau [68].
ĐDSH là một khái niệm chỉ tất cả các loài thực vật, động vật, vi sinh vật

cho rằng các nhóm sinh vật đƣợc chọn dựa theo các tiêu chuẩn: (a) Có mật độ
cao; (b) Có tính đa dạng loài cao; (c) Tính đa dạng liên quan chặt chẽ với tính đa
dạng của các loài sinh vật khác trong quần xã; (d) Dễ thu mẫu; (e) Chi phí khảo 5
sát thấp, dễ nhận biết; (g) Có những phản ứng với những thay đổi của các điều
kiện môi trƣờng theo hƣớng có thể dự báo đƣợc hoặc có chiều hƣớng tƣơng tự
nhƣ những phản ứng của các nhóm khác trong quần xã. Tuy nhiên, tuỳ theo từng
hệ sinh thái mà dựa vào một số hay tất cả các tiêu chuẩn trên đây để lựa chọn các
“nhóm sinh vật” dự báo cho việc đánh giá và quan trắc biến động ĐDSH trong
quần xã, thông qua việc tính các chỉ số ĐDSH của các nhóm đó [51, 108, 128].
Tuỳ theo các điều kiện cụ thể về khu vực nghiên cứu, số lƣợng và chất
lƣợng mẫu, có thể sử dụng các chỉ số ĐDSH sau: chỉ số đa dạng Fisher, chỉ số
phong phú Margalef, chỉ số Shannon - Weiner, chỉ số Simpson và chỉ số Jaccar -
Sorenxen. Trong các chỉ số trên thì chỉ số Shannon - Weiner và Margalef đƣợc
sử dụng rộng rãi hơn cả trong đánh giá mức độ ĐDSH.
Chỉ số đa dạng Shannon - Weiner cho phép so sánh các quần xã theo sự
giàu có về loài và thể hiện về mặt số lƣợng của các nguyên lý quần xã của
Thiemanm. Trong những điều kiện môi trƣờng thuận lợi số lƣợng loài thƣờng
tăng nhƣng số lƣợng cá thể của mỗi loài lại giảm, khi đó chỉ số về tính đa dạng
cao nhất. Khi môi trƣờng bất lợi, số lƣợng loài trở nên ít nhƣng số lƣợng (sinh
vật lƣợng) của một số loài trong chúng lại rất cao, còn một số loài khác lại thấp
và chỉ số đa dạng giảm.
Tính đa dạng về loài của quần xã trong quá trình tồn tại và phát triển tăng
lên đến một giới hạn nhất định. Những quần xã trẻ mới hình thành thƣờng nghèo
về số lƣợng loài so với những quần xã trƣởng thành và thành phần của nó đồng
đều hơn. Trong nhiều trƣờng hợp, tính đa dạng của loài giảm khi điều kiện dinh
dƣỡng trong vực nƣớc tăng. Chỉ số Shannon - Weiner đối với các loài ĐVN của
các vực nƣớc nghèo dinh dƣỡng thƣờng cao hơn (1,8 - 2,5 bit/đơn vị sinh khối)

vai trò quan trọng trong việc duy trì tính ĐDSH của các loài sinh vật biển và làm
giàu cho biển bằng tiềm năng nguồn lợi của mình [55]. 7
Vùng cửa sông là nơi chuyển tiếp giữa sông và biển nên độ muối rất biến
động và nằm trong khoảng từ 0.5 đến 30‰, giữa nƣớc ngọt và nƣớc biển ven bờ
hay còn gọi là vùng Mixohaline theo phân loại thuỷ vực trên cơ sở biến đổi của
độ muối (bảng 1.1).
Vùng cửa sông với những nét khái quát đã tạo nên những sự sai khác cơ
bản với những loại hình thuỷ vực khác đó là:
- Một vùng thƣờng đƣợc giới hạn ở cửa các sông bị khống chế bởi thuỷ
triều.
- Nƣớc của vùng cửa sông bị mặn hoá, còn mức độ và phạm vi biến đổi
của nó phụ thuộc vào lƣợng nƣớc của dòng sông và hoạt động của thuỷ triều.
- Độ muối và hàng loạt các yếu tố môi trƣờng khác rất không ổn định theo
không gian và thời gian, song sự biến thiên của chúng mang tính chu kỳ, chu kỳ
mùa, chu kỳ triều (nhật triều hay bán nhật triều). Đó cũng là sự khác biệt cơ bản
giữa cửa sông và các hồ nƣớc mặn (Lagoon) ven biển.
- Phân bố trong vùng cửa sông là những loài sinh vật rộng sinh cảnh, đặc
biệt là rộng muối. Những loài này trong quá trình thích nghi với các điều kiện
môi trƣờng biến động đã tạo nên những quần xã ổn định để tồn tại và phát triển
thịnh vƣợng, làm xuất hiện ở đây một hệ thống sản xuất có năng suất rất cao so
với hàng loạt hệ sinh thái khác.
Bảng 1. 1. Hệ thống phân loại các thuỷ vực nƣớc lợ của Venice (1959)
TT
Vùng
Độ muối (‰ NaCl)
1
Quá mặn

chịu sự chi phối và thích nghi với các điều kiện môi trƣờng một cách bị động mà
còn tác động theo hƣớng có lợi cho đời sống của sinh vật.
Theo Đặng Ngọc Thanh (1974) cho biết một quần xã thuỷ sinh vật đƣợc
đặc trƣng bởi thành phần loài và số lƣợng của chúng, mối quan hệ giữa các loài
với nhau và với các yếu tố sinh thái của môi trƣờng nƣớc. Tuỳ theo số lƣợng và
sinh vật lƣợng, mỗi loài sinh vật đóng một vai trò khác nhau trong quần xã, nhƣ
có loài ƣu thế (Dominant), loài thứ yếu (Subdominant) và loài ngẫu nhiên
(Unexpected). Những loài ƣu thế thƣờng đóng vai trò quyết định trong sự phát
triển cũng nhƣ sự tồn vong của quần xã [55, 58].
Những quần xã càng giàu về số lƣợng loài thì đóng góp của những loài ƣu
thế cho quần xã càng cao; trong vùng phân bố của quần xã còn gặp các nhóm
loài tƣơng tác với nhau mạnh hơn so với các loài khác, tạo nên “quần hợp”.
Đặc điểm cơ bản của đời sống thuỷ sinh vật là chúng sống trong môi
trƣờng nƣớc. Trên thực tế nƣớc tự nhiên luôn là một dung dịch phức tạp chứa
nhiều chất hoà tan và không hoà tan khác nhau. Hàm lƣợng và thành phần các
chất đó đƣợc gọi là thành phần hoá học của nƣớc. Thành phần hoá học của nƣớc
không ổn định, mà thƣờng xuyên biến đổi do sự chi phối của các quá trình sinh
học, hoá học, vật lý của môi trƣờng. Tiêu chuẩn chất lƣợng nƣớc nuôi thuỷ sản 9
là giới hạn hoặc nồng độ thích hợp về thành phần thuỷ lý, thuỷ hoá phù hợp cho
mục đích nuôi thuỷ sản [22, 55, 120].
Trong vùng cửa sông ven biển sự tƣơng tác sông - biển là yếu tố động lực
quan trọng đối với sự biến động của các yếu tố môi trƣờng. Nƣớc của vùng cửa
sông bị mặn hoá, còn mức độ và phạm vi biến đổi của nó phụ thuộc vào lƣợng
nƣớc. Với sự dao động lớn về độ muối, vùng cửa sông cũng đƣợc chia ra thành
các phần khác nhau, ở đó tồn tại các nhóm sinh vật với những đặc tính sinh thái
khác nhau [55, 116].
Ở vực nƣớc quá nông, nhƣ các ao đầm nhỏ, thì nhiệt độ nƣớc thƣờng

Nam bộ là những hệ kiểu Delta điển hình, thƣờng gặp trong các vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới nhƣ các hệ cửa sông Missisipi (Bắc Mỹ), sông Giăng, Irrawaddy
(Ấn độ) v.v Các cửa sông nhƣ vậy trở thành những địa bàn kinh tế quan trọng,
nhất là trong lĩnh vực phát triển nông - lâm – ngƣ nghiệp. Tƣơng phản với các
cửa sông kiểu delta là hệ các cửa sông hình phễu.
Trong việc định hƣớng khai thác, sử dụng hệ sinh thái vùng triều cửa sông
Việt Nam các tác giả đã đề xuất 4 định hƣớng theo từng loại hình cửa sông khác
nhau: (1) Hệ sinh thái vùng triều châu thổ; (2) Hệ sinh thái vùng triều cửa sông
hình phễu (3) Các vùng triều cửa sông trong đầm phá; (4) Vùng triều cửa sông
miền Trung [61].
Trong khối nƣớc vùng cửa sông, do lực tƣơng tác sông biển, do các điều
kiện khí hậu (mƣa, sự bốc hơi nƣớc trên mặt v.v ) và do lực quay của trái đất mà
sự phân bố của độ muối theo chiều thẳng đứng và chiều ngang thay đổi. Trên cơ
sở đó, ngƣời ta phân biệt các vùng cửa sông thành mấy dạng.
- Dạng cửa sông thuận: Ở đây mƣa và lƣợng nƣớc ngọt chảy ra lớn hơn
lƣợng nƣớc biển xâm nhập vào.
- Dạng cửa sông nghịch: Trong điều kiện khí hậu khô nóng, lƣợng nƣớc
ngọt của dòng lục địa ít ỏi, nƣớc biển ven bờ có độ muối xâm nhập vào cửa sông 11
để hoà trộn với nƣớc ngọt thì bị mặn hoá dần (trong trƣờng hợp có các dải cát
chắn phía ngoài phát triển mạnh hình thành dạng đầm phá (lagoon).
- Giữa dạng cửa sông thuận và nghịch là dạng trung gian: Ở đây đƣờng
đẳng muối thẳng đứng không bị uốn lƣợn do ảnh hƣởng của các dòng ƣu thế.
Theo Nguyễn Văn Cƣ và cộng sự (2006), bờ biển miền Trung thuộc loại
bờ biển mài mòn - tích tụ, sƣờn bờ ngầm có độ dốc lớn, đƣờng bờ có vách dốc
xen lẫn bờ đụn cát, val bờ và các cửa sông có dạng lagoon hoặc liman [19]. Nhƣ
vậy, các cửa sông miền Trung thuộc cửa sông hình phễu và có 2 dạng: đầm phá
(Lagoon) hoặc cửa sông thẳng (Liman).

vùng cửa sông cũng đƣợc tích luỹ rất phong phú, trong khi đó, tại những vùng
nhiệt đới, nơi xuất hiện hàng loạt các hệ cửa sông lớn, phức tạp về cấu trúc, giàu
có về tài nguyên lại ít đƣợc nghiên cứu [134].
Cho đến nay ngƣời ta vẫn còn nghĩ rằng ĐNN vẫn là nguồn đóng góp
chính, nhƣng công trình của Haines (1979) cho rằng đóng góp của tảo là cao hơn
rất nhiều lần so với những quan niệm trƣớc đây, ít nhất là trong các vùng cửa
sông ven biển Geogia (Mỹ). Các công trình mới đây đã nhấn mạnh sự thật là mỗi
hệ cửa sông đều có những đặc tính riêng về đặc điểm vật lý và sinh học, việc xây
dựng lý thuyết chung về các cửa sông chƣa thể đáp ứng ngay đƣợc. Các hệ thống
cửa sông có sự khác nhau rất nhiều về đặc tính địa mạo, thuỷ văn và sinh học.
Do dó, kết quả về năng suất các quần xã, kể cả tảo, cỏ biển ở một cửa sông này
khó có thể áp dụng cho các vùng khác [66, 93, 98].
Vùng cửa sông là cái bẫy, bẫy vào đây nguồn chất dinh dƣỡng giàu có và
trở thành “cái nôi’’ ƣơng nuôi các loài động vật biển còn non, nơi vỗ béo của
những đàn động vật trƣởng thành và là bãi đẻ của nhiều loài sinh vật biển [55].
Một trong những tài nguyên có vị trí quan trọng của vùng cửa sông là
rừng ngập mặn (RNM) nhƣ phòng hộ sinh thái, môi trƣờng sống của nhiều loài
thuỷ sản kinh tế cao (tôm he, cua, sò, cá, ) và các nguồn lợi khác. Khoảng 90%
tổng số loài thuỷ sản có giá trị cao ít nhất có một giai đoạn trong đời sống ở
RNM cửa sông (Hamilton et al, 1984). Những quần xã RNM cửa sông và vịnh 13
trên thế giới hàng năm cung cấp một sản lƣợng lớn tôm, cua, cá ƣớc tính
750.000 tấn, bình quân trên 90kg/ha/năm. Ở Australia, ngƣời ta đánh giá là 67%
các loài thuỷ sản có giá trị thƣơng mại đánh bắt đƣợc phụ thuộc vào rừng ngập
mặn vùng cửa sông. Do đó mà những hoạt động về nghề thuỷ sản vùng ven biển
nhiệt đới ở nhiều nơi phụ thuộc rất nhiều vào rừng ngập mặn cửa sông
(Kapetsky, 1987). Trung bình 1 ha rừng ngập mặn có thể tạo ra lƣợng tôm giống
tƣơng đƣơng 15 đô la Mỹ/ năm cho nghề nuôi tôm (Dixon, 1989) [33, 55, 66].

Việt Nam là 314.350 công/năm/100km đê biển. Rừng ngập mặn có thể thay thế
sức ngƣời trong bảo vệ đê biển là 20% thì cũng tiết kiệm đƣợc 62.870 đôla Mỹ
với tiền công trung bình là 1 đôla Mỹ/1 công cho 100km đê biển (Ngân hàng
Thế giới, 1995). Nếu nhƣ dùng những công trình kỹ thuật thay thế rừng ngập
mặn trong chức năng bảo vệ đê biển thì phải tốn 6 đến 13 triệu đôla Mỹ/1 km đê
biển; do đó, khi rừng ngập mặn bị huỷ hoại sẽ dẫn đến những tổn thất lớn về
kinh tế mà hiện nay tổn thất này đƣợc coi là chi phí xã hội (UNDP, 1992) [5, 32,
34, 57].
Trên thực tế vấn đề đặt ra là sử dụng giá trị mà vùng cửa sông mang lại
nhƣ thế nào, đặc biệt khai thác và bảo vệ nguồn lợi thuỷ sinh vật nói riêng và sử
dụng nguồn lợi thiên nhiên nói chung là một ngành khoa học mới đang phát
triển, có liên quan đến rất nhiều ngành khoa học kể cả các chính sách kinh tế xã
hội đã đƣợc K.Watt, 1976 đề cập và lƣợng hóa chi tiết trong cuốn “Sinh thái học
và việc quản lý nguồn lợi thiên nhiên” [78].
1.4. Những nghiên cứu về cửa sông trên thế giới
1.4.1. Về đặc điểm điều kiện tự nhiên
Nghiên cứu về sự phân bố độ muối vùng cửa sông của D.S.McLusky
(1974), cho thấy, vùng cửa sông cũng đƣợc chia ra thành các phần khác nhau, ở
đó tồn tại các nhóm sinh vật với những đặc tính sinh thái khác nhau [116].
- Phần đầu: là nơi nƣớc ngọt xâm nhập xuống với độ muối lúc cao nhất
cũng chỉ lên tới 5‰ khi triều cƣờng. Dòng ƣu thế là dòng nƣớc ngọt. 15
- Phần trên của vùng cửa sông: đáy ở đây đƣợc phủ bùn, dòng giảm đi
đáng kể, độ muối biến đổi từ 5 - 18‰.
- Phần giữa vùng cửa sông: đáy phủ bởi bùn cát, dòng mạnh lên, độ muối
trong khoảng 18 - 25‰.
- Phần dƣới của vùng cửa sông: đáy đƣợc phủ bởi bùn cát, một vài nơi là
cát sạch, dòng mạnh, độ muối 25 - 30‰.

biển, nhất là nơi tập trung dân cƣ, khu công nghiệp, hầm mỏ, các bến cảng.
Những nguồn gây ô nhiễm cho nƣớc vùng cửa sông ven biển rất đa dạng và
thƣờng có cƣờng độ cao
1.4.2. Những nghiên cứu về ĐVKXS
Các nghiên cứu đầu tiên về khu hệ thuỷ sinh vật biển phát triển mạnh với
việc sử dụng lƣới vớt sinh vật nổi và lƣới kéo sinh vật đáy (1750). Các tác giả
đầu tiên của giai đoạn này là Audonin và Edwards (1832), Sars (1835), Forbes
(1844) đã công bố những dẫn liệu đầu tiên. Tiếp đến là thời kỳ nghiên cứu sinh
thái học, tiêu biểu là Loren (1863), Walther (1893 - 1984), Zernov (1912),…
Giai đoạn nghiên cứu định lƣợng nhƣ nghiên cứu định lƣợng sinh vật nổi của
Hensen (1877) và gầu định lƣợng sinh vật đáy của Petersen (1908) [58].
Ở các hệ sinh thái trên cạn, số lƣợng các loài nhiều hơn ở biển, do đó tính
ĐDSH cũng cao hơn nhƣng các loài sinh vật biển lại có khuynh hƣớng tăng khả
năng biến dị hơn nên tính đa dạng về di truyền cũng lớn hơn. Trong các hệ cửa
sông, số lƣợng các loài lại không nhiều so với các vùng biển lân cận nhƣng do
tính không đồng nhất về các điều kiện sống, những biến dị của các cá thể của
loài càng trở nên phong phú nhờ đó chúng có thể tồn tại và thích ứng đƣợc với
những thay đổi muôn vẻ và tinh tế của các điều kiện môi trƣờng. Ngay trong một
hệ cửa sông, nơi sống của các loài và các quần thể của loài, cũng phân hoá
mạnh, tạo nên hàng loạt các ổ sinh thái khác nhau, nhất là trong các vùng đƣợc
phủ bởi rừng ngập mặn. Chẳng hạn, trong rừng ngập mặn ngƣời ta có thể gặp 3-
4 loài còng thuộc giống Uca, song sự xuất hiện của mỗi loài tuỳ thuộc vào cấu
tạo của dạng nền đáy. Loài sống trên nền bùn thì ăn chất vụn hữu cơ lắng đọng,
còn loài sống trên đáy cát sạch lại nạo ăn Periphyton trên các hạt cát nhờ mút
lông hình thìa của bộ máy hàm. Hơn thế nữa, các cửa sông khác nhau cũng có sự 17
cách ly tƣơng đối, do đó, ngoài những loài chung, mỗi nơi còn có những đại diện
riêng cho mình, nhất là các loài sinh vật đáy, chẳng hạn nhƣ Polychaeta,

hay ít vào vùng cửa sông hay qua vùng cửa sông vào nƣớc ngọt còn liên quan
đến lƣu lƣợng dòng chảy và nhịp điệu thuỷ triều. Những loài cửa sông thực chất
là những loài có nguồn gốc từ biển ven bờ, rộng muối, đã di nhập vào đây từ
buổi đầu ra đời của vùng và thích nghi với điều kiện bất ổn định của nó, đặc biệt
là sự dao động của độ muối. Những mối quan hệ về nguồn gốc đƣợc phản ánh
trong nhiều “cặp sinh đôi” gặp trong vùng cửa sông và biển. Chẳng hạn, loài
Giáp xác bơi nghiêng (Gammarus zaddachi oceanicus) liên quan chặt chẽ với
Gammarus zaddachi zaddachi cửa sông. Trong các giống Hydrobia, Sphaeroma,
Corophilum, Balanus.v.v có những loài rất gần nhau, song loài thì sống ở cửa
sông, loài thì sống ở nƣớc mặn [100, 116, 118].
Theo Phạm Đình Trọng (1996) thì trên thế giới, chỉ tính đến thập kỷ 80,
số tài liệu đề cập về hệ sinh thái (HST) rừng ngập mặn đã vƣợt quá 7000 đầu
sách, trong đó có hàng trăm công trình đề cập đến các quần xã động vật, chỉ
riêng về ĐVKXS đáy cỡ lớn (Macrobenthos) đã có 110 công trình công bố. Theo
Vũ Trung Tạng (1994) cho thấy trong rừng ngập mặn ở Đông Nam Á, đã thống
kê đƣợc gần 230 loài Giáp xác, 211 loài Thân mềm, 11 loài Giun nhiều tơ, và 13
loài giun ít tơ (IUCN, 1983) [55, 71, 138].
Nghiên cứu về khu hệ, phân bố, sinh thái đã có nhiều công trình công bố
về Macrobenthos ở vùng nƣớc lợ, nhƣ Chaitiamvong (1983) nghiên cứu về tôm;
Yoosukh (1983), Naiyentr (1983) nghiên cứu về cua; Bery (1975) nghiên cứu về
Thân mềm; Piamthipmanas (1984) nghiên cứu về Giun nhiều tơ, [83, 85, 119,
127, 142].
Một số nhà khoa học nghiên cứu về ĐDSH ĐVĐ nhƣ Envink (1973),
Hutching and Saenger (1987), Mathes and Kapetsky (1988), Macintosh et al
(1991), Othman et al (1992), Aksomkoae (1983), Chaudhuri và Choudhury
(1984). Hƣớng nghiên cứu chủ yếu của các tác giả là xác định thành phần loài,
biến động số lƣợng, sự phân bố của ĐVĐ và đã áp dụng các chỉ số H

, chỉ số D,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status