ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Nguyễn Thị Thanh Hoa
NGHIÊN CỨU XÁC LẬP MỘT SỐ MÔ HÌNH HỆ KINH
TẾ SINH THÁI PHỤC VỤ ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN
BỀN VỮNG THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Giáo viên hướng dẫ
n: PG
S.TS .Phuấn
Hà Nội - 2012ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
viên và khuyến khích em trong suốt thời công tác tại Viện Địa lý và thực hiện luận
văn.
Tác giả cũng xin cảm ơn sự hợp tác, giúp đỡ của UBND tỉnh Gia Lai, UBND
thị xã Ayun Pa và các phòng ban trong quá trình thực thực địa tại Tây Nguyên để
thực hiện luận văn này.
Cảm ơn sự động viên, nhiệt tình, ủng hộ của gia đình và bạn bè trong suốt
quá trình học tập và thực hiện khóa luận này.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2012.
Học viên Nguyễn Thị Thanh Hoa ii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. TÍNH CẤP THIẾT 1
2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU 2
4. CƠ SỞ DỮ LIỆU 3
5. KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 3
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN 4
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÔNGTRÌNH NGHIÊN
CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 5
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ MÔ HÌNH KINH TẾ SINH THÁI 5
1.1.1. Khái niệm chung về kinh tế sinh thái và mô hình hệ kinh tế sinh thái 5
1.1.2. Nguyên tắc nghiên cứu và phân loại hệ mô hình kinh tế sinh thái 6
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN 10
CHƢƠNG 3. ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP NGUỒN LỰC TỰ NHIÊN, KINH TẾ -
XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN LÀM CƠ SỞ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT CÁC MÔ
HÌNH KINH TẾ SINH THÁI THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI 57
3.1. ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP ĐIỀU KIỆN ĐỊA LÝ CHO VIỆC ĐỀ XUẤT MÔ
HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI THỊ XÃ AYUNPA, TỈNH GIA LAI 57
3.1.1. Đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và tài nguyên
nhân văn 57
3.1.2. Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông lâm nghiệp 58
3.1.2.1. Nguyên tắc, đối tƣợng, mục tiêu đánh giá cảnh quan thị xã Ayun Pa
58
3.1.2.2. Hệ thống tiêu chí và chỉ tiêu đánh giá 59 iv
3.1.2.3. Kết quả đánh giá 62
3.2. PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC MÔ HÌNH HỆ
KINH TẾ SINH THÁI TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ AYUN PA, TỈNH GIA LAI 69
3.2.1. Phân tích cấu trúc các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện trạng 69
3.2.2. Đánh giá hiệu quả kinh tế các mô hình hệ kinh tế sinh thái trên địa bàn
thị xã Ayun Pa phục vụ xây dựng hệ mô hình kinh tế sinh thái phù hợp cho lãnh
thổ nghiên cứu 73
3.3. XÁC LẬP MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI BỀN VỮNG THỊ XÃ
AYUN PA, TỈNH GIA LAI 80
3.3.1. Cơ sở đề xuất các mô hình KTST 80
3.3.2. Định hướng sử dụng cảnh quan và đề xuất mô hình hệ kinh tế sinh thái
bền vững khu vực thị xã Ayun Pa 81
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC I
11 đến tháng 4 năm sau) của Ayun Pa 35
Bảng 2.3. Số ngày nắng nóng (nhiệt độ cao nhất ≥ 35
0
c, độ ẩm thấp nhất dƣới 50%)
và gió tây khô nóng trong các tháng chú ý của thị xã Ayun Pa so với thị xã An Khê
và thành phố Pleiku 36
Bảng 2.4. Số ngày có dông trong các tháng tại thị xã Ayun Pa so với thị xã An Khê
và thành phố Pleiku 37
Bảng 2.5. Dân số và mật độ dân số năm 2010 của thị xã Ayun Pa 38
Bảng 2.6. Một số chỉ tiêu về lao động năm 2010 của thị xã Ayun Pa 39
Bảng 2.7. Hiện trạng sử dụng đất qua các năm của thị xã Ayun Pa 40
Bảng 2.8. Diện tích đất, phân loại đất theo xã, phƣờng của thị xã Ayun Pa năm 2010
41
Bảng 2.9. Tổng giá trị sản xuất giai đoạn năm 2007 - 2010 của thị xã Ayun Pa 42
Bảng 2.10. Chuyển dịch cơ cấu giá trị sản xuất thời kỳ 2007 - 2010 của thị xã Ayun
Pa 42
Bảng 2.11. Một số chỉ tiêu phát triển ngành nông nghiệp thời kỳ 2007 - 2010 của
thị xã Ayun Pa [33] 44
Bảng 2.12. Diễn biến chất lƣợng môi trƣờng nƣớc mặt khu vực cầu bến mộng, thị
xã Ayun Pa qua các năm (2006 - 2010) 51
Bảng 2.13. Diễn biến chất lƣợng môi trƣờng không khí tại điểm k1 và k2, thị xã
Ayun Pa qua các năm (2006 - 2010) 52
Bảng 2.14. Hệ thống phân loại cảnh quan khu vực thị xã Ayun Pa 54
Bảng 3.1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá tổng hợp cho các ngành sản xuất [7] 60
Bảng 3.2. Kết quả tổng hợp sau quá trình đánh giá 63 vii
Bảng 3.3. Kết quả đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu cho phát triển rừng 64
Bảng 3.4. Kết quả đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu cho phát triển trồng trọt 66
xuất đƣợc những bƣớc đi thích hợp, các giải pháp tổng thể và cụ thể phù hợp cho
phát triển bền vững, lâu dài của vùng. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài
nghiên cứu với tên gọi: “Nghiên cứu xác lập một số mô hình kinh tế sinh thái phục
vụ định hướng phát triển bền vững thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai”. Thông qua việc
nghiên cứu thực hiện đề tài này, học viên tin rằng với phƣơng pháp tiếp cận tổng
hợp, với các nội dung nghiên cứu chi tiết, cụ thể và các kết quả nghiên cứu mang
2
tính đầy đủ, đồng bộ, luận văn sẽ có thể góp phần giải quyết một cách đầy đủ, đồng
bộ những yêu cầu cấp bách, giải quyết đƣợc các vấn đề quan trọng nảy sinh trong
phát triển theo hƣớng bền vững của vùng trong tƣơng lai. Các kết quả của đề tài sẽ
là cơ sở khoa học cho việc hoạch định không gian sử dụng hợp lý tài nguyên thiên
nhiên và bảo vệ môi trƣờng.
2. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Mục tiêu
Xây dựng các căn cứ khoa học trên cơ sở phân tích và đánh giá tổng hợp
nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân văn để xác lập một số mô hình hệ kinh
tế sinh thái phục vụ định hƣớng phát triển bền vững thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
Nhiệm vụ
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về mô hình hệ kinh tế sinh thái;
- Phân tích và đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân
văn thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai;
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả các mô hình hệ kinh tế sinh
thái hiện có tại khu vực nghiên cứu;
- Xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của khu
vực nghiên cứu.
3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU
Phạm vi
Gia Lai;
- Xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp với tiềm năng của thị
xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
Ý nghĩa
- Vận dụng lý thuyết đánh giá tổng hợp xác định tiềm năng của thị xã Ayun
Pa kết hợp với đánh giá thích nghi sinh thái làm cơ sở cho việc xác lập mô hình hệ
kinh tế sinh thái.
4
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý hoạch
định các chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế, đồng thời sử dụng hợp lý tài nguyên
và môi trƣờng thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
6. CẤU TRÚC LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chƣơng:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài
Chương 2: Đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và kinh tế -
xã hội thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai
Chương 3: Đánh giá tổng hợp nguồn lực tự nhiên, kinh tế - xã hội và nhân
văn làm cơ sở đề xuất các mô hình kinh tế sinh thái thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai.
5
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN
CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
- nơi diễn ra hoạt động sinh hoạt, sản xuất, khai thác, sử dụng tài nguyên của con
người [15].
Hình 1.1. Cấu trúc và mối liên hệ giữa các hợp phần trong mô hình hệ kinh tế
sinh thái [9]
1.1.2. Nguyên tắc nghiên cứu và phân loại hệ mô hình kinh tế sinh thái
a) Nguyên tắc nghiên cứu mô hình hệ kinh tế sinh thái
Các mô hình hệ kinh tế sinh thái đƣợc xây dựng trên cơ sở: (1) Kiểm kê,
đánh giá hiện trạng môi trƣờng, tài nguyên và tiềm năng sinh học, bao gồm công tác
điều tra tự nhiên, điều tra kinh tế xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức sản xuất
xã hội; (2) Phân tích chính sách và chiến lƣợc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi
trƣờng ; (3) Hoàn thiện các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất năng lƣợng) và
cơ chế sinh học (theo chu trình sinh - địa - hoá) [7].
Phân hệ tự nhiên:
- Năng lƣợng mặt trời
- Địa chất - địa hình
- Khí hậu - thủy văn
- Thổ nhƣỡng - sinh vật
Phân hệ xã hội:
Hình 1.2. Sơ đồ các bước đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái [11]
Khi tiến hành phân tích mô hình kinh tế sinh thái cần đảm bảo 2 nguyên tắc
chính là: cấu trúc - chức năng và kinh tế - sinh thái.
Nguyên tắc cấu trúc - chức năng: phản ánh mối quan hệ biện chứng và tác
động qua lại của các yếu tố trong hệ thống. Nguyên tắc này hƣớng tới sự tập trung
chức năng chủ yếu của hệ đƣợc nghiên cứu.
Nguyên tắc kinh tế - sinh thái: phản ánh hoạt động của hệ thống phải đảm
bảo tính kinh tế, tính thích nghi sinh thái và tính giữ gìn môi trƣờng:
- Mô hình phải có tính khả thi, mang lại hiệu quả kinh tế cao về kinh tế và
môi trƣờng.
Nhu cầu
sinh thái
Hoạt động
khai thác
sử dụng
Nguồn thu,
nguồn chi
Bền vững
xã hội
Hiệu quả
kinh tế
vùng lãnh thổ, mà có thể làm ở hai mức: hộ gia đình và cộng đồng cấp thôn bản.
- Mục tiêu của mô hình cần đạt đƣợc là ổn định và nâng cao năng suất lao
động, cải thiện môi trƣờng, đảm bảo khả năng tự điều chỉnh, tự phát triển của toàn
bộ hệ thống.
Vì vậy để đảm bảo sử dụng đúng mức, ổn định và tránh những ảnh hƣởng
tiêu cực tới tài nguyên thiên nhiên, môi trƣờng và xã hội, góp phần giải quyết những
yêu cầu đặt ra của cộng đồng, con ngƣời cần tìm ra những hƣớng phát triển tối ƣu
nhất. Do đó, việc xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái hợp lý cho từng địa bàn là
cần thiết. Một mô hình chỉ có thể tồn tại khi nó thực sự mang lại hiệu quả kinh tế,
có nghĩa là nó đƣợc ngƣời dân chấp nhận và mô hình đi vào cuộc sống. Đó là cơ sở
của việc xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái hợp lý, đảm bảo nguyên tắc phát
triển bền vững.
b) Phương pháp nghiên cứu mô hình kinh tế sinh thái
Xuất phát từ bản chất của hệ kinh tế sinh thái, phƣơng pháp nghiên cứu mô
hình kinh tế sinh thái phải dựa trên cơ sở khái quát hoá các phƣơng pháp từ các
khoa học bộ phận có liên quan.
- Nhóm phƣơng pháp nghiên cứu và điều tra cơ bản ở thực địa, nhóm này
thuộc giai đoạn điều tra cơ bản.
- Nhóm phƣơng pháp phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng sử dụng tài
nguyên, nhóm này thuộc giai đoạn đánh giá hệ thống.
- Nhóm phƣơng pháp dự báo hoạt động của hệ, mô hình hoá. Nhóm này là
giai đoạn tối ƣu hoá hệ thống.
Đồng thời đối với các quy mô địa bàn nhỏ, có thể sử dụng các phƣơng pháp
nhƣ sau:
- Tiếp cận theo phƣơng diện chủ thể sản xuất
9
- Tiếp cận theo phƣơng diện kinh tế - xã hội và lịch sử
mục đích đạt hiệu quả kinh tế cao mà còn phải đạt mục tiêu phát triển bền vững, bảo
vệ môi trƣờng.
Tình bền vững của môi trƣờng đƣợc đánh giá từ nhiều góc độ nhƣng có thể
đƣợc đánh giá ở các khía cạnh:
+ Khả năng chống lại các hiện tƣợng tự nhiên cực đoan: xói mòn, ngập lụt
+ Nguy cơ suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trƣờng (đất, nƣớc, không
khí)… do hoạt động của con ngƣời.
+ Trong khía cạnh tích cực hơn còn thể hiện ở việc cải tạo môi trƣờng, sức
khỏe con ngƣời đƣợc đảm bảo …
- Chỉ tiêu bền vững xã hội: chỉ tiêu này đƣợc đánh giá thông qua tập quán,
truyền thống, phƣơng thức canh tác, khả năng tiếp thu khoa học ký thuật, khả năng
chấp nhận mô hình của ngƣời dân, thời gian tồn tại của mô hình, khả năng đầu tƣ
sản xuất…
Ngoài ra nó còn đƣợc đánh giá thông quá mức độ đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu
về mặt vật chất và tinh thần của con ngƣời ở mức độ nào; mức tăng trƣởng kinh tế
có đáp ứng đƣợc mức tăng dân số hay không; …
Một mô hình hệ kinh tế sinh thái bền vững khi đảm bảo đƣợc các chỉ tiêu
trên, một trong các chỉ tiêu không đảm bảo thì mô hình trở nên kém bền vững.
1.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ CẢNH QUAN
1.2.1. Khái niệm cảnh quan
Từ cuối thế kỷ thứ XIX đầu thế kỷ thứ XX trong các công trình nghiên cứu
về sự phân chia địa lý tự nhiên bề mặt Trái đất của một số nhà Địa lý học, cảnh
quan học bắt đầu đƣợc nghiên cứu. Trong khoa học địa lý tồn tại ba quan niệm về
cảnh quan tùy theo ý và nội dụng cần diễn đạt: Cảnh quan là một khái niệm chung
11
(F.N. Minkov, D.L. Armand ), là khái niệm loại hình (B.B. Plolƣnov ), là khái
niệm cá thể (N.A. Xoltsev, A.G. Ixatrenko, ) [11,21].
tổ hợp thổ nhưỡng và đại tổ hợp thực vật, và bao hàm một tổ hợp có quy luật của
những dạng địa lý và những đơn vị cấu tạo nhỏ khác theo một cấu trúc ngang đồng
nhất” [1]. Sau đó, A.G.Ixatrenco (1991) lại đƣa ra một định nghĩa ngắn gọn hơn:
”Cảnh quan là một địa hệ thống nhất về mặt phát sinh, đồng nhất về các dấu hiệu
địa đới và phi địa đới, bao gồm một tập hợp đặc trưng của các địa hệ liên kết bậc
thấp” [7].
Chính vì có nhiều quan điểm khác nhau về cảnh quan, nên không phải bất cứ
tên một cảnh quan nào cũng có nghĩa đồng nhất nhƣ nhau. Về bản chất, cảnh quan
là một địa tổng thể tự nhiên phức tạp vừa có tính đồng nhất, vừa có tính bất đồng
nhất. Tính đồng nhất của cảnh quan đƣợc hiểu ở chỗ là một lãnh thổ trong phạm vi
của nó, các thành phần và tính chất của mối quan hệ giữa các thành phần coi nhƣ
không đổi, nghĩa là đồng nhất. Tính bất đồng nhất đƣợc biểu thị ở hai mặt: thứ nhất,
cảnh quan bao gồm nhiều thành phần khác nhau về bản chất (địa hình, khí hậu, thuỷ
văn, đất, thực vật) tạo nên. Thứ hai, mỗi thành phần trong cảnh quan tồn tại ở nhiều
dạng khác nhau, ví dụ địa hình âm và dƣơng, và ngay trên một dạng địa hình dƣơng
(quả đồi - đƣợc coi nhƣ đồng nhất) cũng có sự khác nhau giữa đỉnh và sƣờn [11].
Do vậy, cần hiểu đúng bản chất cảu nó, không thể hiểu theo nghĩa tên gọi vì chƣa
có một định nghĩa thống nhất nào cho cảnh quan.
1.2.2. Hệ thống phân loại cảnh quan
Hệ thống phân loại và các chỉ tiêu các cấp dựa trực tiếp vào bản thân đối
tƣợng nghiên cứu. Đó là sự phân hoá thực tế theo không gian. Hệ thống phân loại là
một trong những khâu quan trọng để thành lập bản đồ cảnh quan. Đối với cảnh quan
học cho đến nay vẫn chƣa có một hệ thống phân loại nào đƣợc mọi ngƣời chấp nhận
là có đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho từng cấp. Hiện nay đã có rất
nhiều hệ thống phân loại chủ yếu là của các tác giả Liên Xô trƣớc đây nhƣ: hệ thống
phân loại của A.G. Ixatrenco (1961) đƣa ra 8 đơn vị là nhóm kiểu, kiểu, phụ kiểu,
lớp, phụ lớp, loại, phụ loại và thể loại; hay hệ thống phân loại cảnh quan của N.A.
Gvozdexki (1961), hệ thống phân loại cảnh quan của Nhikolaev…
Phụ kiểu cảnh quan
Các đặc trƣng cực đoan của sinh khí hậu ảnh hƣởng
lớn tới các điều kiện sinh thái
Hạng cảnh quan
Các kiểu địa hình phát sinh và nền nham
Loại (nhóm loại)
cảnh quan
Sự kết hợp của các quần xã thực vật phát sinh và hiện
tại với loại đất trong chu trình sinh học nhỏ
Dƣới loại cảnh quan là các đơn vị hình thái: dạng cảnh quan và diện cảnh quan.
Dạng cảnh quan là một hệ thống liên kết các cảnh diện, có chung một hƣớng
quá trình địa lý tự nhiên, phân bố trong một dạng trung địa hình trên một nền nham
đồng nhất.
14
Diện cảnh quan là đơn vị hình thái cảnh quan cơ sở, có điều kiện địa thế và
sinh cảnh đồng nhất, đƣợc đặc trƣng bởi một sinh vật quần. Một diện cảnh quan
đƣợc đặc trƣng bởi một nền nham, một kiểu vi khí hậu, một sinh vật quần đồng nhất
và một biến chủng thổ nhƣỡng. Địa thế là nhân tố chủ yếu của sự phân hoá diện
cảnh quan.
Tuỳ thuộc vào phạm vi, mục đích nghiên cứu và tỉ lệ bản đồ cảnh quan mà
lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp.
1.2.3. Đánh giá cảnh quan
a) Khái niệm
Bản chất của đánh giá cảnh quan là đánh giá tổng hợp các tổng thể tự nhiên
cho mục đích cụ thể nào đó. Đánh giá cảnh quan có vị trí và vai trò rất quan trọng
đối với các hoạt động phát triển kinh tế, giúp các nhà quản lý, quy hoạch đƣa ra
quyết định phù hợp với từng đơn vị lãnh thổ cụ thể. Vì vậy, đánh giá cảnh quan là
động tiêu cực.
Các dữ liệu đầu vào: các hoạt động khai thác sử dụng cảnh quan. Các thông
tin đầu ra: xác định đƣợc tính bền vững môi trƣờng của cảnh quan đối với các hoạt
động khai thác, sử dụng cảnh quan.
Đánh giá kinh tế cảnh quan là đánh giá hiệu quả kinh tế sử dụng cảnh quan
Các dữ liệu đầu vào: các số liệu liên quan đến chi phí, lợi ích thu đƣợc bằng
tiền trên đơn vị diện tích và đơn vị thời gian do sử dụng cảnh quan đem lại. Các
thông tin đầu ra: là các bảng biểu phản ánh hiệu quả kinh tế của hoạt động sử dụng
cảnh quan theo các phƣơng án.
Phân tích ảnh hưởng xã hội: phân tích dựa vào truyền thống, tập quán sử
dụng cảnh quan và khả năng tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật của cộng đồng và
không thể tách xa những định hƣớng phát triển kinh tế của nhà nƣớc.
Các dữ liệu đầu vào: đặc tính cộng đồng và các chính sách. Các thông tin đầu
ra: tính bền vững xã hội, những chỉ tiêu bền vững xã hội. Kết quả: Đánh giá tính
16
bền vững xã hội sẽ cho phép lựa chọn các phƣơng án sử dụng cảnh quan và đầu tƣ
thích hợp.
Đánh giá tích hợp là phân tích, so sánh, lựa chọn các địa tổng thể thuận lợi
cho một hoặc nhiều mục tiêu sử dụng.
Các sản phẩm ở đầu vào và đầu ra trong từng bƣớc đánh giá tạo thành một
quy trình đánh giá kinh tế sinh thái hoàn chỉnh, một bộ phận không thể thiếu và
đƣợc thực hiện trong giai đoạn tiền quy hoạch cảnh quan.
Mối quan hệ giữa mô hình kinh tế sinh thái và đánh giá cảnh quan: đánh
giá cảnh quan một khu vực cụ thể chính là dựa trên các nhân tố thành tạo cảnh quan
để đánh giá tiềm năng phát triển của khu vực đó, kết hợp với các mô hình kinh tế
sinh thái hiện trạng tại khu vực nghiên cứu làm cơ sở cho việc đề xuất các mô hình
kinh tế sinh thái bền vững.