1
Nghiên cứu xác lập một số mô hình hệ kinh tế
sinh thái phục vụ định hƣớng phát triển bền vững
thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai
Nguyễn Thị Thanh Hoa
Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên
Luận văn Thạc sĩ ngành: Sử dụng và Bảo vệ Tài nguyên Môi trƣờng
Mã số: 60.85.15
Ngƣời hƣớng dẫn: PGS.TSKH. Phạm Hoàng Hải
Năm bảo vệ: 2012
Abstract: Nghiên cứu cơ cở lý luận về mô hình kinh tế sinh thái. Phân tích và đánh giá tổng
hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế-xã hội và nhân văn thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai. Nghiên
cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả các mô hình hệ kinh tế sinh thái có tại khu vực nghiên
cứu. Xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của khu vực nghiên
cứu
Keywords: Kinh tế sinh thái; Phát triển bền vững; Gia Lai; Tài nguyên môi trƣờng; Bảo vệ
môi trƣờng
Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Trong những năm gần đây, thế giới đang phải đối mặt với tình trạng khủng hoảng kinh tế,
chính trị và xã hội. Nƣớc ta cũng không nằm ngoài cục diện này, yêu cầu cấp bách hiện nay là phải
phát triển kinh tế - xã hội hiệu quả nhằm đƣa đất nƣớc ta tiến lên chủ nghĩa xã hội, thoát khỏi sự lạc
nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn để xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phục vụ định
hƣớng phát triển bền vững thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái;
- Phân tích và đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn thị xã
Ayun Pa, tỉnh Gia Lai;
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện có tại
khu vực nghiên cứu;
- Xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của khu vực.
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi
- Phạm vi không gian: thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai gồm 4 phƣờng và 4 xã với tổng diện tích
là 287,52 km
2
.
- Phạm vi khoa học: nghiên cứu đánh giá các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhân văn
và các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện trạng từ đó xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù
hợp với tiềm năng của khu vực nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu
Các nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhân văn và các mô hình hệ kinh tế sinh thái thị xã
Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
4. Cơ sở dữ liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả đã sử dụng những tài liệu nhƣ sau: Các tài liệu về
mô hình hệ kinh tế sinh thái, đánh giá cảnh quan (theo tiếp cận kinh tế sinh thái); Các công trình
khoa học liên quan đến các mô hình hệ kinh tế - sinh thái; Các bản đồ địa hình tỉnh Gia Lai
1:25.000; Niên giám thống kê thị xã Ayun Pa và tỉnh Gia Lai qua các năm do UBND thị xã Ayun
Pa và tỉnh Gia Lai cung cấp; Các báo cáo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Ayun
Pa đến năm 2020; Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010, kế hoạch sử dụng đất 5 năm
hoạt, sản xuất, khai thác, sử dụng tài nguyên của con người [15].
Hình 1.1. Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong mô hình hệ kinh tế sinh thái [9]
1.1.2. Nguyên tắc nghiên cứu và phân loại hệ mô hình kinh tế sinh thái
a) Nguyên tắc nghiên cứu mô hình hệ kinh tế sinh thái
Các mô hình hệ kinh tế sinh thái đƣợc xây dựng trên cơ sở: (1) Kiểm kê, đánh giá hiện trạng
môi trƣờng, tài nguyên và tiềm năng sinh học, bao gồm công tác điều tra tự nhiên, điều tra kinh tế
xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức sản xuất xã hội; (2) Phân tích chính sách và chiến lƣợc sử
dụng tài nguyên và bảo vệ môi trƣờng ; (3) Hoàn thiện các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất
năng lƣợng) và cơ chế sinh học (theo chu trình sinh - địa - hoá) [7].
Phân hệ tự
nhiên:
- Năng lƣợng mặt
trời
- Địa chất - địa
Sản phẩm môi
trường:
- Ô nhiễm môi
trƣờng
- Cải thiện môi
trƣờng
5
Theo Nguyễn Cao Huần (2005), đánh giá thích nghi sinh thái là xác định mức độ phù hợp
của các địa tổng thể (cảnh quan trong địa lý học, đơn vị đất đai trong đánh gía đất, lập địa trong
khoa học lâm nghiệp) đối với đối tƣợng quy hoạch phát triển.
Khi tiến hành phân tích mô hình kinh tế sinh thái cần đảm bảo 2 nguyên tắc chính là: cấu
trúc - chức năng và kinh tế - sinh thái. Nguyên tắc cấu trúc - chức năng: phản ánh mối quan hệ biện
chứng và tác động qua lại của các yếu tố trong hệ thống. Nguyên tắc này hƣớng tới sự tập trung
chức năng chủ yếu của hệ đƣợc nghiên cứu. Nguyên tắc kinh tế - sinh thái: phản ánh hoạt động của
hệ thống phải đảm bảo tính kinh tế, tính thích nghi sinh thái và tính giữ gìn môi trƣờng.
b) Phương pháp nghiên cứu mô hình kinh tế sinh thái
Xuất phát từ bản chất của hệ kinh tế sinh thái, phƣơng pháp nghiên cứu mô hình kinh tế sinh
thái phải dựa trên cơ sở khái quát hoá các phƣơng pháp từ các khoa học bộ phận có liên quan.
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu và điều tra cơ bản ở thực địa.
- Nhóm phƣơng pháp phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng sử dụng tài nguyên.
- Nhóm phƣơng pháp dự báo hoạt động của hệ, mô hình hoá.
c) Cơ sở phân loại và chỉ tiêu đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái
Mô hình hệ kinh tế sinh thái có thể đƣợc phân loại theo các tiêu chí khác nhau theo mục
đích sử dụng.
- Phân loại theo cơ cấu sản xuất: tính phức tạp hay đơn giản của mô hình tùy thuộc vào vị
trí, đặc điểm tự nhiên: địa chất - địa hình, khí hậu - thủy văn … và các điều kiện kinh tế - xã hội:
vốn, lao động, trình độ khoa học kỹ thuật, tập quán canh tác của mỗi dân tộc.
Trong khoa học địa lý tồn tại ba quan niệm về cảnh quan tùy theo ý và nội dụng cần diễn đạt: Cảnh
quan là một khái niệm chung (F.N. Minkov, D.L. Armand ), là khái niệm loại hình (B.B.
Plolƣnov ), là khái niệm cá thể (N.A. Xoltsev, A.G. Ixatrenko, ) [11,21].
Trong nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất, cảnh quan vẫn đƣợc xem xét ở cả 3 khía
cạnh, nhƣ đơn vị địa tổng thể, đơn vị kiểu loại, đơn vị cá thể. Dù xem cảnh quan theo khía cạnh nào
đi chăng nữa thì cảnh quan vẫn đƣợc xem là một địa tổng thể tự nhiên, còn sự khác biệt của các
khái niệm trên ở chỗ coi cảnh quan là đơn vị thuộc cấp phân vị nào, cảnh quan đƣợc xác định và thể
hiện trên bản đồ theo cách thức nào, theo cách quy nạp hay diễn giải.
Vũ Tự Lập (1976) định nghĩa: “Cảnh quan địa lý được phân hoá trong phạm vi một đới
ngang ở đồng bằng và một đai cao ở miền núi, có một cấu trúc thẳng đứng đồng nhất về nền địa
chất, về kiểu địa hình, kiểu khí hậu, kiểu thuỷ văn, về đại tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật,
và bao hàm một tổ hợp có quy luật của những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo
một cấu trúc ngang đồng nhất” [1]. Sau đó, A.G.Ixatrenco (1991) lại đƣa ra một định nghĩa ngắn
gọn hơn: ”Cảnh quan là một địa hệ thống nhất về mặt phát sinh, đồng nhất về các dấu hiệu địa đới
và phi địa đới, bao gồm một tập hợp đặc trưng của các địa hệ liên kết bậc thấp” [7].
Chính vì có nhiều quan điểm khác nhau về cảnh quan, nên không phải bất cứ tên một cảnh
quan nào cũng có nghĩa đồng nhất nhƣ nhau. Về bản chất, cảnh quan là một địa tổng thể tự nhiên
phức tạp vừa có tính đồng nhất, vừa có tính bất đồng nhất. Tính đồng nhất của cảnh quan đƣợc hiểu
ở chỗ là một lãnh thổ trong phạm vi của nó, các thành phần và tính chất của mối quan hệ giữa các
thành phần coi nhƣ không đổi, nghĩa là đồng nhất. Tính bất đồng nhất đƣợc biểu thị ở hai mặt: thứ
nhất, cảnh quan bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thuỷ văn, đất,
thực vật) tạo nên. Thứ hai, mỗi thành phần trong cảnh quan tồn tại ở nhiều dạng khác nhau, ví dụ
địa hình âm và dƣơng, và ngay trên một dạng địa hình dƣơng (quả đồi - đƣợc coi nhƣ đồng nhất)
cũng có sự khác nhau giữa đỉnh và sƣờn [11]. Do vậy, cần hiểu đúng bản chất cảu nó, không thể
hiểu theo nghĩa tên gọi vì chƣa có một định nghĩa thống nhất nào cho cảnh quan.
1.2.2. Hệ thống phân loại cảnh quan
Hệ thống phân loại và các chỉ tiêu các cấp dựa trực tiếp vào bản thân đối tƣợng nghiên cứu.
Đó là sự phân hoá thực tế theo không gian. Hệ thống phân loại là một trong những khâu quan trọng
để thành lập bản đồ cảnh quan. Đối với cảnh quan học cho đến nay vẫn chƣa có một hệ thống phân
loại nào đƣợc mọi ngƣời chấp nhận là có đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp.
Mối quan hệ giữa mô hình kinh tế sinh thái và đánh giá cảnh quan: đánh giá cảnh quan
một khu vực cụ thể chính là dựa trên các nhân tố thành tạo cảnh quan để đánh giá tiềm năng phát
triển của khu vực đó, kết hợp với các mô hình kinh tế sinh thái hiện trạng tại khu vực nghiên cứu
làm cơ sở cho việc đề xuất các mô hình kinh tế sinh thái bền vững.
1.3. Quan điểm và phương pháp
+ Quan điểm nghiên cứu
- Quan điểm hệ thống
- Quan điểm tổng hợp
- Quan điểm lịch sử
- Quan điểm kinh tế sinh thái
- Quan điểm phát triển bền vững
+ Các phương pháp nghiên cứu
- Phƣơng pháp thu thập và xử lý tài liệu
- Phƣơng pháp khảo sát thực địa
- Phƣơng pháp điều tra xã hội học
- Phƣơng pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý
7
CHƢƠNG 2. ĐẶC ĐIỂM ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN VÀ KINH TẾ
- XÃ HỘI THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI
2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
Thị xã Ayun Pa là một thị trấn nằm ở ngã ba sông Ba và một chi lƣu của nó là sông Ayun
(còn gọi là Ayun hay Ia Ayun), nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Gia Lai, nằm trên sƣờn Đông của
dãy Trƣờng Sơn, cách thành phố Pleiku 90 km về phía Nam. Thị xã có toạ độ từ 13
0
43’29’’ đến
13
, phân bố khu vực trung tâm thị
xã (gồm 4 phƣờng) và một phần xã Ia Rtô;
ii) Địa hình đồi cao (200 - 500m), có độ dốc từ 8 - 15
0
, phân bố phía tây và phía nam Ayun
Pa ;
iii) Địa hình núi thấp (500 - 1500m), có độ dốc trên 15
0
, phân bổ chủ yếu ở phía nam thị xã
và một phần phía tây, giáp Đăk Lăk.
2.1.3. Khí hậu, thủy văn
a) Khí hậu
Ayun Pa nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và tính chất vùng khí hậu Tây Nguyên.
8
Nhiệt độ trung bình hàng năm 2010 là 26,4
0
C. Số giờ nắng cả năm 2010 là 2341,9 giờ. Khí hậu chia
thành hai mùa rõ rệt, mùa mƣa từ tháng 5 đến tháng 11 (thời gian mƣa nhiều nhất là vào tháng 10
và tháng 11), mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau (mƣa ít nhất vào tháng 3 và tháng 4), lƣợng
mƣa trung bình hàng năm 2010 là 1329 mm, số ngày mƣa trung bình năm là 144 ngày, có thể gây lũ
quét. Độ ẩm không khí bình quân năm 2010 khoảng 79% [25,33].
Do dãy núi phía Đông Bắc và Tây Nam án ngữ, ngăn cản hai luồng gió mùa thổi vào nên
khí hậu ở đây nóng hơn, lƣợng mƣa nhỏ hơn, không khí có độ ẩm không khí thấp hơn so với các địa
bàn khác trong tỉnh. Nhƣ vậy, thị xã Ayun Pa có khí hậu nóng nhất trong vùng, vừa mang tính nhiệt
đới nóng, ẩm vừa mang khí hậu cao nguyên với hai mùa mƣa nắng rõ rệt nên rất thuận lợi cho phát
triển và đa dạng hoá các cây trồng vật nuôi. Tuy nhiên về mùa mƣa thƣờng gây ngập lụt, xói lở
(nhất là khu vực ven sông suối); còn mùa khô nóng gay gắt, nhiệt độ cao thƣờng gây hạn hán ảnh
9
nhằm bảo vệ đất.
b) Thực vật
Chê độ nhiệt ẩm cũng nhƣ các loại đất hiện diện trong vùng là điều kiện cơ bản tạo ra các
thảm thực vật tự nhiên khá độc đáo của vùng.
Thảm thực vật rừng ở Ayun Pa gồm hai kiểu rừng:
i) Kiểu rừng nguyên sinh ít bị tác động: diện tích còn rất nhỏ, chủ yếu nằm trên các dạng địa
hình cao thuộc kiểu rừng kín lá rộng thƣờng xanh mƣa ẩm á nhiệt đới núi thấp, phân bố chủ yếu
khu vực phía đông nam tỉnh (phần giáp phía xã Uar, huyện Krông Pa). Khoảng độ cao này, nhiệt độ
trung bình năm khoảng 21 - 22
0
C, lƣợng mƣa tăng lên và số tháng khô hạn giảm đi so với những
vùng thấp hơn nên thảm thực vật ở đây phong phú hơn.
ii) Kiểu rừng thứ sinh nhân tác, chiếm phần lớn diện tích rừng của khu vực, rất nghèo về trữ
lƣợng và thể loại, bao gồm hai kiểu thảm thực vật sau:
- Rừng kín cây lá rộng, rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới: phân bố ở các khu vực núi thấp (từ 500 -
1233m). Bao gồm: rừng kín, cây bụi và lúa (lúa nƣơng).
- Rừng thƣa cây lá rộng, rụng lá, khô nhiệt đới: phân bố ở khu vực đồi cao (200 - 500m) và
thung lũng giữa núi (<200m). Bao gồm: rừng thƣa, trảng cỏ, rừng trồng, cây lâu năm, cây hàng năm
và lúa.
Do ảnh hƣởng của địa hình và khí hậu nên vùng rừng của Ayun Pa có rừng khộp, đây là
rừng theo mùa, các loài cây sinh trƣởng theo nhịp điệu không liên tục, chủ yếu là các cây họ Dầu
(Dipterocarpaceae) - những loài cây thƣờng có chiều cao thấp, vỏ dày, đƣờng kính nhỏ.
Tuy có diện tích rừng rất lớn nhƣng nhìn chung, rừng ở Ayun Pa nghèo về thể loại, đa số là
cây họ dầu, diện tích rừng giàu phân bố ít ở vùng cao, xa trung tâm, khó khăn về giao thông nên
khai thác khó khăn.
2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội
2.2.1. Dân cư, lao động
nghiệp (20,7%), còn lại là đất khác (bảng 2.7 và bảng 2.8).
Bảng 2.7. Hiện trạng sử dụng đất qua các năm của thị xã Ayun Pa
Đơn vị: ha
STT
Các loại đất
Diện tích
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
TỔNG CỘNG
27.435,31
28.752,23
28.752,23
28.752,23
1
Đất sản xuất nông nghiệp
6.137,17
5.944,64
5.944,64
5.944,64
- Đất trồng cây hàng năm
5.319,13
5.069,31
5.069,31
5.294,64
- Đất trồng cây lâu năm
859,20
875,33
875,33
39,55
- Đất quốc phòng, an ninh
56,72
55,98
55,98
55,98
- Đất sản xuất kinh doanh
phi nông nghiệp
41,58
34,35
34,35
34,35
- Đất có mục đích sử dụng
1.269,84
1.284,45
1.284,45
1.284,45
- Đất tôn giáo, tín ngƣỡng
5,22
5,22
5,22
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa
29,12
29,12
29,12
- Đất sông suối và mặt nƣớc
chuyên dùng
- Đất đồi núi chƣa sử dụng
1.647,34
1.629,22
1.629,22
1.604,56
- Núi đá không có rừng cây
90,20
90,20
90,20
90,20
Nguồn: Niên giám thống kê thị xã Ayun Pa năm 2010.
2.2.3. Thực trạng phát triển kinh tế
Kể từ khi tách huyện Ayun Pa thành thị xã Ayun Pa và huyện Phú Thiện, tình hình phát
triển kinh tế - xã hội của thị xã đã có những bƣớc chuyển rõ rệt. Tổng giá trị sản xuất năm 2010 gấp
11
1,6 lần so với năm 2007, trong đó khu vực III có quy mô giá trị sản xuất năm 2010 gấp 1,9 lần so
với năm 2007, khu vực II tăng gấp 1,4 lần và khu vực I tăng gấp 1,3 lần so với năm 2007.
Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành thời kỳ 2007 - 2010 theo xu hƣớng giảm dần
tỷ trọng các ngành khu vực I và khu vực III, tăng dần tỷ trọng các ngành khu vực II. Cụ thể, tỷ
trọng ngành khu vực I giảm đi 0,6%, khu vực II tăng 6,1% và khu vực III giảm 5,6%.
Bảng 2.10. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất thời kỳ 2007 - 2010 của thị xã Ayun Pa
Đơn vị: %
Khu vực
Năm 2007
Năm 2008
Năm 2009
Năm 2010
Lớp
cảnh
quan
Đặc điểm hình thái phát sinh của các khối địa hình lớn quy định tính
đồng nhất của hai quá trình lớn trong chu trình vật chất bóc mòn và
tích tụ.
Tên gọi: lớp cảnh quan núi.
2
Phụ lớp
cảnh
quan
Đặc trƣng sự phân tầng, mức độ chia cắt của địa hình và các quá trình
địa lý bên trong của lớp, quyết định cƣờng độ và xu hƣớng các quá
trình trao đổi vật chất và năng lƣợng.
Tên gọi:
- Phụ lớp cảnh quan núi thấp, có độ cao trên 500m, phân bố ở một số
khu vực phía tây và phía nam Ayun Pa;
- Phụ lớp cảnh quan đồi cao, có độ cao từ 200 - 500m, chiếm diện tích
lớn, nằm rải rác ở phía tây, phía nam và một phần của phia đông
Ayun Pa;
- Phụ lớp cảnh quan thung lũng, có độ cao dƣới 200m, phân bố ở các
khu vực phía bắc và đông bắc Ayun Pa.
12
cảnh quan để làm rõ mối quan hệ của mỗi đơn vị cảnh quan trong toàn hệ thống.
Loại cảnh quan là những đơn vị đƣợc phân hoá trong hạng cảnh quan theo nền nhiệt ẩm -
thổ nhƣỡng và các quần xã thực vật phát sinh và hiện tại.
Mỗi loại cảnh quan sẽ đặc trƣng cho mối quan hệ tƣơng hỗ giữa các nhóm quần xã thực vật
phát sinh và hiện đại với các loại đất. Khu vực nghiên cứu phân hóa thành 38 loại cảnh quan với 9
quần xã thực vật phát triển trên 8 loại đất.
Kết luận chương 2:
Từ những nghiên cứu và phân tích đặc điểm điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực thị
xã Ayun Pa có thể rút ra một số các kết luận sau:
- Về điều kiện tự nhiên: Ayun Pa là khu vực có diện tích không lớn (28.752,4 ha - chiếm
1,9% diện tích tự nhiên của toàn tỉnh) nhƣng lại có sự phân hóa sâu sắc về các hợp phần thành tạo
cảnh quan: i) Vị trí Ayun Pa nằm trong khu vực vừa mang tính nhiệt đới nóng, ẩm vừa mang khí
hậu cao nguyên với hai mùa mƣa nắng rõ rệt, không chịu ảnh hƣởng của gió mùa đông bắc, có mùa
khô kéo dài, đây là khu vực khô nóng nhất tỉnh Gia Lai; ii) Lịch sử địa chất của khu vực Ayun Pa
đã phân chia lãnh thổ thành 11 vùng địa mạo có cấu trúc và địa hình khác nhau; iii) Sự tƣơng tác
giữa nền tảng rắn và nền tảng nhiệt ẩm cùng với các đặc điểm sinh khí hậu địa phƣơng và các hoạt
động nhân sinh đã tạo nên sự đa dạng về lớp phủ thổ nhƣỡng - quần xã sinh vật của khu vực nghiên
cứu.
- Về điều kiện kinh tế - xã hội: i) Là khu vực có mật độ dân cƣ không đồng đều, tập trung
chủ yếu ở khu vực nội thị với mật độ trung bình là 1.229 ngƣời/km
2
còn các khu vực ngoại thị diện
tích lớn thì mật độ chỉ có 55 ngƣời/km
2
(chủ yếu là dân tộc Jrai chiếm 89,3%), điều này dẫn đến
việc khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giữa các vùng chƣa hợp lí mà còn góp phần tăng sự
chênh lệch về kinh tế - xã hội giữa các vùng trong địa bàn nghiên cứu. ii) Cơ cấu giá trị sản xuất
theo ngành có xu hƣớng giảm dần tỷ trọng ngành khu vực I và khu vực III, tăng dần tỷ trọng ngành
phần phía nam độ dốc lớn nên không thích hợp cho phát triển nông nghiệp thuần túy, nên tập
trung nghiên cứu phát triển nông lâm kết hợp để tận dụng nguồn đất lâm nghiệp rộng lớn, để
tăng lớp phủ thực vật, điều hòa khí hậu, tăng chất lƣợng đất góp phần tăng thu nhập cho ngƣời
dân, nhất là khu vực ngoại thị (có phần lớn dân tộc Jrai sinh sống).
b) Nguồn lực kinh tế - xã hội và tài nguyên nhân văn
Thị xã Ayun Pa có tổng số dân là 36.612 ngƣời (năm 2010), trong đó dân tộc Kinh
chiếm 50,5 % và Jrai chiếm 48,2 %. Lao động chiếm 52,7 % tổng số dân. Lực lƣợng lao động
dồi dào, nhân dân trong thị xã cần cù, chịu khó, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất nông
nghiệp. Cơ cấu đất chủ yếu là đất lâm nghiệp (chiếm 61,12%) và đất nông nghiệp (chiếm
20,68%, trong đó đất trồng cây hàng năm chiếm 89,1%).
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi thế còn có một số hạn chế nhƣ: Trong cơ cấu sử dụng
đất còn nhiều tồn tại, tình trạng sử dụng đất còn manh mún, tình trạng thiếu nƣớc trong sản
xuất do khô hạn làm cho sản xuất nông nghiệp bị giảm sút về chất lƣợng; Sự phân bố bất hợp
lý về dân số làm cho việc khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giữa các vùng chƣa hợp lí
mà còn góp phần tăng sự chênh lệch về kinh tế - xã hội giữa các vùng trong địa bàn. Cơ sở hạ
tầng còn hạn chế, hệ thống thủy lợi chƣa thực sự đƣợc đầu tƣ cao, việc thâm canh tăng vụ còn
hạn chế. Chất lƣợng đƣờng giao thông còn xấu. Trình độ dân trí còn hạn chế, trình độ lao
động, sử dụng lao động, thu nhập và điều phối thu nhập, vốn sản xuất trong từng hộ gia đình
trên địa bàn xã còn nhiều bất cập. 15
3.1.2. Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông lâm nghiệp
3.1.2.1. Nguyên tắc, đối tượng, mục tiêu đánh giá cảnh quan thị xã Ayun Pa
Trên cơ sở nguyên tắc chung của đánh giá cảnh quan, thì khi đánh giá cảnh quan khu
vực nghiên cứu phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất của các ngành sản xuất nông nghiệp, lâm
nghiệp là chủ thể của quá trình đánh giá đƣợc dự kiến bố trí, phát triển trên từng đơn vị cảnh
quan và đặc điểm của các đơn vị cảnh quan là khách thể của quá trình đánh giá để xác định
mức độ thích hợp hay không thích hợp cho mục đích sử dụng. Sau đó cần đánh giá tổng hợp
cho các ngành nói trên để đƣa ra đƣợc định hƣớng sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và
nguyên, đồi thoải, đời lƣợn sóng, núi có độ dốc nhỏ .
- Nhóm các loại đất không mặn nhiều, phèn nhiều, không bạc màu trơ sỏi đá.
- Mức độ chia cắt địa hình nhỏ .
- Độ dốc địa hình nhỏ < 15
0
. Địa hình thoát nƣớc tốt, tƣới tiêu thuận lợi 16
- Giao thông thuận lợi.
1.Trồng trọt
- Tầng dày đất > 50 cm
- Độ dốc địa hình nhỏ < 15
0
- Thảm thực vật hiện tại là cây trồng hoặc bụi cỏ, không còn rừng.
- Kết von, đá ong trong đất 5% -10%
- Tổng nhiệt độ năm ≥ 7.000
0
C
- Tổng lƣợng mƣa năm ≥ 1.500 mm
- Độ dài mùa lạnh < 3 tháng
- Độ dài mùa khô < 5 tháng
2.Chăn nuôi
- Độ dốc địa hình 20
- Mức độ chia cắt địa hình thấp
- Gần nguồn nƣớc
- Thảm thực vật là cây bụi cỏ hay thảm cỏ dƣới tán rừng có khả năng làm thức
ăn tốt.
- Đất có tầng dày > 30 cm .
sử dụng
Số cảnh
quan đánh
giá
Mức độ thích
nghi
Loại cảnh quan
33
Rất thích nghi
9,12,15,16 17
Rừng sản
xuất
(S1)
Thích nghi (S2)
10,11,13,14,17,31
Kém thích nghi
(S3)
20,21,22,23,24,29,33,34
Trồng trọt
24
Rất thích nghi
(S1)
13,16,34,35
Thích nghi (S2)
4,10,11,15,17,26,27,28,31,33
dành cho cán bộ quản lý (03 phiếu) và hộ gia đình (40 phiếu) tại Ayun Pa cho thấy, các hợp
phần chủ đạo trong mô hình là rừng (ký hiệu R), ruộng (Rg), vƣờn (V), nƣơng rẫy (NR), ao
(A), chuồng (C), thủ công nghiệp (TCN) và các hợp phần phi nông lâm nghiệp khác (K).
Bảng 3.6. Mô hình kinh tế sinh thái hiện trạng thị xã Ayun Pa
STT
Mô hình kinh tế sinh thái
Số hộ (hộ)
Tỷ lệ (%)
1
Rg-NR
11
27.5
2
Rg-NR-V-C-TCN
5
12.5
3
V-C
5
12.5
4
R-V-C-TCN
4
10
5
V-A-C-TCN
3
7.5
6
Rg-NR-C
cứu
Mô hình kinh tế sinh thái của Ayun Pa chia làm hai khu vực khá rõ rệt: khu vực thung
lũng (phía bắc và đông bắc thị xã) và khu vực đồi núi thấp (phía tây, nam và tây nam).
a) Một số mô hình kinh tế sinh thái hộ gia đình điển hình vùng thung lũng Ayun Pa
- Mô hình kinh tế Vườn - Chuồng
Lấy ví dụ mô hình gia đình ông Nay Chuang (Buôn Ama Kinh, tổ 9, phƣờng Sông
Bờ). Mô hình này chỉ bao gồm hai hợp phần Vƣờn và Chuồng và quy mô nhỏ do diện tích ít,
đây là mô hình phổ biến.
Vƣờn chỉ trồng 100m
2
sắn và 200m
2
thuốc lá sử dụng lao động gia đình nên tiền lãi vụ
vừa rồi là 2.500.000đ, sắn thu hoạch phần lớn dùng làm thức ăn chăn nuôi. Quy mô chăn nuôi
nhỏ (8 con/năm), chi phí hết 2.000.000đ và lợi nhuận thu đƣợc là 3.000.000đ (hết 40 công).
Nhƣ vậy giá trị công lao động chăn nuôi của mô hình này thấp. Tuy nhiên, do tận dụng đƣợc
phế phẩm của quá trình nấu rƣợu làm thức ăn cho lợn nên đã giảm đƣợc một phần chi phí cho
chăn nuôi, làm tăng giá trị lợi nhuận và giá trị công lao động trong chăn nuôi.
- Mô hình kinh tế Ruộng - Vườn - Chuồng - Thủ công nghiệp
Lấy ví dụ mô hình gia đình ông Ksor Tit (thôn Chƣ Băh B, xã Chƣ Băh). Có 5 -7 hộ
gia đình đều có một cái mô hình tƣơng đối giống nhau. Mô hình này cũng bao gồm hai hợp
phần Vƣờn và Chuồng tuy nhiên quy mô lớn hơn.
Ngoài 2 hợp phần V - C giống mô hình trên, gia đình còn tham gia trồng lúa, và nấu
rƣợu. Trung bình một ngày gia đình nấu 10l rƣợu bán đƣợc 100.000đ trong đó chi phí mua
gạo hết 75.000đ. Một năm trung bình gia đình nấu khoảng 8 tháng, tức là lợi nhuận thu đƣợc
(không tính công lao động) là 6.000.000đ. Do có thể tận dụng bã rƣợu làm thức ăn cho lợn
nên mặc dù nghề nấu rƣợu tốn khá nhiều công lao động nhƣng gia đình vẫn tiếp tục làm.
Vƣờn chỉ trồng 500m
2
sắn sử dụng lao động gia đình nên tiền lãi vụ vừa rồi là
Trong vƣờn rộng gia đình trồng xen canh một số loại cây hoa màu sắn (trồng xung
quanh hang rào, rau màu và đậu (khoảng 120m
2
). Tổng chi phí năm vừa qua cho trồng hoa
màu là 840.000đ và tiền lãi thu về là 1.500.000đ. Sản phẩm thu đƣợc dùng trong sinh hoạt
hàng ngày và làm thức ăn trong chăn nuôi.
Trong diện tích ao khoảng 200m
2
, gia đình tiến hành thả cá, cá thu đƣợc gia đình chủ
yếu để ăn, ít khi bán. Tổng lợi nhuận thu đƣợc năm vừa qua của mô hình là 20.100.000đ. Đây
là một mô hình tuy diện tích không lớn nhƣng lại mang hiệu quả kinh tế tƣơng đối cao, phù
hợp với các khu vực nội thị.
b) Một số mô hình kinh tế sinh thái hộ gia đình điển hình vùng đồi núi thấp Ayun Pa
- Mô hình kinh tế Rừng - Vườn - Chuồng
Lấy ví dụ gia đình ông Siu Thiếp (buôn Rƣng Am Nhiu, xã Ia Rbol). Mô hình đƣợc
cấu thành từ các hợp phần rừng, vƣờn và chuồng, trong đó thu nhập chủ yếu là từ chăn nuôi
bò và lợn. Diện tích rừng trồng khoảng 0,5 ha, 5 đến 10 năm thu oạch một lần, tính trung bình
gia đình thu đƣợc 900.000đ/năm.
Thu nhập chủ yếu của gia đình là từ chăn nuôi bò và lợn. Gia đình nuôi 4 con bò với
hình thức là chăn thả, chi phí cho chăn nuôi bò là không nhiều do tận dụng đƣợc nguồn cỏ tự
nhiên và cây ngô sắn sau khi thu hoạch. Lợi nhuận mỗi năm thu đƣợc là 15.000.000đ. Còn về
đàn lợn, mỗi năm gia đình nuôi 2 lứa, mỗi lứa 8 con, thức ăn chủ yếu tận dụng các sản phẩm
nông nghiệp nhƣ ngô, sắn… Chi phí cho 2 lứa lợn: chi phí mua giống (2.400.000đ), chi phí 20
thức ăn và tiêm phòng (5.600.000đ), công lao động (60 công). Sản lƣợng lợn thịt thu đƣợc
trung bình mỗi lứa là 500 kg với giá bán 35.000đ/kg. Nhƣ vậy, nếu không tính tới công lao
động thì hàng năm thu nhập từ chăn nuôi lợn là 9.500.000đ.
Quyết Thắng, xã Ia Sao).
+ Gia đình bà Phạm Hiếu Thu:
Với diện tích 0,5 ha trồng lúa, năng suất 75 tạ/ha/vụ, số vụ là 2 vụ/năm, chi phí lúa
giống, phân bón, cày bừa và thuốc trừ sâu, mỗi năm gia đình thu đƣợc 7.000.000 đ. Gia đình
trồng 8 ha mía, bán cho nhà máy mía đƣờng Ayun Pa, năng suất 500 tạ/ha, số vụ là 01
vụ/năm, mỗi năm gia đình thu đƣợc lãi 18.000.000đ. Ngoài Ruộng - Nƣơng rẫy, gia đình còn
làm cày thuê, thu nhập cũng tƣơng đối cao 20.000.000 đ/năm.
+ Gia đình ông Rcom Tun:
Với diện tích 0,7 ha trồng lúa, năng suất 80 tạ/ha/vụ (loại lúa Q5), số vụ là 2 vụ/năm,
chi phí lúa giống, phân bón, cày bừa và thuốc trừ sâu, mỗi năm gia đình thu đƣợc 9.200.000 đ.
Gia đình trồng 0,45 ha ngô, năng suất 70 tạ/ha/vụ, gia đình không chăn nuôi nên toàn bộ số
ngô thu đƣợc bán, trừ toàn bộ chi phí gia đình thu đƣợc 6.000.000đ. 21
Nhƣ vậy, mô hình Ruộng - Nƣơng rẫy là mô hình đơn giản nhƣng đem lại hiệu quả
kinh tế cao, vốn đầu tƣ không cao.
* Nhận xét:
Kết quả phân tích 5 mô hình trên cho thấy Vƣờn và Chuồng là 2 hợp phần xuất hiện trong
4/5 mô hình và có mối quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sản xuất, Ruộng và Nƣơng rẫy
xuất hiện 2/5 mô hình nhƣng có tỷ lệ số hộ nhiều nhất. Vì vậy, muốn phát triển một trong hai loại
hình thì cần thiết phải phát triển các hợp phần đó.
Do đặc điểm điều kiện tự nhiên rất khắc nghiệt và chƣa đƣợc hƣớng dẫn kĩ thuật sản
xuất phù hợp nên sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trồng trọt. Kết quả
điều tra cho thấy ngƣời dân trồng chủ yếu ngô mà chƣa thể trồng các cây hoa màu, rau màu và
cây ăn quả khác, do đó sản phẩm chƣa mang tính hàng hóa, chủ yếu để làm thức ăn phục vụ
chăn nuôi. Mặt khác, do diện tích canh tác nhỏ nên tổng thu nhập từ trồng trọt của các hộ rất
nhỏ. Để mở rộng quy mô một cách hợp lý cần phải có giải pháp quy hoạch và quản lý của địa
phƣơng.
Dựa trên kết quả phân tích, ta có thể thấy mô hình Rg-NR đem lại giá trị tổng thu nhập
Từ các kết quả đánh giá mức độ thích nghi của các loại cảnh quan trên địa bàn Ayun
Pa cho từng hoạt động sản xuất: nông nghiệp và lâm nghiệp, tác giả đã đề xuất một số hƣớng
sử dụng hợp lý không gian lãnh thổ cho 2 loại hình sản xuất này nhƣ sau:
Bảng 3.7. Một số định hướng khai thác và sử dụng các dạng cảnh quan thị xã Ayun Pa
cho phát triển nông - lâm nghiệp
Loại cảnh quan
Đặc điểm chung
Chức năng
Hướng sử dụng
1,3,5,6
Khu vực rừng kín lá rộng
ít bị tác động vùng núi
thấp
Phòng hộ và bảo tồn
đa dạng sinh học
Bảo vệ rừng và đa dạng
sinh học
9,12,14,19,22,252
9,30,36
Khu vực rừng thƣa và
trảng cỏ vùng đồi và
thung lũng
Phục hồi tự nhiên và
khai thác kinh tế
Đầu tƣ cải tạo đất cho
phát triển mô hình nông
- lâm nghiệp kết hợp
15,21
Khu vực có rừng trồng
Phục hồi tự nhiên và
phát triển bền vững, đảm bảo cân bằng sinh thái, bên cạnh những giải pháp chung là xây dựng
các chiến lƣợc, kế hoạch và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng, trên
cơ sở đặc điểm tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng cần có những giải pháp cụ thể hơn trong
việc sử dụng đất nông nghiệp đó là:
Trong quy hoạch sử dụng đất: Hiện tại khả năng đáp ứng của cảnh quan đối với các
mục đích sử dụng đã đƣợc quy hoạch gần nhƣ tối đa, vì vậy cần nghiên cứu để kết hợp nông - 23
lâm nghiệp và sản xuất có hiệu quả. Hạn chế việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông
nghiệp hoặc lâm nghiệp sang mục đích khác. Cần ổn định đƣợc quy hoạch sử dụng đất và có
quy hoạch chi tiết cho từng mục đích sử dụng đất nhằm chủ động trong khai thác, sử dụng,
bảo vệ tài nguyên đất.
Đối với đất nông nghiệp: Trên cơ sở hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp và tiềm năng
đất chƣa khai thác, cần tiếp tục chuyển đổi cơ cấu cây trồng và khai hoang mở rộng diện tích
đất sản xuất nông nghiệp trên các địa bàn còn tiềm năng. Giải pháp chủ yếu là tập trung vào
chuyển đổi cây trồng, mùa vụ, tăng hệ số gieo trồng, tăng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
Đầu tƣ vào thâm canh, sử dụng giống mới, kĩ thuật công nghệ tiên tiến để tăng năng suất, sản
lƣợng và giá trị sản phẩm; đa dạng hoá cây trồng, đƣa những cây trồng mới có giá trị kinh tế
cao vào sản xuất. Đồng thời tiếp tục khai thác đất chƣa sử dụng ở những nơi còn tiềm năng để
đƣa vào sản xuất nông nghiệp.
Trong quá trình sử dụng, đất cần phải đƣợc đầu tƣ thâm canh cải tạo đất, tăng cƣờng
bón phân hữu cơ, phân vi lƣợng, vi sinh. Cần nghiên cứu để hoàn thiện hệ thống cây trồng
cho phù hợp với từng loại đất
Đẩy mạnh phát triển cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, tạo ra những vùng sản
xuất mang tính hàng hoá. Tập trung phát triển một số loại cây trồng làm nguyên liệu cho chế
biến công nghiệp và xuất khẩu nhƣ: sắn, ngô, mía, cây ăn quả trên các cảnh quan đồi cao và
thung lũng giữa núi.
b) Đối với lâm nghiệp
Bảo vệ và phát triển rừng: Đây là biện pháp không những bảo vệ đất lâm nghiệp mà
trong khu vực vừa mang tính nhiệt đới nóng, ẩm vừa mang khí hậu cao nguyên với hai mùa mƣa
nắng rõ rệt, không chịu ảnh hƣởng của gió mùa đông bắc, có mùa khô kéo dài, đây là khu vực khô
nóng nhất tỉnh Gia Lai; Sự tƣơng tác giữa nền tảng rắn và nền tảng nhiệt ẩm cùng với các đặc
điểm sinh khí hậu địa phƣơng và các hoạt động nhân sinh đã tạo nên sự đa dạng về lớp phủ thổ
nhƣỡng - quần xã sinh vật của khu vực nghiên cứu.
2. Là khu vực có mật độ dân cƣ không đồng đều, tập trung chủ yếu ở khu vực nội thị, điều
này dẫn đến việc khai thác tài nguyên và sử dụng lao động giữa các vùng chƣa hợp lí mà còn góp
phần tăng sự chênh lệch về kinh tế - xã hội giữa các vùng trong địa bàn nghiên cứu. Cơ cấu giá trị
sản xuất theo ngành có xu hƣớng giảm dần tỷ trọng ngành khu vực I và khu vực III, tăng dần tỷ
trọng ngành khu vực II.
3. Sự phân hóa các điều kiện tự nhiên và cảnh quan khu vực thị xã Ayun Pa bị chi phối
bởi các quy luật địa đới và phi địa đới (đai cao), quy định những nét đặc thù riêng của cảnh quan
Ayun Pa với hệ thống phân loại gồm 04 cấp: Lớp cảnh quan → Phụ lớp cảnh quan → Kiểu cảnh
quan → Loại cảnh quan. Kết quả nghiên cứu cấu trúc cảnh quan đƣợc thể hiện trên bản đồ cảnh
quan khu vực Ayun Pa tỉ lệ 1:50.000 với 01 lớp cảnh quan, 03 phụ lớp cảnh quan, 03 kiểu cảnh
quan, 38 loại cảnh quan.
4. Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm cảnh quan và hiện trạng phát triển cũng nhƣ định
hƣớng của nền kinh tế hiện nay kết hợp với mục tiêu ban đầu, luận văn đã lựa chọn đánh giá cảnh
quan cho mục đích phát triển các ngành nông nghiệp và lâm nghiệp. Trong nông nghiệp tác giả
chú trọng đánh giá cho hai lĩnh vực trồng trọt và chăn nuôi một cách cụ thể. Đánh giá cảnh quan
trên cơ sở tiến hành xác định nhu cầu sinh thái và lựa chọn các tiêu chí, phân cấp chỉ tiêu, xác
định trọng số. Kết quả đánh giá thành phần đƣợc xác định ở 3 cấp độ, biểu hiện trên các bảng biểu
đánh giá thành phần.
5. Từ việc phân tích các mô hình kinh tế hiện trạng khu vực, có thể thấy rằng: đa số các
mô hình sản xuất trong khu vực còn ở quy mô hộ gia đình, sản xuất vẫn còn mang tính tự cung, tự
cấp. Các mô hình kinh tế khá đơn giản, phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên, chƣa đƣợc áp
dụng khoa học kỹ thuật nên năng suất thấp. Cần kết hợp các hợp phần có hiệu quả, tạo ra một mô