ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
SỬ DỤNG ĐỘNG VẬT ĐÁY KHÔNG XƯƠNG SỐNG CỠ
LỚN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC KÊNH
NHIÊU LỘC – THỊ NGHÈ SAU KHI DỰ ÁN VỆ SINH
MÔI TRƯỜNG ĐI VÀO HOẠT ĐỘNG
Ngành : KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Chuyên ngành : KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS. Hoàng Hưng
TS. Ngô Xuân Quảng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Phúc
MSSV: 0951080069 Lớp: 09DMT1
TP. Hồ Chí Minh, năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHỆ TP.HCM
LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên: Nguyễn Thị Phúc
Là học viên lớp 09DMT1 khóa 2009 – 2013, chuyên ngành Kỹ thuật Môi Trường,
trường Đại học Kỹ thuật Công nghệ TP .HCM.
i
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
LỜI MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 2
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5. Phương pháp nghiên cứu 3
6. Kết quả đạt được của đề tài 3
7. Cấu trúc của luận văn 4
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
1.1. Cơ sở lựa chọn Động vật đáy không xương sống cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị
đánh giá chất lượng nước 5
1.2. Tình hình nghiên cứu về giám sát sinh học và việc ứng dụng ĐVKXS cỡ
lớn vào quan trắc sinh học
6
1.2.1. Trên t hế giới 6
1.2.2. Ở Việt Nam 10
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC KÊNH NHIÊU LỘC - THỊ NGHÈ . 14
2.1. Đặc điểm vị trí địa lý 14
2.2. Đặc điểm khí hậu 14
3.3.2. Phương pháp phòng thí nghiệm 30
3.3.3. Phương pháp phân tích số liệu 31
3.3.4. Phương pháp xác định điểm số BMWP và chỉ số ASPT 32
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36
4.1.Kết quả khảo sát vị trí lấy mẫu 36
4.1.1. Kết quả khảo sát hiện trường tại các vị trí lấy mẫu 36
4.1.2. Đặc điểm nền đáy 39
4.2.Kết quả khảo sát ĐVĐKXS cỡ lớn 40
4.2.1. Cấu trúc thành phần loài 40
4.2.2. Mật độ phân bố của quần xã ĐVĐKXS cỡ lớn 42
Đồ án tốt nghiệp
iii
4.2.3. Loài ưu thế 44
4.2.4. Sự phân bố của các loài theo MDS ( Multi dimension Scaling) 45
4.2.5. Đánh giá chất lượng nước bằng hệ thống điểm BMWP
VIET
và chỉ số
ASPT 50
4.2.6. Chỉ số tương đồng Bray – Curtis (1957) 54
4.2.7. Chỉ số Shannon – Wienner (1949) 56
4.2.8. Chỉ số Margalef (1968) 58
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 60
Kết luận 60
Kiến nghị 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 63
Tiếng Việt 63
Tiếng Anh 64
TP.HCM: thành phố Hồ Chí Minh Đồ án tốt nghiệp
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Thống kê về nhiệt độ tại TP.HCM 15
Bảng 2.2. Lượng mưa bình quân 16
Bảng 2.3. Các đặc trưng chế độ mưa ( Trạm đo mưa Tân Sơn Nhất) 17
Bảng 2.4. Độ ẩm tương đối tại TP.HCM 18
Bảng 3.1. Vị trí khảo sát 28
Bảng 3.2. Thang điểm đánh giá chất lượng nước theo chỉ số đa dạng H’ 31
Bảng 3.3. Hệ thống điểm BMWP
VIỆT NAM
đã được sửa đổi và bổ sung để sử dụng ở
Việt Nam 32
Bảng 3.4 . Mối quan hệ giữa chỉ số ASPT và mức độ ô nhiễm 35
Bảng 4.1. Đặc điểm nền đáy 39
Hình 4.2.Vị trí Cầu Lê Văn Sỹ 37
Hình 4.3. Vị trí Cầu Kiệu 37
Hình 4.4. Vị trí Cầu Bông 38
Hình 4.5. Vị trí Cầu Thị Nghè 1 38
Hình 4.6. Vị trí Cầu Thị Nghè 2 39
Hình 4.7. Biểu đồ biểu hiện số lượng loài trung bình ở mỗi vị trí 42
Hình 4.8. Biểu đồ thể hiện mật độ trung bình loài ở mỗi vị trí 43
Hình 4.9. Một số loài ĐVĐKXS cỡ lớn thu được sau khảo sát 45
Hình 4.10. Sự phân bố các loài theo MDS 49
Hình 4.11.Sự biến thiên chỉ số ASP T giữa các điểm thu mẫu
54
Hình 4.12. Độ tương đồng của quần xã ĐVĐKXS cỡ lớn theo chỉ số Bray – Curtis 555
Hình 4.13.Phân tích đa biến MDS của quần xã động vật đáy không xương sống cỡ
lớn theo độ tương đồng Bray - Curtis 56
Hình 4.14. Biểu đồ thể hiện sự thay đổi chỉ số H’ 57
Hình 4.15. Sự thay đổi chỉ số Margalef qua các vị trí khảo sát 58
Đồ án tốt nghiệp
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh - một trong những thành phố lớn của Việt Nam
đang trên đà phát triển mạnh mẽ về kinh tế cũng như các ngành công nghiệp, dịch
vụ, xây dựng…Song song với việc phát triển kinh tế thì vấn đề ô nhiễm môi trường
đang là vấn đề nóng hiện nay. Kinh tế càng phát triển sẽ tác động lên môi trường
càng mạnh mẽ. Biểu hiện cho sự ô nhiễm là các nguồn nước mặt,các con kênh chảy
nước Châu Á. Tại Việt Nam, công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện do
Nguyễn Văn Tuyên sử dụng vi tảo và động vật đáy để đánh giá chất lượng nước
sông rạch TP.HCM (1988). Đến năm 2000, Nguyễn Xuân Quýnh cùng với Steve
Tilling mới xây dựng quan trắc và điều chỉnh hệ thống tính điểm BMWP cho phù
hợp với Việt Nam với tên gọi là BMWP
VIET
.
Từ đó, nhiều công trình nghiên cứu khác của nhiều tác giả nhằm đánh giá
chất lượng nước thông qua nhóm Động vật không xương sống đã được thực hiện ở
nhiều khu vực thuộc nhiều vùng miền của đất nước như đánh giá chất lượng nước
sông Cầu phía Bắc Việt Nam của Nguyễn Vũ Thanh (2001-2002), đánh giá chất
lượng nước bề mặt cánh đồng Xuân Thiều ở TP.Đà Nẵng của Nguyễn Văn Khánh
cùng với một số cộng sự (2007), đánh giá chất lượng nước sông Sài Gòn đoạn quận
2 của Nguyễn Thị Mai (2003), đánh giá chất lượng nước trên 4 hệ thống kênh chính
tại TP.HCM c ủa Trương Thanh Cảnh và Ngô Thị Trâm Anh (2006), đánh giá chất
lượng nước hệ sinh thái đất ngập nước của vùng Đồng Tháp Mười của Nguyễn Vũ
Thanh cùng với cộng sự (2002)…
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài nhằm đánh giá chất lượng nước kênh Nhiêu Lộc – Thị
Nghè sau khi hoàn thiện dự án vệ sinh môi trường thông qua nhóm Động vật đáy
không xương sống cỡ lớn. Bên cạnh đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện phương
pháp, nâng cao công tác đánh giá chất lượng nước cũng như quản lý môi trường
nước của thành phố.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm những nội dung:
Đồ án tốt nghiệp
3
- Khảo sát thành phần loài và số lượng ĐVĐKXS cỡ lớn (số loài, mật độ loài,
- Đánh giá chất lượng nước kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè thông qua các chỉ số
sinh học.
7. Cấu trúc của luận văn:
Luận văn bao gồm:
- Lời mở đầu
- Chương 1. Tổng quan tài liệu
- Chương 2. Tổng quan về lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè
- Chương 3. Phương pháp nghiên cứu
- Chương 4. Kết quả và thảo luận
- Kết luận - kiến nghị
- Tài liệu tham khảo. Đồ án tốt nghiệp
5 CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở lựa chọn Động vật đáy không xương sống cỡ lớn làm sinh vật chỉ
thị đánh giá chất lượng nước
Dựa trên cơ sở mỗi sinh vật đều sống trong một môi trường nhất định với các
đặc điểm về sinh, lý, hóa khác nhau, từ đó người ta sử dụng sinh vật đặc trưng môi
trường nhằm phản ánh chất lượng của môi trường đó, sinh vật đó gọi là sinh vật chỉ
thị.
Các sinh vật này có thể là một loài hay một nhóm loài, chúng mẫn cảm với
điều kiện môi trường, vì vậy khi môi trường biến đổi chúng hoặc thay đổi số lượng
các cá thể nhằm biểu thị cho những biến đổi của môi trường.
Động vật không xương sống cỡ lớn được sử dụng làm sinh vật chỉ thị đánh
+ Một số họ xuất hiện trong khu vực lấy mẫu nhưng chưa có trong hệ thống phân
loại [13].
1.2. Tình hình nghiên cứu về giám sát sinh học và việc ứng dụng ĐVKXS cỡ
lớn vào quan trắc sinh học
1.2.1. Trên thế giới
Việc sử dụng quan trắc sinh học để đánh giá chất lượng nước sông đầu tiên
hình thành ở châu Âu do hai nhà khoa học Kolkwitz (1908) và Marsson (1909) thực
hiện. Mức độ nhiễm bẩn của nước sông được chia thành 4 loại là bẩn ít, bẩn vừa α,
bẩn vừa β và rất bẩn, mức độ được xác định dựa vào chỉ số độ nhiễm bẫn (Saprobic
index). Dù được ứng dụng rộng rãi nhưng phương pháp vẫn còn hạn chế là dựa trên
sự nhiễm bẩn chỉ thiên về chỉ số sinh học và hệ thống điểm số đơn giản [8].
1.2.1.1. Ở Anh
Ở Anh, việc quan trắc sinh học tiếp tục mở rộng với các chỉ số đánh giá mức
độ ô nhiễm dựa trên nguyên tắc các nhóm sinh vật chống chịu ô nhiễm khác nhau.
Hai chỉ số được đánh giá cao là chỉ số định lượng “Chỉ số Trent” (TBI) của
Woodiwis (1964) và chỉ số bán định lượng “Điểm số Chandler (CBS) của Chandler
(1970).
Đồ án tốt nghiệp
7
Việc sử dụng chỉ số TBI và điểm số CBS chỉ phù hợp đánh giá chất lượng
nước sông trong phạm vi nhỏ mà không phù hợp áp dụng cho diện rộng. Vì thế năm
1976, một tổ chức nghiên cứu quan trắc sinh học “Biological Monitoring Woring
Party” ra đời đã đưa ra hệ thống điểm số BMWP, sự phân loại mức độ ô nhiễm
nước dựa vào số loài và phân bố của ĐVKXS cỡ lớn.
Hệ thống điểm số BMWP sử dụng số liệu ở mức độ họ, mỗi họ quy cho một
điểm số phù hợp với tính nhạy cảm của nó với sự ô nhiễm hữu cơ môi trường nước.
Những điểm số riêng được cộng lại để cho điểm số tổng của mẫu, sự biến thiên của
điểm số BMWP bằng cách chia tổng số điểm cho số họ có mặt ta được sự một điểm
(Macroinvertebrate Community Index) tương tự như điểm trung bình bậc phân loại
ASPT của Anh.
Ngoài ra, hệ thống điểm số BMWP còn được ứng dụng và đạt hiệu quả cao
trong việc đánh giá chất lượng nước sông ở một số các nước như Thụy Điển, Bồ
Đào Nha, Braxin, Italia, Pháp [13].
1.2.1.4. Ở Ấn Độ
Ở Ấn Độ, năm 1994 De Zwart và Trivedi đã chuyển đổi điểm số BMWP cho
phù hợp với Ấn Độ là loại ra một số họ không có và thêm vào một số họ có ở Ấn
Độ. Một vài điểm số đã được phân phối trong điểm gốc cũng được thay thế để phản
ánh các mức độ khác nhau về sự chống chịu của các họ nhất định đã tìm thấy tại các
cửa sông của Ấn Độ [8].
Một nghiên cứu sử dụng điểm số BMWP khác do Bihar nghiên cứu ở sông
Ramjan nhận thấy các thông số lý hóa biến động theo mùa, nó sẽ ảnh hưởng đến độ
phong phú của ĐVKXS cỡ lớn và cũng nhận thấy kích thước quần thể ĐVKXS cỡ
lớn cũng tương quan nghịch với thông số pH và DO.
Sabib nghiên cứu Shendumi nhận định rằng dựa vào kích thước quần thể
ĐVKXS cỡ lớn có thể xác định được tình trạng chất lượng nước sông, hồ.
Maruthaynayagan và các cộng sự nghiên cứu ở hồ Thirukulam thì khẳng định kích
thước quần thể ĐVKXS phụ thuộc vào mùa, cao nhất vào mùa mưa và thấp nhất
vào mùa hè [13].
Đồ án tốt nghiệp
9
1.2.1.5. Ở Thái Lan
Năm 1977 Mustow đã nghiên cứu quần xã ĐVKXS cỡ lớn ở 23 điểm thuộc
sông MaePing và đưa ra một số thay đổi phù hợp với điều kiện ở Bắc Thái Lan. Kết
quả nghiên cứu cho thấy có những họ ở Thái Lan thì không có trong bảng gốc của
Anh, cũng có họ vừa có ở cả Thái Lan và Anh. Từ đó ông đã đề nghị sửa đổi 10 họ
cần điều chỉnh, Mustow nhận thấy BMWP cho điểm họ Odonata là cao sẽ không
nghiên cứu sử dụng hệ thống BMWP để đánh giá chất lượng sông Langat với 4 khu
vực lấy mẫu ở thượng nguồn và 4 khu vực lấy mẫu ở hạ nguồn. Kết quả nghiên cứu
cho thấy ở thượng nguồn thu được 54 loài còn ở hạ nguồn thu được 49 loài, chất
lượng nước sông cũng giảm dần khi chảy đến hạ nguồn do chịu ảnh hưởng của
nguồn ô nhiễm từ khu dân cư [13].
1.2.2. Ở Việt Nam
Việc nghiên cứu, đánh giá mức độ ô nhiễm các thủy vực ở Việt Nam đã được
quan tâm từ lâu nhưng đến năm 1995 vẫn chưa có hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn
các thủy vực. Các hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn cùng với những chỉ tiêu trong
các thang bậc phân loại đều là những dẫn liệu nghiên cứu ở vùng ôn đới, hoàn toàn
khác với điều kiện tự nhiên cũng như đặc tính sinh học của các thủy vực ở nước ta.
Trên cơ sở nghiên cứu trong 10 năm (1985 - 1995) cùng với dẫn liệu đã biết trước
đây về các thủy vực có nước thải vùng Hà Nội, Nguyễn Xuân Quýnh (1995) đã đề
xuất một hệ thống phân loại độ nhiễm bẩn các thủy vực có nước thải ở Hà Nội dựa
trên một số chỉ tiêu cơ bản về sinh học. Kèm theo nó là các chỉ tiêu lý hóa học quy
định sự có mặt hay vắng mặt của một số loài hay nhóm loài ĐVKXS cỡ lớn được
coi như sinh vật chỉ thị, quy định sự phát triển về số lượng và khối lượng của chúng
ở mức độ khác nhau từ những kết quả thu được, tác giả nhận định rằng ĐVKXS cỡ
lớn chỉ thị tốt cho mức độ ô nhiễm các thủy vực. Thông qua đây tác giả cũng đưa
nhận xét về mối liên quan giữa mức độ ô nhiễm thủy vực và các chỉ tiêu lý hóa, sinh
học như sau:
Mức độ ô nhiễm thủy vực tăng thì giá trị BOD
5
tăng, COD tăng, hàm lượng
DO giảm, thành phần loài và số lượng ĐVKXS giảm.
Mức độ nhiễm bẩn thủy vực ít thì hàm lượng DO cao, COD, BOD
5
thấp,
thủy vực có điều kiện dinh dưỡng vừa phải tạo điều kiện cho ĐVKXS phát triển tốt.
Từ năm 1997 đến năm 1999, với sự tài trợ của quỹ Darwin của chính phủ
và Tài nguyên Sinh vật đã thực hiện nghiên cứu tại 28 điểm quan trắc thuộc lưu vực
sông Cầu tại các tỉnh Bắc Giang, Bắc Cạn, Bắc Ninh, Thái Nguyên. Qua nghiên cứu
nước tại 28 điểm quan trắc đều thuộc loại ô nhiễm vừa đến ô nhiễm nặng, những
loài đại diện cho môi trường nước sạch như bộ cánh úp đã không được tìm thấy ở
đây khẳng định môi trường nước ở đây đang bị tác động nghiêm trọng. Ngoài kết
quả nghiên cứu tác giả còn bổ sung thêm 7 họ mới vào bảng điểm BMPT
VIET
bao
gồm 5 họ côn trùng thủy sinh Ecdyonuridae, Polymitarcyidae, Sciomyzidae,
Muscidae và 2 họ thân mềm Stenothyridae và Hyalidae [12].
Đồ án tốt nghiệp
12
Năm 2002, tác giả Nguyễn Vũ Thanh, Tạ Huy Thịnh, Phạm Đì nh Trọng
thuộc Viện sinh thái và Tài nguyên sinh vật cùng với tác giả Đoàn Cảnh thuộc Viện
Sinh học nhiệt đới đã thực hiện quan trắc và đánh giá chất lượng nước của hệ sinh
thái đất ngập nước ở các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Tháp Mười bằng phương pháp
BMWP. Về côn trùng thủy sinh, kết quả quan trắc đã thu được 29 họ thuộc 7 bộ côn
trùng (cánh nửa, cánh cứng, chuồn chuồn, hai cánh, cánh lông, phù du và cánh
rộng).Về động vật đáy cỡ lớn ngoài côn trùng, kết quả bao gồm 40 loài thuộc 27
giống, 19 họ, 5 lớp, 3 ngành (Giun đốt, Chân đốt và Thân mềm). Trong thành phần
loài khảo sát bắt gặp 13 họ Động Vật Đáy lần đầu tiên được phát hiện cho hệ Động
Vật Đáy ở vùng đất ngập nước Đồng Tháp Mười và chúng được bổ sung vào bảng
điểm BMWP Việt Nam, trong đó đại diện của 7 họ Côn trùng, 2 họ Giáp xiác, 3 họ
Giun nhiều tơ và 1 họ Giun ít tơ. Kết quả đánh giá chất lượng nước dựa trên chỉ số
ASPT xác định có 6 trạm quan trắc nước ở mức độ ô nhiễm nặng (Polysaprobe),
còn ở 27 trạm quan trắc còn lại nước ở mức ô nhiễm (α Mesosaprobe) [3].
Năm 2006, tác giả Trương Thanh Cảnh và Ngô Thị Trâm Anh thuộc Tr ường
Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQG-HCM tiến hành khảo sát thành phần ĐVKXS
Các chỉ số sinh học đã phản ánh được hiện trạng chất lượng môi trường nước sông
và cho chúng ta cái nhìn toàn diện hơn về những tác động tổng hợp của chất ô
nhiễm đến hệ sinh thái và đời sống sinh vật [15].
Các công trình nghiên cứu nêu trên cho thấy phương pháp quan trắc sinh học
thông qua ĐVKSX cỡ lớn là tối ưu, đã phần nào phát triển và đang ngày càng được
áp dụng rộng rãi ở Việt Nam. Việc sử dụng hệ thống điểm BMWP
VIET
và chỉ số
ASPT đã nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá chất lượng nước, phục vụ cho
việc công tác quản lý môi trường nước hiệu quả hơn.
Đồ án tốt nghiệp
14
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC KÊNH NHIÊU LỘC -
THỊ NGHÈ
2.1. Đặc điểm vị trí địa lý
Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè nằm trong khu trung tâm của nội thành
TP.HCM, chảy qua địa bàn 5 quận: Tân Bình, Phú Nhuận, Quận 1, Quận 3 và Bình
Thạnh.
Kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè bắt đầu từ quận Tân Bình chảy đến quận Phú
Nhuận, quận 3, quận 1, quận Bình Thạnh và kết thúc ở sông Sài Gòn (cạnh xưởng
sữa chữa tàu Ba Son) [5].
Lưu vực kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè có diện tích 3.324 ha nằm trên địa bàn 7
quận nội thành (quận 1, quận 3, quận 10, quận Phú Nhuận, quận Gò Vấp và quận
Tân Bình) tập trung dân cư với mật độ cao vì bao gồm 2 khu vực chính:
+ Khu dân cư quy hoạch (quận 1, quận 3 và một phần quận Phú Nhuận, quận Tân
ẩm cao (nhiệt độ trung bình 32
0
C , độ ẩm 79,7%).
+ Gió mùa vào mùa đông thường diễn ra từ tháng 1 đến tháng 3, nhiệt độ thấp
(21
0
C vào tháng 1), độ ẩm thấp hơn và có mưa nhỏ [5].
2.2.1 . Nhiệt độ không khí
Nhiệt độ không khí ít thay đổi giữa các tháng trong năm, biên độ giao động
trong khoảng 5 - 7
o
C, nhiệt độ trung bình năm là 27
o
C. Sự chênh lệch nhiệt độ giữa
ban ngày và ban đêm lại tương đối lớn (khoảng 7 - 10
o
C vào mùa khô và 5 - 9
o
C
vào mùa mưa) [5].
Bảng 2.1. Thống kê về nhiệt độ tại TP.HCM [5]
Mô tả
Nhiệt độ (
o
C)
Nhiệt độ trung bình năm
27
Nhiệt độ cao nhất đã từng được ghi nhận
(vào năm 1912)
40
VII
VIII
IX
X
XI
XII
Năm
Tân
Sơn
Nhất
13 14 11 14 208 313 296 371 372 274 118 46 1929
Nhà
Bè
7 0 6 21 167 267 229 220 255 181 65 15 1443
Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên (CEFINEA) tổng hợp
Mưa thường xảy ra 120 - 140 mm ngày một năm, trung bình 10 - 12 ngày
mỗi tháng. Những trận mưa lớn gây ngập úng rộng thường xảy ra từ cuối tháng 9
đến tháng 10. Mùa mưa bắt đầu với gió mùa Tây Nam vào khoảng ngày 10/5 và kết
thúc thúc vào khoảng 30/10, lượng mưa trong tháng lớn nhất là 308 mm vào tháng
8. Những cơn mưa lớn xảy ra trong thời gian ngắn. Lượng mưa giảm dần từ thượng
nguồn đến hạ nguồn các con sông trong khu vực.