91
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 63, 2010
SỬ DỤNG CHỈ THỊ SINH HỌC ĐỘNG VẬT KHÔNG XƯƠNG SỐNG CỠ LỚN
ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC Ở CÁC HỒ
CỦA THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Nguyễn Văn Khánh, Phạm Thị Hồng Hà
Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng
Lê Trọng Sơn
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
TÓM TẮT
Hệ sinh thái nước chảy hầu hết là tài nguyên rất quý, hiện nay đang bị đe dọa. Do đó,
cần có những phương pháp đánh giá hiệu quả các tác động của ô nhiễm. Đánh giá chất lượng
nước ngọt sử dụng chỉ thị sinh học bằng động vật không xương sống (ĐVKXS) cỡ lớn sử dụng
dữ liệu về các nhóm ĐVKXS hoặc các họ có liên hệ về mức độ nhạy cảm với ô nhiễm, những họ
có mức nhạy cảm cao với ô nhiễm có điểm số cao và những họ nhạy cảm thấp với ô nhiễm có
điểm số thấp.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu thành phần ĐVKXS cỡ lớn của 5
hồ ở thành phố Đà Nẵng từ tháng 6 năm 2007 đến tháng 3 năm 2008, nhằm đánh giá chất
lượng nước mặt tại các khu vực nghiên cứu thông qua chỉ số BMWP
VIET
và chỉ số ASPT. Kết
quả nghiên cứu đã phát hiện được 19 họ ĐVKXS cỡ lớn có trong bảng điểm BMWP
VIET
; chất
lượng môi trường nước mặt tại đây đã bị ô nhiễm từ mức “nước bẩn vừa α” (α-Mesosaprobe)
đến “nước cực kỳ bẩn”.
Sự phú dưỡng và ô nhiễm hữu cơ của các hệ sinh thái nước ngọt được quan tâm
ở hầu hết các nước trên thế giới, nó là vấn đề chính trong việc bảo vệ tài nguyên nước
(Stanner và Bordeau, 1995). Ở hầu hết các nước, trong quá trình phát triển, con người
bảng điểm BMWP
VIET
; Tính chỉ số ASPT theo công thức.
N
n
i
BMWP
ASPT
1
Trong đó N: tổng số họ tham gia tính điểm;
BMWP
: tổng điểm số BMWP;
ASPT: chỉ số trung bình trên taxon (bậc họ)
Đánh giá chất lượng môi trường nước thông qua chỉ số ASPT theo thang xếp
loại của Richard Orton, Anne Bebbington, Jonh Bebbington (1995) và Stephen Eric
Mustow (1997) [4], [5], [6].
Các số liệu được xử lý theo các phương pháp thống kê; xác định sự sai khác
trung bình bằng phương pháp phân tích phương sai ANOVA một yếu tố và phương pháp
kiểm tra giới hạn sai khác nhỏ nhất LSD (Least Significant Difference).
2. Kết quả và bàn luận
2.1. Danh sách các họ ĐVKXS cỡ lớn trong hệ thống điểm BMWP
VIET
Qua bốn đợt thu mẫu vào bốn mùa khác nhau, chúng tôi đã xác định được 11 bộ,
với 19 họ ĐVKXS cỡ lớn nằm trong hệ thống điểm BMWP
Dựa trên kết quả về chỉ số ASPT trình bày ở bảng 2, tiến hành đánh giá biến
thiên chỉ số ASPT ở các khu vực và qua các mùa trong năm. Kết quả phân tích ANOVA
(α = 0,05) cũng cho thấy, chỉ số ASPT hầu hết các hồ không có sự sai khác có ý nghĩa
giữa các mùa trong năm, dao động trong khoảng 0,00 - 5,03±0,29. ASPT đặc biệt thấp ở
hồ Đầm Rong vào mùa Đông và mùa Xuân, có sự khác nhau có ý nghĩa với các hồ và
các mùa còn lại (bảng 2, hình 1).
Bảng 2. Xếp loại chất lượng nước các khu vực nghiên cứu theo chỉ số ASPT
Khu vực ASPT Xếp loại
Mùa Hè
Hồ Đò Xu 4,49±0,31 Nước bẩn vừa α
Hồ Xuân Hòa 4,19±0,02 Nước bẩn vừa α
Hồ CV 29/03 4,53±0,50 Nước bẩn vừa α
Hồ Thạc gián –Vĩnh Trung 4,20±1,06 Nước bẩn vừa α
Hồ Đầm Rong 4,94±0,42 Nước bẩn vừa α
Mùa Thu
Hồ Đò Xu 4,59±0,64 Nước bẩn vừa α
Hồ Xuân Hòa 4,18±0,17 Nước bẩn vừa α
Hồ CV 29/03 4,08±0,36 Nước bẩn vừa α
Hồ TG-VT 4,38±0,27 Nước bẩn vừa α
94
Hồ Đầm Rong 3,56±3,15 Nước bẩn vừa α
Mùa Đông
Hồ Đò Xu 5,03±0,29 Nước bẩn vừa β
Hồ Xuân Hòa 1,33±2,31 Nước rất bẩn
Hồ CV 29/03 4,58±0,68 Nước bẩn vừa α
Hồ TG-VT 4,67±0,58 Nước bẩn vừa α
VIET
. Chiếm ưu thế là bộ Heteroptera với 5 họ; các bộ Odonata,
Basommatophora, Veneroida và Decapoda có 2 họ; các bộ còn lại chỉ có 1 họ.
2. Chất lượng môi trường nước hầu hết các hồ ở thành phố Đà Nẵng đều đang ở
mức “Nước bẩn vừa α” trong tất cả các mùa trong năm, chỉ có hồ Đò Xu vào mùa Đông
ít ô nhiễm hơn, ở mức “Nước bẩn vừa β”. Riêng ở hồ Đò Xu vào mùa Xuân và hồ Xuân
Hòa vào mùa Đông có mức độ ô nhiễm nặng hơn ở mức “Nước rất bẩn”. Đặc biệt hồ
Đầm Rong vào mùa Đông và mùa Xuân mức độ ô nhiễm nghiêm trọng, chất lượng
nước ở mức “Nước cực kỳ bẩn”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Ngô Thanh Cảnh, Ngô Thị Trâm Anh, Nghiên cứu sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá
chất lượng nước trên 4 hệ thống kênh chính tại TP. Hồ Chí Minh, Tạp chí phát triển
KH&CN, số 01 - 2007, tập 10, 2006.
[2]. Lê Thu Hà, Nguyễn Xuân Quýnh, Sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá chất lượng nước
sông, Tạp chí Sinh học 23 (3), (2001), 62-68.
[3]. Lê Thu Hà, Nguyễn Xuân Quýnh, Mai Đình Yên, Sử dụng ĐVKXS cỡ lớn đánh giá
chất lượng nước sông, Tạp chí Sinh học 24 (3), (2002), 21-28.
[4]. Lê Văn Khoa, Nguyễn Xuân Quýnh, Nguyễn Quốc Việt, Chỉ thị sinh học môi trường,
NXB Giáo dục, 2007.
[5]. Nguyễn Xuân Quýnh, Clive Pinder, Steve Tilling, Định loại các nhóm động vật không
xương sống nước ngọt thường gặp ở Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.
[6]. Đặng Ngọc Thanh, Thái Trần Bái, Phạm Văn Miên, Định loại động vật không xương
sống nước ngọt Bắc Việt Nam, NXB Khoa Học Kỹ Thuật, 1980.
[7]. R. Aquilina, Habitat quality in constructed wetlands as part of a sustainable urban
drainage system (SUDS), School of Conservation Sciences, Bournemouth University,
(2003), 1-71.
[8]. Joakim Dahl, Comparison of Bioassessment Approaches using Macroinvertebrates
(Doctoral thesis), Department of Environmental Assessment, Swedish University of
Agricultural Sciences: 43, 2004.
96
indexes. The results showed an appearance of 19 families of macro invertebrates in BMWP
VIET
score. The surface water quality was polluted, ranging from “good biological quality” (β –
mesosaprobe) to “very poor biological quality”.