ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Đình Thái
NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH
TRONG HOLOCEN MUỘN PHỤC VỤ QUY HOẠCH
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG KHU VỰC CỬA SÔNG ĐỒNG NAI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÝ Hà Nội - 2015
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng
tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực
và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình
nào khác.
Tác giả Nguyễn Đình Thái
iv LỜI CẢM ƠN
Luận án được hoàn thành dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ tận tình của các
thầy: GS.TS.NGND Trần Nghi, PGS.TS Đặng Văn Bào. Nghiên cứu sinh xin
bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới hai thầy hướng dẫn.
Trong quá trình hoàn thành luận án, Nghiên cứu sinh cũng nhận được
những ý kiến đóng góp quý báu, sự quan tâm giúp đỡ của các thầy cô và các
nhà khoa học của các cơ quan: Bộ môn Địa mạo và Địa lýMôi trường biển,
Khoa Địa lý, Bộ môn Trầm tích và Địa chất biển, Khoa Địa chất, Phòng Sau
Đại học, Phòng Chính trị và công tác sinh viên Trường Đại học Khoa học và
Tự nhiên; Trung tâm Nghiên cứu Biển và Đảo Trường Đại học Khoa học Tự
nhiên; Viện Địa chấtViện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam; Tổng
cục Môi trườngBộ Tài nguyên và Môi trường; Trung tâm Quan trắc môi
trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa
2.1.3 Đặc trưng địa mạo và ảnh hưởng của chúng tới biến động môi trường
trầm tích 59
2.1.4 Đặc điểm thuỷ văn và hải văn ven bờ 66
2.1.5 Đặc trưng khí hậu với biến động môi trường 72
2.1.6 Các nhân tố chi phối quá trình phá hủy ĐBCT biến dần thành cửa sông
hình phễu (estuary) từ 1000 năm đến nay 75
2.2 ẢNH HƯỞNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI ĐẾN MÔI TRƯỜNG
KHU VỰC 78
2.2.1 Dân cư 78
2.2.2 Tình hình phát triển kinh tế 79
Chương 3 BIẾN ĐỘNG MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH KHU VỰC
CỬA SÔNG ĐỒNG NAI GIAI ĐOẠN HOLOCEN MUỘN 83
3.1 BIẾN ĐỔI MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH TRONG HOLOCEN 83
3.1.1 Giai đoạn Holocen sớm-giữa 84
3.1.2 Giai đoạn Holocen muộn 89
3.1.3 Nhận xét chung 97
2
3.2 BIẾN ĐỔI MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH THEO KHÔNG GIAN 97
3.2.1 Vật liệu trầm tích vùng hạ lưu sông Đồng Nai đến cửa Soài Rạp 98
3.2.2 Trầm tích đáy của hệ thống lạch triều sông Thị Vải 99
3.3 BIẾN ĐỘNG VÙNG CỬA SÔNG VEN BIỂN 104
3.3.1 Hiện tượng bồi tụ-xói lở 105
3.3.2 Biến đổi lòng dẫn 108
3.3.3 Biến động vùng bờ do hoạt động nhân sinh 111
Chương 4 Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH KHU VỰC CỬA SÔNG
ĐỒNG NAI VÀ ĐỊNH HƯỚNG GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC 114
4.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA HÓA VÀ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRẦM TÍCH 115
4.2 HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NƯỚC 119
4.2.1 Ô nhiễm chất hữu cơ 119
:
Ủy ban phối hợp chương trình khoa học địa chất khu
vực Đông và Đông Nam Á (Coordinating Committee
for Geoscience Programs in East and Southeast Asia)
ĐBCT
:
Đồng bằng châu thổ
ĐNB
:
Đông Nam Bộ
ĐN-SG
:
Đồng Nai – Sài Gòn
ĐTPT
:
Địa tầng phân tập
ESCAP
:
Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á và Thái Bình Dương
(Economic and Social Commission for Asia and the
Pacific)
GIS
:
Kinh tế quốc dân
KT-XH
:
Kinh tế xã hội
KV
:
Khu vực
LVS
:
Lưu vực sông
LK
:
Lỗ khoan
LST
:
Hệ thống trầm tích biển thấp
(Lowstand system tract)
MNB
:
Mực nước biển
MT
:
:
Ngưỡng tác động
(Threshold effect levels)
TN
:
Tự nhiên
TNMT
:
Tài nguyên môi trường
TP.HCM
:
Thành phố Hồ Chí Minh
TST
:
Hệ thống trầm tích biển tiến
(Transgressive system tract)
VCHC
:
Vật chất hữu cơ
VCS
:
Vùng cửa sông
XH
Hình 2.16. Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm [41] 73
Hình 2.17. Số giờ nắng trung bình các tháng trong năm [41] 73
Hình 2.18. Độ ẩm trung bình các tháng trong năm [41] 74
Hình 2.19. Sơ đồ đẳng trị mưa trung bình nhiều năm trên toàn lưu vực [41] 74
Hình 2.20. Tốc độ gió trung bình các tháng trong năm 75
Hình 2.21. Mối quan hệ giữa trầm tích, mực nước biển và chuyển động kiến tạo 77
Hình 2.22. Một số khu công nghiệp hai bên bờ sông Thị Vải 81
Hình 3.1. Mỏ than bùn trước biển tiến Holocen giữa (Trần Nghi [30, 33]) 85
Hình 3.2a. Trầm tích cát bùn chứa nhiều mùn thực vật màu xám tối tướng vũng vịnh
cổ tàn dư (Q
2
1-2
) 86
5
Hình 3.3. Bản đồ tướng đá-cổ địa lý giai đoạn 3000 năm cách ngày nay 88
Hình 3.4. Quan hệ giữa địa tầng phân tập và sự thay đổi mực nước biển
trong Holocen vùng hạ lưu sông Đồng Nai – Thị Vải 89
Hình 3.5. Trầm tích tầng mặt biển nông ven bờ mQ
2
3
(Cần Giờ) 91
Hình 3.6. Trầm tích sét xám xanh (mQ
2
1-2
) lẫn trầm tích cát hạt trung (aQ
2
3
)ở
đáy sông Nhà Bè 92
Hình 3.16. Địa hình đáy sông Đồng Tranh 110
Hình 3.17. Một đoạn địa hình đáy sông Đồng Tranh 110
Hình 3.18. Sông Tắc Tài 110
Hình 3.19. Địa hình đáy sông Lòng Tàu 110
Hình 3.20. Địa hình đáy sông Nhà Bè 111
Hình 3.21. Địa hình đáy sông Thị Vải 111
Hình 4.1. So sánh khả năng tích tụ kim loại nặng trong các mẫu trầm tích 115
Hình 4.2. Biến thiên pH, Eh theo trắc diện dọc của sông Thị Vải 120
Hình 4.3. Biến thiên hàm lượng oxi hòa tan (DO) trong sông Thị Vải 120
Hình 4.4. So sánh hàm lượng vật chất ô nhiễm hữu cơ trên toàn lưu vực và
khu vực cửa sông 122
Hình 4.5. Biến động hàm lượng Fe tổng số theo mùa trên toàn lưu vực và khu vực
cửa sông 124
Hình 4.6. Biến động hàm lượng Chì (Pb) theo mùa khu vực cửa sông so với
trên toàn lưu vực 124
Hình 4.7. Bản đồ địa hóa môi trường khu vực hạ lưu sông Đồng Nai 127
Hình 4.8. Bản đồ chất lượng nước mùa khô theo tài liệu quan trắc 2008 128
6
Hình 4.9. Bản đồ chất lượng nước mùa mưa theo tài liệu quan trắc 2008 129
Hình 4.10. Bản đồ chất lượng nước mùa khô theo tài liệu quan trắc 2011 130
Hình 4.11. Bản đồ chất lượng nước mùa mưa theo tài liệu quan trắc 2011 131
Hình 4.12. Biểu đồ biến thiên lưu lượng nước tại các mặt cắt sông theo giờ 133
Hình 4.13. Bản đồ thủy-thạch động lực khu vực cửa sông Đồng Nai 136
Hình 4.14. Mực nước cực đại cao nhất mùa khô (tháng 4) 137
Hình 4.15. Mực nước cực đại cao nhất mùa mưa (tháng 10) 138
Hình 4.16. Độ lớn thủy triều trong mùa khô (tháng 4) 139
Hình 4.17. Độ lớn thủy triều trong mùa mưa (tháng 10) 140
Hình 4.18. Tốc độ dòng chảy cực đại khi triều rút trong mùa mưa (tháng 10) 141
Hình 4.19. Tốc độ dòng chảy cực đại khi triều dâng trong mùa mưa (tháng 10) 142
Bảng 4.1. Hàm lượng các nguyên tố trong trầm tích sét xám xanh (Nhóm 1) 116
Bảng 4.2. Hàm lượng các nguyên tố trong trầm tích sét xám đen (Nhóm 2) 118
Bảng 4.3. Các thông số định lượng đo đạc ô nhiễm chất hữu cơ 121
Bảng 4.4. Các thông số định lượng (tiếp theo) 121
Bảng 4.5. Thành phần định lượng của kim loại nặng 123
Bảng 4.6. So sánh hàm lượng của các kim loại nặng trong môi trường nước
theo mùa và trung bình năm 126
Bảng 4.7. So sánh một số đặc trưng chế độ nước giữa hai cửa sông 135
Bảng 4.8. Tầm quan trọng của các lĩnh vực phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực 153
Bảng 4.9. Giải pháp định hướng quy hoạch khu vực hạ lưu 159 8 MỞ ĐẦU
Hạ lưu sông Đồng Nai là một địa hệ sinh thái vũng vịnh cửa sông Soài Rạp
gắn liền với hệ thống lạch triều sông Thị Vải đang phát triển ở giai đoạn cường
thịnh, phá hủy hoàn toàn một đồng bằng châu thổ (ĐBCT) để biến thành một miền
rừng ngập mặn rộng lớn vào loại nhất ở nước ta. Địa hệ này cũng là “bãi rác”
khổng lồ đã và đang tiếp nhận khoảng 480.000 m
3
/ngày nước thải công nghiệp từ
hơn 10.000 doanh nghiệp, cơ sở thuộc 56 khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất
(KCX) trên toàn bộ lưu vực (số liệu thống kê năm 2008). Ngoài ra, lưu vực còn là
nơi sinh sống của 8,4 triệu người thuộc77 khu đô thị thải ra lượng nước thải sinh
hoạt trung bình 900.000 m
3
/ngày [6, 7, 11]. Đó là chưa kể hàng ngàn tấn rác thải
mỗi ngày do khai thác khoáng sản, hoạt động làng nghề, sinh hoạt, y tế, nông
nhiễm hiện đại dựa trên các nghiên cứu về thủythạch động lực.
Xây dựng các giải pháp định hướng hợp lý trong quy hoạch phát triển bền
vững nhằm giảm thiểu thiệt hại liên quan đến biến đổikhu vực cửa sông.
Nhiệm vụ của luận án
1/ Phân tích và đánh giá các dạng số liệu về điều kiện tự nhiên (TN), kinh
tếxã hội (KTXH) và môi trường (MT), đồng thời tiến hành khảo sát thực địa, lấy
mẫu trầm tích và nước, khảo sát cảnh quan sinh thái vùng hạ lưu sông Đồng Nai.
2/ Đánh giá ảnh hưởng của hoạt động thủythạch động lực đến sự hình
thành và biến đổi, thoái hóa địa hệ khu vực cửa sông Đồng Nai.
3/ Nghiên cứu biến động môi trường trầm tích theo các mốc thời gian khác
nhau trong Holocen.
4/ Phân tích nguyên nhân và cơ chế tích lũy, lan truyền vật chất gây ô
nhiễm môi trường trầm tích và môi trườngnước.
5/ Đề xuất định hướng quy hoạch bền vững và giải pháp khắc phục ô nhiễm
cho khu vực nghiên cứu. 10
Giới thiệu chung về khu vực nghiên cứu
Phạm vi khu vực cửa sôngĐồng Nai được lựa chọn thực hiện trong luận án
giới hạn từ hợp lưu của sông Đồng Nai và sông Sài Gòn tại Nam Cát Lái ra đến
cửa Soài Rạp và hệ thống lạch triều sông Thị Vải ra đến vịnh Gành Rái. Khu vực
này bao gồm toàn bộ huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai), huyện Cần Giờ (TP. HCM),
và một phần huyện Tân Thành (Bà RịaVũng Tàu), có diện tích khoảng 1.700
km
2
. Trong hệ thống sông vùng này sông Soài Rạp, sông Lòng Tàu, sông Thị Vải
Cái Mép là những con sông có vai trò quan trọng. Sông Lòng Tàu hẹp, sâu hơn
(~ 30 m) và ổn định hơn; Sông Soài Rạp rộng và nông hơn (~ 810 m) với nhiều
cồn, bãi trước cửa sông. Các cồn, bãi ở cửa sông Soài Rạp được hình thành theo
triều.Mẫu lỗ khoan khu vực Cần Giờ, Gò Công được tham khảo và sử dụng từ các
báo cáo thuộc đề tài cấp Nhà nước (KC.09.06/0610; KC.09.13/1115).Thêm vào
đó, các kết quả quan trắc môi trường của Bộ TN&MT từ năm 2002 đến năm 2010,
kết quả quan trắc sông Thị Vải của tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bà RịaVũng Tàu cũng
được thu thập và sử dụng để phân tích đối sánh. Ngoài ra, NCS còn tham khảo các
báo cáo địa chất, các công trình nghiên cứu, các bài báo trong nước và quốc tế có
liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu và khu vực nghiên cứu đã được công bố.
Những luận điểm bảo vệ
Luận điểm 1: Môi trường trầm tích khu vực cửa sông Đồng Nai có sự biến
động mạnh trong Holocen muộn, đặc biệt từ 1.000 năm trở lại đây,trong đó sự
dâng cao mực nước biển, các hoạt động củathủy triều, sóng biển và hoạt động
nhân sinh là nguyên nhân chínhdẫn tới phá hủy địa hình cổ trong phạm vi toàn lưu
vực.
12
Luận điểm 2: Ô nhiễm môi trường khu vực cửa sông Đồng Nai có sự gia
tăng do ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên (hệ thống lạch triều không còn khả năng
tự làm sạch) và xu thế tích dồn các chất ô nhiễm do các hoạt động nhân sinh.
Những điểm mới của luận án
i) Làm rõquy luật phát triển và biến động môi trường trầm tích khu vực cửa
sông theo thời gian và không gian giai đoạn từ Holocen muộn (từ 3.000 năm đến
nay) trong mối quan hệ với sự thay đổi mực nước biển.
2i) Làm rõ quy luật lan truyền và tích lũy ô nhiễm hữu cơ và kim loại nặng
lạch triều sông Thị Vải và cửa sông Đồng Nai trong mối quan hệ với hoạt động
thủy thạch động lực.
Ý nghĩa của luận án
Vùng cửa sông ven biển là đới tương tác sôngbiển, nơi tranh chấp giữa
biển cả và đất liền, có tiềm năng to lớn về nguồn tài nguyên thiên nhiên, đồng thời
cũng là nơi xảy ra và chứa đựng nhiều tiềm ẩn về tai biến thiên nhiên mang đến
những hậu quả khó lường. Nghiên cứu biến động môi trường khu vực cửa sông
biển có liên quan chặt chẽ với khái niệm về đới bờ (coastal zone) hay còn gọi là
đới tương tác hiện tại giữa biển và lục địa đã được xác lập một cách tương đối [35,
38, 44, 49]. Vùng cửa sông ven biển được xem là vùng thấp nhất của lưu vực sông
(LVS), phần lớn là đất bồi tụ lâu năm có thể tạo nên các vùng đồng bằng
rộng.Vùng cửa sông ven biển là nơi có sự tương tác giữa nước mặn và nước ngọt
hay đó là nơi sông đổ nước ra biển. Đây là nơi thể hiện đầy đủ và rõ rệt nhất các
mối tương tác giữa các quyển của Trái đất là: thạch quyển, thủy quyển, khí quyển
và sinh quyển.
1.1.1 Phân loại châu thổ
Trong lịch sử phát triển địa chất, phụ thuộc vào mối tương quan giữa tốc độ
lắng đọng trầm tích và tốc độ ngập chìm, vùng cửa sông tồn tại như một châu thổ
bồi tụ (Constructive delta plain) hay như một châu thổ phá hủy (Destructive delta
plain). Trong Holocen, biển tiến Flandrian cùng với hoạt động tân kiến tạo là quá
trình chủ đạo gây ngập chìm tất cả các cửa sông ven biển, trong đó quá trình biển
tiến này đóng vai trò chủ đạo. Khi tốc độ dâng của mực nước biển cùng với tốc độ
sụt lún kiến tạo cao hơn so với tốc độ lắng đọng trầm tích thì vùng cửa sông tồn tại
như một cửa sôngvũng vịnh.Lúc này động lực biển (thủy triều, sóng) đóng vai trò
chính, thống trị trong vùng cửa sông.Ngược lại, khi tốc độ lắng đọng trầm tích lớn
hơn, thì châu thổ sẽ tiến nhanh ra biển.
Dựa vào mối quan hệ giữa nguồn vật liệu trầm tích và sự dao động mực
nước biển, có thể phân chia châu thổ thành hai loại như sau:
Châu thổ bồi tụ: Được hình thành trong giai đoạn biển thoái (LST –
Lowstand system tract và HST – Highstand system tract), khi tốc độ lắng đọng
15
trầm tích lớn hơn không gian tích tụ. Trên bề mặt địa hình thường gặp nhiều thân
cát có dạng thon dài chân chim (elongate), hình lưỡi xẻng (lobate) phân bố giữa
lòng cửa sông và thân cát có dạng lưỡi liềm thành tạo do sóng biển nằm ở phần hạ
du châu thổ, nổi cao từ 13 m so với đồng bằng (cửa sông Cửu Long, cửa Ba Lạt,
cửa Đáy).
Châu thổ do sóng thống trị (Wave-domimated deltas): xảy ra ở khu vực cửa
sông có năng lượng sóng cao.Tại đây tốc độ dòng chảy đột ngột giảm mạnh, có sự
xáo trộn giữa nước sông từ lục địa mang ra và ngoài biển.Trầm tích lắng đọng tạo
thành các dải cồn cát hoặc bãi biển có đường bờ tương đối thẳng (cửa sông San
Fransissco). Các cửa sông như Danube, Copper, Mahakam,… có sự tương tác của
nhiều hơn 1 yếu tố động lực dòng chảy.
Việc xác định không gian vùng cửa sông cũng có nhiều quan điểm khác
nhau: Không gian của vùng cửa sông được một số tác giả xác định theo độ muối
của nước, dao động trong khoảng 1 ‰ đến 4 ‰, hoặc theo thảm thực vật ngập
mặn; theo ảnh hưởng của thủy triều hoặc ranh giới các tướng thủy triều trên lục
địa Ranh giới ngoài có thể được xác định đến hết chân châu thổ hoặc hết xuất
hiện của trầm tích hiện đại (am). Vì vậy, việc xác định không gian của vùng cửa
sông là rất linh động, phụ thuộc vào mục tiêu của từng nhiệm vụ.
17
Như vậy, thông qua phân tích đặc trưng của châu thổ, so sánh các dạng cửa
sông cho thấy khu vực cửa sông Đồng Nai có dạng hình phễu, bị ngập chìm, hầu
như không có sự đền bù trầm tích,chịu chi phối mạnh của chế độ thủy triều (tidal-
dominated regime).Có thể thấy đây là một châu thổ bịphá hủy (destructive delta
plain) điển hình ở Việt Nam.Xếp loại này cũng phù hợp với phân loại của Xamoilov
(1952) khi dựa vào đặc trưng hình thái đã xếp cửa sông Đồng Nai thuộc kiểu
estuary.
1.1.2 Khái niệm về tướng trầm tích, môi trường trầm tích và biến động môi
trường
Theo quan điểm của Rukhin và Teodorovic, tướng là những trầm tích được
thành tạo trong một vị trí nhất định có cùng những điều kiện khác với những vùng
lân cận [35]. Khái niệm này gồm hai nội dung chính: i)Ởcùng vị trí tức là hình
thành trong cùng một môi trường cổ địa lý hay hoàn cảnh lắng đọng trầm tích đặc
trưng; ii) Có cùng các điều kiện có nghĩa là ở mỗi vị trí trên có những đặc trưng
riêng về thành phần thạch học, cổ sinh và địa hóa.
không gianthời gian địa chất sẽ kéo theo sự biến đổi về tướng. Điều này đã được
chứng minh trong nghiên cứu đối sánh các phân vị địa tầng (Trần Nghi, Ngô
Quang Toàn, Nguyễn Địch Dỹ, 2002, 2004, 2007, 2010, 2012). Trong khi đó, biến
động địa hình khu vực cửa sông liên quan đến các quá trình địa mạo bờ (bồi tụxói
lở, biến đổi lòng dẫn, ) có thể xảy ra trong giai đoạn địa chất dài hoặc biến đổi
cực đoan trong khoảng thời gian ngắn. Chúng có thể được làm tăng lên bởi các
hoạt động của con người ngay tại vùng bờ hoặc trên các lưu vực sông lân cận.
Các nhân tố gây biến động môi trường trầm tích từ giai đoạn Holocen đến
nay gắn liền với dao động mực nước biển sau biển tiến Flandrian, các yếu tố địa
chấtkiến tạo (nội sinh); cổ khí hậu, hình thái địa mạo, chế độ thủy triều, dòng
chảy ven bờ, nguồn cung cấp trầm tích, (ngoại sinh) và tác động của con người
trong giai đoạn hiện đại (nhân sinh).
Sự tương tác giữa các quá trình nội sinh, ngoại sinh và nhân sinh này có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Quá trình nội sinh đã tạo ra các khối sụt, nâng ở
các khu vực khác nhau gây biến đổi dòng chảy.Quá trình ngoại sinh, chủ yếu là
19
chế độ hoạt động của thủy triều làm đào xẻ (xâm thực ngang và xâm thực sâu) khu
vực ĐBCT hạ lưu sông Đồng Nai biến thành cửa sông hình phễu và địa hệ lạch
triều rừng ngập mặn ngày một mở rộng về phía đất liền.Các nguồn vật liệu từ sông
mang ra sẽ bị tái phân bổ, nếu nguồn trầm tích dư thừa, thì đường bờ sẽ bồi tụ ra
phía biển.Ngược lại nếu nguồn trầm tích bị thiếu hụt, đường bờ sẽ tiến vào phía
lục địa.Cùng với đó, hoạt động nhân sinh trên lưu vực nói chung và khu vực hạ lưu
nói riêng đã góp phần trực tiếp làm biến đổi địa hình lòng sông thông qua các hoạt
động đắp đập, ngăn sông, xây dựng cảng và các đầm tôm ven bờ.
Các kết quả nghiên cứu biến động môi trường đới bờ được ứng dụng thiết
thực trong nhiều lĩnh vực phát triển kinh tế xã hội và trong nhiều cấp quản lý khác
nhau, đặc biệt trong quy hoạch và quản lý đới bờ biển.Chúng còn là cơ sở khoa
học quan trọng để đề xuất các giải pháp/định hướng giải pháp quản lý và thích ứng
trong bối cảnh mực nước biển dâng như hiện nay.
hóa và thay đổi môi trường bờ bao gồm nghiên cứu các quá trình vật lý liên quan
đến sóng, thủy triều, dòng chảy ven bờ,… và các quá trình khí quyển đều rất quan
trọng đối với cả động lực và sinh thái bờ. Nó cũng bao gồm việc nghiên cứu các
hệ vật lý và sinh vật tạo nên bờ theo cả chiều ngang của các hệ bờ (bao gồm các
vùng cửa sông, delta, bãi biển và đới sóng vỗ bờ, các hệ thống cồn cát, rừng ngập
mặn bao quanh và phần trong của thềm lục địa).
Từ những năm cuối thế kỷ XIX, các tác giả Palmer H.R (1834), Reynolds
W.J (18891890), Penk (1894) đã có những nghiên cứu về bờ biển, các quá trình
động lực phát triển địa hình cửa sông, về sự di chuyển bồi tích và sự biến đổi địa
hình ở đới bờ [58, 60, 64, 67]. Năm 1919, Johnson đã tổng hợp nhiều kết quả
nghiên cứu ở khu bờ, cho ra đời cuốn sách nổi tiếng đầu tiên về hình thái và động
lực bờ biển.Năm 1946, Zenkovic V.P đưa ra những luận điểm cơ bản của lý thuyết
về nguồn gốc và sự phát triển của các dạng địa hình tích tụ bờ biển với hàng loạt
nhân tố mới tạo nên các dạng địa hình tích tụ. Những thập kỷ cuối thế kỷ XX, với
những phương tiện hiện đại như ảnh viễn thám, địa chấn nông phân giải cao, các
máy móc đo đạc nhanh chóng đã giải quyết được nhiều vấn đề của thực tiễn thuộc
cửa sông ven biển.