Nghiên cứu xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái lưu vực đầm ô loan, tỉnh phú yên - Pdf 33

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÝ

Nguyễn Thị Huyền Thu

NGHIÊN CỨU XÁC LẬP MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI
LƢU VỰC ĐẦM Ô LOAN, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÝ

Nguyễn Thị Huyền Thu

NGHIÊN CỨU XÁC LẬP MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI LƢU
VỰC ĐẦM Ô LOAN, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SỸ
Ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường

Cán bộ hƣớng dẫn: GS.TS. Nguyễn Cao Huần

Hà Nội - 2015




MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết ..................................................................................... 1
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................... 2
3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu ...................................................... 2
4. Cơ sở dự liệu thực hiện luận văn ....................................................... 2
5. Kết quả và ý nghĩa của đề tài ............................................................ 3
6. Dự kiến cấu trúc luận văn ................................................................. 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU .............................................................................................................. 5
1.1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài ........................ 5
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái .. 5
1.1.2 Tổng quan các nghiên cứu về cảnh quan ............................. 8
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về lưu vực Đầm Ô Loan ........... 12
1.2. Một số vấn đề cơ bản về hệ kinh tế sinh thái ........................... 12
1.2.1. Hệ kinh tế sinh thái ........................................................... 12
1.2.2. Mô hình hệ kinh tế sinh thái - Phân loại và nguyên tắc
nghiên cứu .................................................................................. 15
1.3 Một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu và đánh giá cảnh quan
lƣu vực đầm Ô Loan .......................................................................... 24
1.3.1 Khái niệm cảnh quan và hệ thống phân vị phân loại cảnh
quan khu vực nghiên cứu ............................................................ 24


1.3.2 Đánh giá cảnh quan ........................................................... 25
1.4. Quan điểm, phƣơng pháp và quy trình nghiên cứu ................ 28
1.4.1. Quan điểm nghiên cứu ...................................................... 28

khu vực nghiên cứu............................................................................ 84
3.2.1. Phân tích cấu trúc các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện
trạng ........................................................................................... 84
3.3.2. Đánh giá hiệu quả các mô hình hệ kinh tế hiện trạng lưu
vực đầm Ô Loan phục vụ xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái .... 95
3.3 Xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái bền vững lƣu vực đầm Ô
Loan, tỉnh Phú Yên .......................................................................... 106
3.3.1 Cơ sở đề xuất các mô hình hệ kinh tế sinh thái ................ 106
3.3.2 Định hướng sử dụng cảnh quan và đề xuất mô hình hệ kinh
tế sinh thái lưu vực đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên. ........................ 107


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Trong giai đoạn hiện nay, các hoạt động phát triển kinh tế của con
người luôn gắn liến với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Các hoạt động
khai thác, sử dụng tài nguyên phần lớn chỉ chú trọng vào nhu cầu và lợi ích
kinh tế mà chưa quan tâm đến lợi ích về môi trường và sử dụng lâu bền tiềm
năng của tự nhiên. Hậu quả là nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng
cạn kiệt, các yếu tố tự nhiên bị biến đổi gây ảnh hưởng xấu tới môi trường và
cuộc sống của con người.
Địa lý ứng dụng là một trong những hướng quan trọng của khoa học địa
lý xuất phát từ những vấn đề thực tiễn. Trong đó, nghiên cứu và đánh giá tổng
hợp các điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của lãnh thổ cho các mục
đích phát triển kinh tế như: nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch,… có ý nghĩa to
lớn trong nền kinh tế quốc dân và dần trở thành luận cứ khoa học đáng tin cậy
cho quy hoạch lãnh thổ và tổ chức không gian phát triển sản xuất gắn với sử
dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.
Lưu vực Đầm Ô Loan thuộc huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, có địa hình
đa dạng từ đồi núi đến đồng bằng ven biển. Đầm Ô Loan còn được Bộ Văn

 Đánh giá thích nghi sinh thái các cảnh quan và xác định chức năng kinh
tế xã hội các tiểu vùng cảnh quan
 Định hướng sử dụng hợp lý các cảnh quan trên lưu vực.
 Đánh giá các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện trạng và đề xuất mô hình
kinh tế sinh thái phù hợp sự phân hóa của cảnh quan.
3. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên phạm vi toàn lưu vực (phần trên
cạn và phần đất ngập nước) đầm Ô Loan, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.
Phạm vi khoa học: Nghiên cứu đặc điểm cảnh quan và thực trạng mô
hình hệ kinh tế sinh thái điển hình; Xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái
phục vụ định hướng phát triển bền vững lưu vực đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên.
4. Cơ sở dự liệu thực hiện luận văn
2


 Sách, bài báo khoa học, tài liệu liên quan đến nghiên cứu cảnh quan
và mô hình hệ kinh tế sinh thái
 Các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến hướng nghiên
cứu
 Các kết quả điều tra khảo sát thực địa của đề tài KC.09.12/11-15 tại
khu vực nghiên cứu
 Các tài liệu của địa phương:
+ Quy hoạch nuôi trồng thủy sản tỉnh Phú Yên giai đoạn 2000 –
2001 định hướng đến năm 2020
+ Quy hoach tổng thể kinh tế xã hội huyện Tuy An đến năm 2020
+ Niêm giám thống kê, huyện Tuy An
+ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 huyện Tuy An
+ Quy hoach nông thôn mới xã An Hải, An Cư, An Hiệp, An Ninh
Đông, An Thạch, An Hòa
+ Các báo cáo kinh tế xã hội năm 2012, 2013, 6 tháng đầu năm

phục vụ định hướng phát triển bền vững lưu vực Đầm Ô Loan

4


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về mô hình hệ kinh tế sinh thái
a) Trên thế giới
Ở Liên Xô trước đây, đối với cấp quốc gia và vùng lãnh thổ, các nhà
địa lý đã có những công trình rất nổi tiếng nghiên cứu đề xuất các mô hình
được xem như các hình mẫu khá tốt về phát triển sản xuất, kinh tế, sử dụng
tổng hợp lãnh thổ, bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, có giá trị sử dụng
rất cao, rất hiệu quả cho nhiều nước, nhiều quốc gia khác trong khối Xã hội
Chủ nghĩa. Điển hình là Geraximov I.P (1979) trong công trình “Thiết kế Địa
lý học” đã phân chia lãnh thổ Liên Bang Nga thành 17 vùng địa lý và ở mỗi
vùng đã xác định các hướng riêng, các mô hình cụ thể cho phát triển. Ví dụ, ở
Vùng địa lý Viễn Đông (toàn bộ vùng ven biển Thái Bình Dương, nơi có
nhiều điểm khá tương đồng với điều kiện của Việt Nam) với đặc thù của khu
vực địa lý ven biển thường có khá nhiều thiên tai, các quá trình tai biến tự
nhiên, tác giả đã đề xuất những mô hình như “Mô hình phát triển nông - lâm
bền vững”, “Mô hình phát triển hệ thống dịch vụ - thương mại, bảo tồn các
Vườn quốc gia, Khu bảo tồn thiên nhiên”…Về cơ bản các kết quả nghiên cứu,
các mô hình phát triển được đề xuất của tác giả trong các công trình nghiên
cứu đó theo thời gian đã chứng minh chúng hoàn toàn đúng, rất phù hợp và
đến thời điểm hiện nay vẫn còn giữ nguyên giá trị và hiệu quả. Hay một ví dụ
khác, trong công trình nghiên cứu của tác giả Sishenko (1991): “Quy hoạch
thiết kế cảnh quan lãnh thổ Ucraina” đã đề xuất “Mô hình phát triển bền vững
ngành nông nghiệp” khu vực lãnh thổ Thảo nguyên Nam Ucraina, có kết hợp

vào cây ăn quả là chính, phân bố tại miền Nam Trung Quốc; Miền Bắc Trung
Quốc chủ yếu là mô hình hệ kinh tế sinh thái với các loại cây hoa màu là chính,
còn cây gỗ chỉ chiếm phần phụ. Ngoài ra, Trung Quốc còn phân loại theo các
vùng sinh thái để đảm bảo lợi ích theo kiểu kinh tế trang trại.

6


- Tại Philipines: phần lớn các gia đình áp dụng mô hình: vườn-chăn nuôi.
Ngoài ra, các mô hình nông, lâm kết hợp nhiều tầng cũng rất phổ biến nhằm tận
dụng tối đa tài nguyên đất và ánh sáng thúc đẩy hiệu quả chu trình của dưỡng chất,
hạn chế xói mòn.
b) Tại Việt Nam
Vận dụng cơ sở lý luận về hệ kinh tế sinh thái của một số tác giả nước
ta, nhiều công trình đã được nghiên cứu trên những đơn vị lãnh thổ cụ thể như:
Nguyễn Văn Vinh, Nguyễn Văn Nhưng, 1995 – 1996, Mô hình tự nhiên
– kinh tế xã hội vùng gò đồi Sáu Lán thuộc khu kinh tế mới Sen Bàng huyện
Bố Trạch tỉnh Quảng Bình.
Nguyễn Văn Trương và nnk, 1993-1998, “Mô hình làng sinh thái Triệu
Vân, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị” . Nghiên cứu đã quy hoạch chi tiết
từng ô, từng thửa theo hình bàn cờ với diện tích từ 1,5-2 ha. Mỗi ô có đai rừng
phòng hộ bên ngoài cùng các mương thoát nước, bên trong phát triển nông
nghiệp, thả cá, chuồng nuôi.
Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học về công nghệ,
1999, “Phát triển kinh tế - xã hội vùng đồi gò Bắc Trung Bộ” . Nghiên cứu đã
bước đầu coi hộ gia đình là 1 trong 4 chủ thể sản xuất chính: hộ gia đình, trang
trại, doanh nghiệp nông - lâm nghiệp, liên doanh với nước ngoài, đồng thời
xác lập mô hình hệ kinh tế sinh thái phù hợp cho từng tiểu vùng sinh thái.
Viện Sinh thái và sinh vật, 1995 – 2000, Mô hình vườn đồi tại vùng
kinh tế mới tây Đồng Hới.

tồn tại ba quan niệm về cảnh quan tùy theo ý và nội dụng cần diễn đạt: Cảnh
quan là một khái niệm chung (F.N. Minkov, D.L. Armand...), là khái niệm loại
hình (B.B. Plolưnov...), là khái niệm cá thể (N.A. Xoltsev, A.G. Ixatrenko,...)
[7,9].
Quan điểm cảnh quan là một khái niệm chung, đồng nghĩa với khái
niệm địa tổng thể của bất kỳ cấp nào, đồng nghĩa với địa hệ. Quan điểm cảnh
quan là khái niệm chung giống như khái niệm về thổ nhưỡng, địa hình, khí

8


hậu, thực vật và có thể sử dụng cho bất kỳ đơn vị phân loại hay phân vùng địa
lý địa lý tự nhiên.
Quan điểm cảnh quan được hiểu như là một khái niệm loại hình phản
ánh các khu vực tách biệt của lớp vỏ địa lý có nhiều dấu hiệu chung. Tính
đồng nhất tương đối và tính lặp lại được thể hiện rõ trong hệ thống phân loại
khi thành lập bản đồ cảnh quan. Khái niệm này được sử dụng cả cho các cảnh
quan tự nhiên và các cảnh quan bị biến đổi bởi hoạt động kinh tế của con
người. Cảnh quan là đối tượng cho việc áp dụng các biện pháp bảo vệ thiên
nhiên.
Khái niệm cảnh quan theo hướng loại hình được sử dụng trong nghiên
cứu cảnh quan khi nhiều yếu tố chưa định lượng một cách chắc chắn và cần
phải xác định tính đồng nhất tương đối để có thể gộp chúng vào một nhóm.
Điều này thuận lợi trong đo vẽ bản đồ cảnh quan khi ta không có điều kiện
khảo sát kỹ.
Quan điểm cảnh quan là một đơn vị cá thể: một lãnh thổ cụ thể, đồng
nhất về phát sinh và lịch sử phát triển, đặc trưng bởi nền địa chất, một kiểu khí
hậu đồng nhất, một phức hệ thổ nhưỡng, sinh vật quần đồng nhất và có một
cấu trúc xác định.
Trong nghiên cứu địa lý phục vụ thực tiễn sản xuất, cảnh quan vẫn

(quả đồi - được coi như đồng nhất) cũng có sự khác nhau giữa đỉnh và sườn.
Chính những điều nói trên đòi hỏi các nhà địa lý khi nghiên cứu, đánh
giá cảnh quan phải xuất phát từ quan điểm tổng hợp và quan điểm hệ thống.
*Về hệ thống phân loại cảnh quan
Hệ thống phân loại và các chỉ tiêu các cấp dựa trực tiếp vào bản thân
đối tượng nghiên cứu. Đó là sự phân hoá thực tế theo không gian. Hệ thống
phân loại là một trong những khâu quan trọng để thành lập bản đồ cảnh quan.
Đối với cảnh quan học cho đến nay vẫn chưa có một hệ thống phân loại nào
được mọi người chấp nhận là có đầy đủ cơ sở khoa học và chỉ tiêu cụ thể cho
từng cấp. Hiện nay đã có rất nhiều hệ thống phân loại chủ yếu là của các tác
giả Liên Xô trước đây như: hệ thống phân loại của A.G. Ixatrenco (1961) đưa
ra 8 đơn vị là nhóm kiểu, kiểu, phụ kiểu, lớp, phụ lớp, loại, phụ loại và thể
loại; hay hệ thống phân loại cảnh quan của N.A. Gvozdexki (1961), hệ thống
phân loại cảnh quan của Nhikolaev…
Ở Việt Nam, đã có một số công trình đã đưa ra hệ thống phân loại cảnh
quan trong khi nghiên như các tác giả như: Vũ Tự Lập (1976), Nguyễn Thành
Long và nnk (1983), Phạm Hoàng Hải (1997). Giữa các nghiên cứu này có
chung là tương đối thống nhất về hệ thống các đơn vị phân loại cảnh quan Việt
10


Nam: Hệ (phụ hệ CQ) - Lớp (phụ lớp CQ) - Kiểu (phụ kiểu CQ) - Hạng CQ Loại CQ.
Bảng 1.1. Hệ thống phân loại cảnh quan Việt Nam [4]
Đơn vị

Dấu hiệu đặc trƣng

Hệ cảnh quan

Nền bức xạ chủ đạo quyết định tính đới. Chế độ nhiệt

Các kiểu địa hình phát sinh và nền nham

Loại cảnh quan

Sự kết hợp của các quần xã thực vật phát sinh hiện tại
với loại đất

Dưới loại cảnh quan là các đơn vị hình thái: dạng cảnh quan và diện
cảnh quan.
Dạng cảnh quan là một hệ thống liên kết các cảnh diện, có chung một
hướng quá trình địa lý tự nhiên, phân bố trong một dạng trung địa hình trên
một nền nham đồng nhất.
Diện cảnh quan là đơn vị hình thái cảnh quan cơ sở, có điều kiện địa
thế và sinh cảnh đồng nhất, được đặc trưng bởi một sinh vật quần. Một diện
cảnh quan được đặc trưng bởi một nền nham, một kiểu vi khí hậu, một sinh

11


vật quần đồng nhất và một biến chủng thổ nhưỡng. Địa thế là nhân tố chủ yếu
của sự phân hoá diện cảnh quan.
Tuỳ thuộc vào phạm vi, mục đích nghiên cứu và tỉ lệ bản đồ cảnh quan
mà lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp.
1.1.3 Các công trình nghiên cứu về lƣu vực Đầm Ô Loan
Đối với khu vực ven biển Nam Trung Bộ nói chung, tỉnh Phú Yên nói
riêng, công tác điều tra nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên,
kinh tế - xã hội cũng như những đề tài mang tính tổng hợp đã thu được những
kết quả bước đầu quan trọng. Đã có nhiều dự án điều tra, nghiên cứu về các
hướng như địa chất, địa mạo, địa chất công trình, địa chất thủy văn, khí tượng,
thủy văn và tài nguyên nước mặt, thổ nhưỡng, sinh vật và đa dạng sinh học…

của mối tác động tương hỗ của các yếu tố tự nhiên và kinh - tế xã hội dưới sự
quản lý của con người sao cho các hoạt động này hoạt động theo quy luật sinh
thái và quy luật kinh tế nhằm đạt hiệu quả trong sử dụng tài nguyên thiên
nhiên, bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xã hội bền vững”.
Đầu

Các mối quan hệ nội tại

Đầu ra

T, K
vào

của hệ kinh tế sinh thái

X(t)

U(t)
Trong đó:
T - Các yếu tố tự nhiên
K - Các yếu tố kinh tế xã hội
X(t) - Các
phẩm
kinh thái
tế - xã(Đặng
hội và Trung
môi trường
Hình 1.3. Mô hình mô phỏng
hệsản
kinh

thường gọi là qui luật khách quan)…
* Phân hệ sản xuất: với phân hệ này con người đã tác động vào tự
nhiên. Nếu tác động không đúng quy luật của tự nhiên, sẽ làm đảo lộn chu
trình sinh - địa - hóa, và sẽ tạo ra sự “Mất cân bằng sinh thái”.

14


Hình 1.4. Sơ đồ cấu trúc và chức năng hệ kinh tế sinh thái-SEES (Phạm
Quang Anh,1983 “Bước đầu nghiên cứu hệ kinh tế sinh thái để giải quyết tận
gốc vấn đề “phát triển” và “Môi trường”ở Việt Nam nhiệt đới gió mùa”. Kỷ
yếu HNKH lần thứ I về Môi trường ở Việt Nam. Trang 49÷53).
1.2.2. Mô hình hệ kinh tế sinh thái - Phân loại và nguyên tắc nghiên cứu
Mô hình hệ kinh tế sinh thái là một hệ kinh tế sinh thái cụ thể được
thiết kế và xây dựng trong một vùng sinh thái xác định.
15


a) Nguyên tắc nghiên cứu mô hình hệ kinh tế sinh thái
Các mô hình hệ kinh tế sinh thái được xây dựng trên cơ sở:
(1) Kiểm kê, đánh gía hiện trạng môi trường, tài nguyên và tiềm năng
sinh học, bao gồm công tác điều tra tự nhiên, điều tra kinh tế xã hội, cơ sở vật
chất kỹ thuật và tổ chức sản xuất xã hội;
(2) Phân tích chính sách và chiến lược sử dụng tài nguyên và bảo vệ
môi trường;
(3) Hoàn thiện các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất năng lượng)
và cơ chế sinh học (theo chu trình sinh địa hóa) [4].
 Khi tiến hành phân tích mô hình kinh tế sinh thái cần đảm bảo 2
nguyên tắc chính là: cấu trúc - chức năng và kinh tế - sinh thái .
Nguyên tắc cấu trúc - chức năng: phản ánh mối quan hệ biện chứng và

Vì vậy để đảm bảo sử dụng đúng mức, ổn định và tránh những ảnh
hưởng tiêu cực tới tài nguyên thiên nhiên, môi trường và xã hội, góp phần giải
quyết những yêu cầu đặt ra của cộng đồng, con người cần tìm ra những hướng
phát triển tối ưu nhất. Do đó, việc xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái hợp
lý cho từng địa bàn là cần thiết. Một mô hình chỉ có thể tồn tại khi nó thực sự
mang lại hiệu quả kinh tế, có nghĩa là nó được người dân chấp nhận và mô
hình đi vào cuộc sống; cho nên, nó còn mang tính xã hội. Đó là cơ sở của việc
xây dựng mô hình hệ kinh tế sinh thái hợp lý, đảm bảo nguyên tắc phát triển
bền vững.
b) Phương pháp nghiên cứu mô hình kinh tế sinh thái
Xuất phát từ bản chất của hệ kinh tế sinh thái, phương pháp nghiên cứu
mô hình kinh tế sinh thái phải dựa trên cơ sở khái quát hoá các phương pháp
từ các khoa học bộ phận có liên quan.

17


- Nhóm phương pháp nghiên cứu và điều tra cơ bản ở thực địa: khảo sát
thực địa, đánh giá nhanh nông thôn. Nhóm này thuộc giai đoạn điều tra cơ bản.
- Nhóm phương pháp phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng sử
dụng tài nguyên: ví như phương pháp đánh giá đất đai của FAO, phân tích chi
phí - lợi ích, đánh giá tác động môi trường… Nhóm này thuộc giai đoạn đánh
giá hệ thống.
- Nhóm phương pháp dự báo hoạt động của hệ, mô hình hoá. Nhóm này
là giai đoạn tối ưu hoá hệ thống.
Đồng thời đối với các quy mô địa bàn nhỏ, có thể sử dụng các phương
pháp như sau:
- Tiếp cận theo phương diện chủ thể sản xuất.
- Tiếp cận theo phương diện KT - XH và lịch sử.
- Tiếp cận theo phương diện sinh thái và môi trường.

Chỉ tiêu về kinh tế: Chỉ tiêu về kinh tế thường được đánh giá ở mức sống
của người lao động thông qua thu nhập theo phương pháp phân tích chi phí lợi
ích. Chỉ tiêu này ngoài việc góp phần nâng cao mức sống của người dân còn
gián tiếp tác động tới nâng cao học vân, ý thức, sở thích… cuả người dân.
Chỉ tiêu bền vững môi trường: Mô hình hệ kinh tế sinh thái không chỉ với
mục đích đạt hiệu quả kinh tế cao mà còn phải đạt mục tiêu phát triển bền vững,
bảo vệ môi trường.
Tình bền vững môi trường được đánh giá từ nhiều góc độ nhưng có thể
được đánh giá ở các khía cạnh:
+ Khả năng chống lại các hiện tượng tự nhiên cực đoan: xói mòn, ngập lụt
+ Nguy cơ suy thoái tài nguyên và ô nhiễm môi trường (đất, nước,
không khí)… do hoạt động của con người.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status