Báo cáo nghiên cứu khoa học: "SỬ DỤNG ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG CỠ LỚN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC BỀ MẶT TẠI CÁNH ĐỒNG XUÂN THIỀU, PHƯỜNG HÕA HIỆP, QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG" - Pdf 19


SỬ DỤNG ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG CỠ LỚN
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC BỀ MẶT TẠI
CÁNH ĐỒNG XUÂN THIỀU, PHƯỜNG HÕA HIỆP, QUẬN
LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG

USING MACROINVERTEBRATES TO ASSESSMENT SURFACE WATER
QUALITY IN XUAN THIEU FIELD, HOA HIEP VILLAGE,
LIEN CHIEU DISTRICT, DA NANG CITY NGUYỄN VĂN KHÁNH
PHẠM VĂN HIỆP, PHAN THỊ MAI, LÊ THỊ QUẾ
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng TÓM TẮT
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thành phần động vật không xương sống
(ĐVKXS) cỡ lớn tại cánh đồng Xuân Thiều, phường Hòa Hiệp, quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng,
nhằm đánh giá chất lượng nước mặt tại các khu vực nghiên cứu thông qua chỉ số BMWP
VIET

chỉ số ASPT. Kết quả nghiên cứu đã phát hiện được 26 họ ĐVKXS cỡ lớn có trong bảng điểm
BMWP
VIET
; chất lượng môi trường nước mặt tại đây đã bị ô nhiễm từ mức “nước bẩn vừa α” (α-
Mesosaprobe) đến “nước rất bẩn” (Polysaprobe).
ABSTRACT
In this research, we investigated the component of macro invertebrates at Xuan Thieu field in
coder to estimate surface water quality in this region rely on BMWP
VIET

Hiệp, thuộc 5 khu vực: Khu vực I: Hồ Bàu Tràm (điểm 1, 2, 3); Khu vực II: Cống Bà Lụa (điểm 4, 5, 6);
Khu vực III: Đập Tràn (điểm 7, 8, 9); Khu vực IV: Cầu Liên Hiệp (điểm 10, 11, 12); Khu vực V: Cầu Đình
(điểm 13, 14, 15).
- Tiến hành thu mẫu ở 5 khu vực nghiên cứu, mẫu được thu vào mùa Thu, mùa Đông và mùa Xuân.
- Thu mẫu ĐVKXS cỡ lớn: sử dụng vợt pondnet, thu mẫu theo phương pháp của Nguyễn Xuân Quýnh,
Clive Pinder, Steve Tilling và Mai Đình Yên (2002). [3]
- Thu mẫu nước: mẫu nước được đựng trong chai 200ml đưa về phòng thí nghiệm Môi trường, Khoa
Sinh - Môi trường.
- Phân tích pH bằng máy đo pH: Inolab; Phân tích DO bằng máy đo DO: YSI - 5000.
- Mẫu động vật được phân thành các phenon, đánh mã số và được bảo quản trong cồn 70
0
tại phòng thí
nghiệm Môi trường, Khoa Sinh - Môi trường, trường Đại học Sư phạm.
- ĐVKXS được định loại hình thái theo các khóa định loại của Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder,
Steve Tilling (2001) [3]; Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên (1980). [4]
- Xác định điểm số BMWP của mỗi họ dựa trên bảng điểm BMWP
VIET
. [3]
- Tính chỉ số ASPT theo công thức. [3]
N
n
i
BMWP
ASPT
1

N: tổng số họ tham gia tính điểm;
BMWP
: tổng điểm số BMWP;
ASPT: chỉ số trung bình trên taxon

DO (mg/l)
I
2,38
± 1,54
7,57
± 0,12
5,60
± 1,08
II
0,82
± 0,09
0,67
± 0,03
0,19
± 0,12
III
3,64
± 1,91
5,47
± 0,90
4,74
± 0,21
IV
2,85
± 1,69
6,34
± 1,07
4,46
± 0,38
V

± 0,10
6,46
± 0,08
6,65
± 0,10
V
6,52
± 0,03
6,28
± 0,06
6,39
± 0,04
Thành phần ĐVKXS cỡ lớn Qua 3 đợt thu mẫu ở 15 điểm của 5 khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã xác định được 9 bộ với 33 họ
ĐVKXS cỡ lớn, trong đó có 26 họ nằm trong hệ thống điểm BMWP
VIET
. Chiếm ưu thế là bộ Hemiptera với
8 họ chiếm 30,77%; bộ Coleoptera với 5 họ chiếm 19,23%; bộ Mesogastropoda và Decapoda với 3 họ
chiếm 11,53%; các bộ còn lại có số lượng từ 1 - 2 họ.
Bảng 2: Thành phần ĐVKXS cỡ lớn trong hệ thống điểm BMWP
VIET

STT
Bộ
Số lượng
họ
Tỉ lệ %
1

3,85
9
Ephemeroptera
1
3,85
Tổng cộng
26
100
Đánh giá chất lƣợng môi trƣờng nƣớc thông qua chỉ số BMWP
VIET
và ASPT

Tiến hành so sánh chỉ số BMWP
VIET
và ASPT giữa các mùa trong năm bằng phân tích ANOVA
cho thấy chỉ số BMWP
VIET
có sự sai khác có ý nghĩa giữa các mùa trong năm (α = 0,05). Kiểm tra LSD
(Least Significant Difference) cho thấy BMWP
VIET
thấp nhất vào mùa Xuân và khác nhau có ý nghĩa với
mùa Thu và mùa Đông. Điểm số trung bình ASPT không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các mùa trong
năm (bảng 3 và 4).
Bảng 3. Chỉ số BMWP và ASPT của các điểm theo các mùa trong năm
Khu vực NC
Điểm
NC
Mùa Thu
Mùa Đông
Mùa Xuân

14
4,67
8
4,00
0
0,00
5
26
4,33
12
4,00
13
4,33
6
21
4,20
31
4,43
0
0,00
III
7
30
3,75
21
4,20
35
4,38
8
36

39
4,33
13
4,33
V
13
16
4,00
23
4,60
16
5,33
14
8
4,00
21
4,20
0
0,00
15
19
3,80
16
4,00
9
4,50
Trung bình

23,33 a
4,11 a’

Xếp loại
I
3,81
Nước bẩn vừa α
4,02
Nước bẩn vừa α
4,06
Nước bẩn vừa α
II
4,40
Nước bẩn vừa α
4,14
Nước bẩn vừa α
1,44
Nước rất bẩn
III
4,11
Nước bẩn vừa α
3,98
Nước bẩn vừa α
4,27
Nước bẩn vừa α
IV
4,31
Nước bẩn vừa α
4,00
Nước bẩn vừa α
4,44
Nước bẩn vừa α
V

Tƣơng quan giữa BMWP
VIET
, ASPT với chỉ số DO (mg/l) và pH môi trƣờng

tập trung trong 9 bộ. Hầu hết các họ đều nằm trong nhóm có điểm số BMWP
VIET
thấp.
3. Chỉ số BMWP
VIET
trung bình giữa các mùa có sự khác nhau có ý nghĩa ở mức α = 0,05: mùa Thu
23,33; mùa Đông 20,40; mùa Xuân 11,93. Chỉ số ASPT không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các mùa
trong năm (α = 0,05): mùa Thu 4,11; mùa Đông 4,08; mùa Xuân 3,50.
4. Nước bề mặt ở 4 khu vực nghiên cứu I, III, IV và V đều bị ô nhiễm ở mức Nước bẩn vừa α,
riêng khu vực II là khu vực ô nhiễm nặng nhất ở mức Nước rất bẩn.

(A)
(B)
(C)
(D)

5. Chỉ số ASPT và chỉ số BMWP
VIET
có tương quan thuận với DO và pH của môi trường.
BMWP
VIET
và ASPT phản ánh được hiện trạng chất lượng môi trường nước mặt tại Xuân Thiều. TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Thái Trần Bái (2005). Động vật học không xương sống, NXB Giáo dục, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status