NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ XÁC LẬP MÔ HÌNH HỆ KINH TẾ SINH THÁI KHU VỰC TÂY NAM HUYỆN CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI - Pdf 36

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Lê Thị Thu

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ
QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ XÁC LẬP MÔ HÌNH HỆ
KINH TẾ SINH THÁI KHU VỰC TÂY NAM HUYỆN CHƯƠNG
MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

Lê Thị Thu

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI PHỤC
VỤ QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP VÀ XÁC LẬP MÔ HÌNH
HỆ KINH TẾ SINH THÁI KHU VỰC TÂY NAM HUYỆN
CHƯƠNG MỸ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60850103

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Cao Huần


* Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá các hệ thống sử dụng đất đai chủ yếu cho quy hoạch sử dụng đất trong
nông nghiệp và xác lập mô hình kinh tế sinh thái phục vụ quản lý đất đai khu vực phía
tây nam huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội.
* Nội dung nghiên cứu


- Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đánh giá hệ thống sử dụng đất đai
nông nghiệp và mô hình hệ kinh tế sinh thái
- Nghiên cứu đánh giá kinh tế- sinh thái các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
chủ yếu tại khu vực.
- Nghiên cứu đánh giá các mô hình kinh tế sinh thái tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất hướng điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất của khu vực theo hướng bền
vững và xác lập một số mô hình hệ kinh tế sinh thái (nông hộ, nông trại) phục vụ quản
lý đất đai phù hợp với tiềm năng của khu vực nghiên cứu.
* Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thu thập thông tin
- Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp các hộ gia đình, cá nhân đang sử
dụng đất
- Phương pháp xử lý, tổng hợp thông tin, số liệu
- Phương pháp bản đồ và GIS
* Kết quả đạt được
- Bản đồ đơn vị đất đai và bản đồ hệ thống sử dụng đất đánh giá các hệ thống sử
dụng đất đai chủ yếu trên địa bàn.
- Nghiên cứu và đánh giá các mô hình hệ kinh tế sinh thái hiện hữu tại khu vực
nghiên cứu và từ đó xác lập mộ số mô hình kinh tế sinh thái (nông hộ, nông trại) phù
hợp với tiềm năng của khu vực.
- Đề xuất được các giải pháp quản lý sử dụng đất khu vực tây nam huyện
Chương Mỹ.
* Cấu trúc Luận văn: Gồm 3 chương chính như sau

chất) riêng và nó thích hợp với một loại hình sử dụng đất nhất định[5].
Đặc tính và tính chất đất đai
Là các đặc thù của bản đồ đơn vị đất đai, là cơ sở xác định các yêu cầu sử dụng
đất của các loại hình sử dụng đất trong đánh giá đất.
Đặc tính đất đai
Là các thuộc tính của đất tác động đặc biệt đến tính thích hợp của đất đó đối với
loại hình sử dụng đất riêng biệt. Đặc tính đất đai của bản đồ đơn vị đất đai có thể thể
hiện rõ rệt các điều kiện đất cho loại hình sử dụng đất. vì vậy nó chính là câu trả lời
trực tiếp cho các yêu cầu sử dụng đất của các loại hình sử dụng đất. Các đặc tính đất
đai như: chế độ nhiệt, chế độ ẩm, khả năng thoát nước, chế độ cung cấp dinh dưỡng,
độ sâu của lớp đất…
Tính chất đất đai
Là các thuộc tính của đất có thể đo đếm hoặc ước tính như trung bình lượng
mưa hằng năm, độ chua đất (pH), độ sâu lớp đất,…
Tính chất của đất được dùng để phân biệt các đơn vị bản đồ đất đai với nhau và
mô tả các đặc tính đất đai. Các tính chất đất đai có thể ảnh hưởng cùng lúc đến một vài


đặc tính đất đai và từ đó ảnh hưởng đến tính thích hợp đất khác nhau. Ví dụ như thành
phần cơ giới ảnh hưởng đến độ ẩm của đất,…
b. Loại hình sử dụng đất (Land Use Type)
Loại hình sử dụng đất là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng
đất đối với những phương thức quản lý sản xuất trong các điều kiện kinh tế - xã hội và
kỹ thuật được xác định.
Tùy theo mức độ nghiên cứu và yêu cầu đánh giá mà loại hình sử dụng đất phân
loại thành: loại hình sử dụng đất chính và loại hình sử dụng đất
Loại hình sử dụng đất chính (Major type of Land Use)
Là sự phân nhỏ của sử dụng đất trong khu vực hoặc vùng nông lâm nghiệp, chủ
yếu dựa trên cơ sở sản xuất các cây trồng hàng năm, lâu năm, lúa, đồng cỏ, rừng, khu
giải trí nghỉ ngơi, động vật hoang dã và của công nghệ được dùng đến như tưới nước,

ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên.
- Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống
người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
1.2.3. Đánh giá, phân hạng đất đai theo FAO
Khái niệm về đánh giá đất
Theo Docutraev đã định nghĩa về đánh giá đất như sau: “Đánh giá đất là đánh
giá khả năng sản xuất của đất dựa vào độ màu mỡ của đất”.
Còn theo A. Yonng (Anh) cho rằng: “Đánh giá đất là quá trình đoán định tiềm
năng của đất đai cho một hoặc một số loại hình sử dụng đất được đưa ra để lựa chọn”.
FAO đã đề xuất định nghĩa về đánh giá đất như sau: “Đánh giá đất là một quá
trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt/khoanh đất cần đánh giá với
những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có.
Kết hợp 3 quan điểm nêu trên, có thể định nghĩa đánh giá đất một cách đầy đủ
hơn như sau: đánh giá đất đai là đánh giá tiềm năng của đất đai cho một hoặc một số
loại hình sử dụng đất được lựa chọn dựa trên cơ sở so sánh, đối chiếu những tính chất
vốn có của khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại hình sử dụng
đất yêu cầu cần phải có.
Các bước chính trong đánh giá đất đai
Việc lựa chọn,(3)bố trí các LUT nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao và bền vững
Xác

trên cơ sở kết quả đánh
định giá, phân hạng đất thích hợp theo FAO. Sơ đồ và nội dung các
bước đánh giá, phânloại
hạng đất dựa trên đánh giá, phân hạng đất của FAO như sau:
(1)
Xác
địn
h
mụ

hiện
trạng KT
– XH và
MT

(7)
Xác
định các
LUTs
thích
hợp
nhất

(8)
Quy
hoạch
SDĐ

(9)
ứng
dụng
kết quả
đánh
giá đất
đai


Hình 1.1:Các bước đánh giá, phân hạng đất đai [3]
Nội dung các bước thực hiện đánh giá, phân hạng đất đai theo FAO (1976) [17]
Bước 1: Xác định mục tiêu

Mô hình hệ kinh tế sinh thái là một hệ kinh tế sinh thái cụ thể được thiết kế và xây
dựng trong một vùng sinh thái xác định nơi diễn ra hoạt động sinh hoạt, sản xuất, khai
thác, sử dụng tài nguyên của con người[10].
Hệ kinh tế sinh thái nông nghiệp
Hệ sinh thái nông nghiệp là các vùng sản xuất nông nghiệp, cũng có thể là một
cơ sở sản xuất nông nghiệp: nông trường, hợp tác xã, nông trại [11].
1.3.2. Nguyên tắc nghiên cứu và phân loại hệ mô hình kinh tế sinh thái
a) Nguyên tắc nghiên cứu mô hình hệ kinh tế sinh thái
Các mô hình hệ kinh tế sinh thái được xây dựng trên cơ sở: (1) Kiểm kê, đánh giá
hiện trạng môi trường, tài nguyên và tiềm năng sinh học, bao gồm công tác điều tra tự
nhiên, điều tra kinh tế xã hội, cơ sở vật chất kỹ thuật và tổ chức sản xuất xã hội; (2) Phân
tích chính sách và chiến lược sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường ; (3) Hoàn thiện
các cơ chế kinh tế (theo chu trình sản xuất năng lượng) và cơ chế sinh học (theo chu trình
sinh - địa - hoá). [3]


Hình1.2:Tổng quát các bước đánh giá mô hình hệ kinh tế sinh thái[6].
Theo một số tác giả, một mô hình hệ KTST được xác lập theo 4 nguyên tắc
chung: (1) Địa điểm xây dựng mô hình phải mang tính đặc trưng cho toàn vùng để sau
khi hoàn tất, mô hình cũng sẽ được áp dụng hiệu quả cho các vùng khác có điều kiện
tương tự;(2) Mô hình phải có tính khả thi, mang hiệu quả cao về kinh tế và môi
trường; (3) Quy mô của mô hình phù hợp với cơ chế quản lý mới trong nền kinh tế thị
trường; (4) Mô hình phải ổn định và có năng suất lao động cao, cải thiện môi trường,
đảm bảo khả năng tự điều chỉnh, tự phát triển của toàn bộ hệ thống[4].
b) Phương pháp nghiên cứu mô hình kinh tế sinh thái
- Nhóm phương pháp nghiên cứu và điều tra cơ bản ở thực địa, nhóm này thuộc
giai đoạn điều tra cơ bản.
- Nhóm phương pháp phân tích, đánh giá tiềm năng và hiện trạng sử dụng tài
nguyên, nhóm này thuộc giai đoạn đánh giá hệ thống.
- Nhóm phương pháp dự báo hoạt động của hệ, mô hình hoá. Nhóm này là giai

cứu có vị trí nằm về phía tây nam và cách trung tâm Hà Nội 30 km theo Quốc lộ 6.
- Phía đông giáp vùng Tả Bùi (là các xã vùng đồng bằng);
- Phía nam giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình;
- Phía tây giáp huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình;
- Phía bắc giáp các xã miền sáu (Quốc lộ 6).
- Địa chất - địa hình: Khu vực nghiên cứu có các loại đá mẹ đặc trưng của vùng
đồi gò là đá phiến sét tập trung ở các dạng địa hình đồi, đá phù sa cổ trên địa hình gò
và alovi trên địa hình vàn. Địa hình khu vực nghiên cứu có đặc trưng là đồi xen gò,
thuộc vùng bán sơn địa
- Khí hậu: Nhiệt đới gió mùa của vùng đồng bằng Bắc Bộ, nhiệt độ trung bình
từ 20-27o. Lượng mưa bình quân 1500 - 1700 mm/năm
- Thủy văn: có sông Bùi chảy qua, có 3 hồ lớn: hồ Đồng Sương, hồ Văn Sơn và
hồ Miễu
- Đất và tài nguyên đất: 4 nhóm đất chính là đất phù sa, đất đầm lầy và than
bùn, đất xám và xám bạc, nhóm đất đỏ vàng.
2.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Dân số toàn khu vực năm 2014 là 86.555 người, với tổng số hộ là 21205 hộ. Tỷ
suất tăng tự nhiên là 13.4%. Mật độ dân số trung bình toàn khu vực là 910 người/km2.
Năm 2014, tỷ trọng các ngành kinh tế trên địa bàn khu vực là không đồng đều,
trong đó: nông nghiệp là 23,70%; công nghiệp - xây dựng là 41,60%; thương mại dịch vụ là 34,70%. Những năm gần đây tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm trở
lại đây của khu vực đạt 14,6% (năm 2010 - 2014).
2.2 Tình hình quản lý và sử dụng đất
2.2.1 Hiện trạng hiện trạng sử dụng các loại đất
Theo số liệu điều tra, tổng diện tích tự nhiên khu vực tây nam huyện Chương


Mỹ là 9509,29 ha, trong đó:
+ Đất nông nghiệp có diện tích lớn nhất là 6430,04 ha, chiếm 67,6% diện tích tự
nhiên;
+ Đất phi nông nghiệp có diện tích 2.642,60 ha chiếm 27,79% diện tích tự nhiên;


quân mỗi năm tăng 205.9 ha, tuy nhiên diện tích tăng là do sai số đo đạc, còn thực tế
diện tích đất nông nghiệp đang dần bị thu hẹp và giảm mạnh trong các năm gần đây do
chuyển sang đất phi nông nghiệp chủ yếu là đất công cộng và đất kinh doanh phi nông
nghiệp.
2.3.Tình hình quản lý đất nông nghiệp:
- Những thành tựu đạt được:
+ Thành công của công tác dồn điền đổi thửa khắc phục manh mún từ bình
quân 7-9 thửa nay còn phần lớn từ 1 đến 2 thửa.
+ Tạo được các vùng canh tác chuyên canh trong nông nghiệp.
- Những nguyên nhân tồn tại trong quá trình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp
đặc biệt là công tác dồn điền đổi thửa gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi
trên địa bàn ghiên cứu
+ Công tác quản lý đất đai của một số xã còn buông lỏng.
+ Một số tiểu ban thiếu dân chủ, công khai quy hoạch các khu chuyển đổi.
+ Do trình độ quản lý của Ban quản trị các HTX nông nghiệp còn hạn chế.
+ Do trình độ nhận thức của người dân còn hạn chế
+ Sau khi dồn điền đổi thửa, việc cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất nông nghiệp cho các hộ trên địa bàn chưa thực hiện.
+ Luật đất đai năm 2013 ra đời với các văn bản dưới luật đi vào đời sống đã
thay đổi một số nội dung về chuyển đổi nội bộ đất nông nghiệp


CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ
DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1. Hệ thống các đơn vị đất đai khu vực nghiên cứu
* Lựa chọn và chỉ tiêu phân cấp các yếu tố để xây dựng bản đồ đơn vị đất đai
- Các chỉ tiêu về số lượng và chất lượng đất
- Các chỉ tiêu về chế độ tưới và tiêu nước
- Các chỉ tiêu về địa hình, độ dốc


G4

5. Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs)

G5

6. Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp)

G6

7. Đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước (FI)

G7

1. Thịt nhẹ

T1

2. Thịt trung bình

T2

3. Thịt nặng

T3

1. Tưới chủ động

I1


4. Vàn Thấp

E4

Thành
phần cơ
giới (T)
Chế độ

Địa hình
tương
đối (E)


Chồng xếp 5 bản đồ chuyên đề là bản đồ các dạng địa hình, bản đồ tưới, bản đồ
tiêu, bản đồ thành phần cơ giới, bản đồ thổ nhưỡng để có bản đồ đơn vị đất đai. Kết
quả chồng xếp cho thấy có 43 đơn vị bản đồ đất đai khác nhau. Đơn vị bản đồ đất đai
số 3 có diện tích lớn nhất (2014.50ha); đơn vị bản đồ đất đai số 40 có diện tích nhỏ
nhất (0.19ha). Quy mô, đặc tính và tính chất của từng đơn vị bản đồ đất đai (bảng
3.11). Trong đó ngoài từ G1-G7 là các đơn vị phụ đất, G8-G10 là kí hiệu của các loại
đất sau:G8: Đất thổ cư, G9: Đất mặt nước, G10: Đất núi đá
Bảng 3.2: Đặc tính và tính chất đất đai của các đơn vị bản đồ đất đai

STT

LMU

1
2

36131
46231
45231
410211
35131
310111
31111
310131
41211
39131
32131
42231
37131
12132
22132
47231
17132
38111
210112
28112
23112
21112
26132

Địa
hình
(E)
E4
E4
E3

G2
G8
G6
G6
G9
G9
G3
G8
G3
G8
G4
G8
G4
G2
G7
G7
G10
G7
G7
G10
G10
G1
G8
G1
G6
G4
G9

Chế
độ

Thành
phần

giới
(T)
T3
T3
T1
T1
T3
T3
T3
T1
T3
T1
T1
T3
T1
T3
T3
T3
T3
T3
T3
T3
T3
T1
T1
T1
T1

I2
I2
I2
I2

Diện
tích
(ha)
657.84
60.32
2014.50
435.38
284.63
162.22
0.99
68.21
26.53
170.96
291.05
111.61
122.44
1294.97
364.04
27.66
247.39
77.56
10.05
28.07
171.58
956.41

0.10
0.07
2.66
0.12
0.43


Thành
Đơn
Chế
phần
Địa
vị
độ

STT
LMU
hình phụ
tiêu
giới
(E)
đất
(DR)
(G)
(T)
28
43112
E4
G6
DR1

T3
34
44221
E4
G5
DR2
T2
35
46131
E4
G9
DR1
T3
36
16132
E1
G9
DR1
T3
37
32231
E3
G7
DR2
T3
38
410131
E4
G8
DR1

T1
Các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn

Chế
độ
tưới
(I)
I2
I2
I2
I2
I1
I2
I1
I1
I2
I1
I1
I1
I1
I2
I1
I1

Diện
tích
(ha)
3.30
819.94
212.78

0.45
3.18

Qua đặc điểm đơn vị đất đai thể hiện tại bảng 3.11 và các loại hình sử dụng đất
chính tại khu vực, tiến hành thành lập hệ thống sử dụng đất đai được thể hiện tại bảng
3.13.
Bảng 3.3: Đặc điểm các đơn vị đất đai khu vực nghiên cứu
Khí hậu: Nhiệt đới ẩm gió mùa, nhiệt độ trung
bình từ 20 - 27 0, lượng mưa trung bình

Nền nhiệt ẩm

1700mm/năm

Nền vật chất rắn và
dinh dưỡng đất
Địa
Đá mẹ

Đất
Thành

hình
Loại đất

phần cơ
giới

Đá
phiến

Vàn

Đất phù
sa

Vàn

Đất phù

Thịt
trung
bình
Thịt

thấp

sa

nặng

Thịt nhẹ

II2

III1
III2

Theo bảng 3.14 Phân được 8 hệ thống sử dụng đất. Cụ thể:
- I1CLN: Hệ thống sử dụng đất I 1 trồng cây lâu năm trên địa hình đồi, có loại đất
đỏ vàng trên đá phiến sét, thành phần cơ giới thịt trung bình, điều kiện thoát nước tốt,

Nuôi trồng
thủy sản


Đơn vị đất đai
I1

I1CLN

II2

II2CLN

III1
III1CLN
III1LM
III1LUC
III1NTS
III2
III2LUC
III2NTS
Từ các đơn vị đất đai, hiện trạng sử dụng đất, các bản đồ chuyên đề và hệ thống
sử dụng đất tiến hành xây dựng được bản đồ hệ thống sử dụng đất của khu vực.
3.2. Đánh giá hiệu quả sử dụng của các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
a. Đánh giá tính thích hợp của các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp
Qua các bảng đánh giá thích nghi của hệ thống sử dụng đất, thấy được rằng:
- Hệ thống sử dụng đất trồng cây lâu năm có thể thích nghi với đơn vị I2, và III1
với các đặc điểm về địa hình, thổ nhưỡng và điều kiện tưới tiêu. Trong đó thích nghi
nhất là trên đơn vị III1 và ít thích nghi đối với đơn vị III2 và I1 do hạn chế về địa hình và
chế độ tưới tiêu.

(triệu

đồng/ha) đồng/ha) đồng/ha)

Lao động
(công/ha)

GTSX/công GTGT/công
lao động

lao động

(1000 đồng) (1000 đồng)

Lúa nước
Ngô
Lạc

44.1
27.5
38.92

27.4
23.1
16.72

16.7
4.39
22.2



364.11

176.34

550

982,636

320,618


NTS
CLN

Thuỷ sản
ngọt
Bưởi

496.35

320.01

176.34

550

902,454

320,618

đồng)

CPTG
(triệu
đồng/ha)

GTGT
(triệu
đồng/ha)

44.1

27.4

16.7

268

164,552

62,313

86.67

72.4

14.26

273


902,454

320,618

Chuyên
trồng lúa
nước
Trồng cây
hàng năm

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra nông hộ và trang trại)

Trong hệ thống sử dụng đất, nuôi trồng thủy sản cho GTGT/ha/vụ canh tác cao
nhất 176.34 triệu đồng, sau đó đến trồng cây lâu năm, trồng lúa nước và trồng cây hàng
năm là thấp nhất với GTGT/ha/vụ canh tác là 14.26 triệu đồng.
Hiệu quả xã hội
Bảng 3.7: Hiệu quả xã hội của các hệ thống sử dụng đất
Chỉ tiêu định
Hệ
lượng
thống
GTGT/
sử dụng Công lao công lao
đất
động
động
(công/ha) (1000
đồng)

Khả


55

- Phù hợp với tập quán canh tác địa phương ở mức cao
- Phù hợp với khả năng và năng lực sản xuất của hộ về

cây

đất, nhân lực, vốn, kỹ thuật ở mức trung bình.

hàng

- Đáp ứng nhu cầu lương thực hàng ngày của người

năm

dân địa phương và xã hội ở mức trung bình
- Phù hợp với tập quán canh tác địa phương ở mức


trung bình
- Phù hợp với khả năng và năng lực sản xuất của hộ về
đất, nhân lực, vốn, kỹ thuật ở mức trung bình.

Trồng
cây lâu

489

154.6

(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra nông hộ và trang trại)

* Đảm bảo an ninh lương thực
Theo chi Cục Thống kê huyện Chương Mỹ, sản lượng lúa của khu vực Tây Nam
năm 2014 là 35050 tấn. Dân số của khu vực năm 2014 là 86555 người.
Theo Tổng cục Thống kê (2008), mức tiêu dùng gạo/người/tháng của vùng
ĐBSH là 11,4kg, quy ra thóc khoảng 19 kg. Như vậy, nếu tính theo mức tiêu dùng
chung của ĐBSH thì chỉ cần 16.44 tấn thóc là đã đảm bảo được an ninh lương thực
cho toàn khu vực.
Nhìn chung, ngoài đảm bảo an ninh lương thực cho người dân trong vùng, khu
vực Tây Nam huyện còn sản xuất lúa hàng hóa cung cấp cho khu vực nội thành và
phục vụ chăn nuôi.
* Thu hút lao động và giải quyết việc làm
Theo số liệu điều tra ở bảng trên cho thấy: Về khả năng thu hút lao động cao
nhất là hệ thống sử dụng đất nuôi trồng thủy sản (550 công lao động/ha), tiếp đến là hệ
thống trồng cây lâu năm, cây hàng năm và chuyên trồng lúa nước có khả năng thu hút
lao động thấp nhất (21068 công lao động/ha).
Về giá trị gia tăng/công lao động cao nhất là hệ thống sử dụng đất nuôi trồng
thủy sản (320618 đồng/công lao động), tiếp đến là HTSDĐ trồng cây lâu năm (316155


đồng/công lao động), HTSDĐ trồng lúa nướcvà thấp nhất là HTSDĐ trồng cây hàng
năm (316155 đồng/công lao động),
* Sản xuất nông nghiệp góp phần chủ yếu vào xóa đói, giảm nghèo ở địa
phương
- Theo kết quả điều tra nông hộ, thu nhập từ sản xuất nông nghiệp, thủy sản
chiếm khoảng 50% tổng thu nhập hàng năm của nông hộ. Thực tế các ngành công
nghiệp và dịch vụ chưa đủ phát triển để thu hút toàn bộ lao động nông nhàn và dư thừa
thì phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hóa sản phẩm và nâng cao chất lượng
sản phẩm nông nghiệp là giải pháp quan trọng để tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao

sau:

Bảng 3.8: Tổng hợp mức độ bón phân của một số cây trồng chính
Lượng phân bón thực tế Tỷ lệ bón
Lượng bón khuyến cáo (*)
Tỷ lệ bón
P2O5
Phân phân thực
P2O5
Phân phân theo
Cây trồng
N
K2O
K2O
(kg/
chuồng tế N:P:K N (kg/ha) (kg/
chuồng khuyến
(kg/ha)
(kg/ha)
(kg/ha)
ha)
(tấn/ha)
ha)
(tấn/ha)
120Lúa nước
143 89
77
5-7 1:0,6:0,5
80-90 30-60 8-10 1:0,7:0,4
130

60
4060Sắn
85
45
78
6-8 1:0,5:0,9 60-120
10-15
3:2:3
60
120
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra nông hộ và trang trại)

- Từ mức bón phân khuyến cáo trên bảng 3.22 cho thấy yêu cầu thông
thường thì mức bón phân cho các hệ thống cây trồng ở khu vực là chưa hợp lý.
Một số cây trồng được bón phân với lượng mất cân đối nghiêm trọng giữa
N,P,K. Ở khu vực nghiên cứu, người nông dân chỉ bón đạm là chủ yếu (đạm trắng,
đạm đầu trâu) vì đạm cho năng suất cao và rút ngắn thời gian thu hoạch, bón rất ít lân
và Kali cho cây trồng vì thế đã gây ra ảnh hưởng không tốt đến việc hấp thu dinh
dưỡng của cây, đến năng suất cây trồng và dư lượng tồn đọng của phân (nhất là phân
đạm) gây ảnh hưởng khá nhiều đến môi trường. Trong khi đó, việc bón lân và Kali
không hợp lý, không đủ liều lượng cần thiết sẽ dẫn đến suy kiệt hàm lượng kali và lâm
trong đất, gây ảnh hường đến chất lượng, năng suất và sản lượng của nông sản.
- Phân hữu cơ chưa được khai thác tốt để đưa vào sản xuất, trên thực tế bón
phân hữu cơ thường thấp hơn so với tiêu chuẩn.


Nhìn chung, xét về tổng lượng phân bón người dân bón cho cây trồng trên địa
bàn thì tỷ lệ N, P, K ở mức trung bình nhưng xét cụ thể cây trồng thì tỷ lệ này đang
mất cân đối. Do đó, để đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng đất và sản xuất
nông nghiệp bền vững cần phải có hướng dẫn cụ thể về tỷ lệ phân bón N:P:K cân đối

Ghi chú

500 gr
30 gr

400 gr
30gr

***
**

2-3 300-600ml
2-3 400-600ml
1
2

400ml
450ml
450ml
400 gr

***
***
***
***

thân, sâu cuồn lá)

nước
Trồng cây

***

Địch bách trùng (diệt bọ xít)

1-2 600 -700gr

500gr

***

lúa – màu
(khoai tây)
Cây lâu năm

Từ biểu trên cho thấy, phần lớn các hộ nông dân đã sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật theo hướng dẫn của các cán bộ trạm bảo vệ thực vật khuyến khích;các loại thuốc
BVTV được sử dụng đúng chủng loại và nằm trong danh mục cho phép sử dụng theo
quy định hiên hành của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Chỉ có một tỷ lệ nhỏ
số hộ dùng thuốc BVTV không theo hướng dẫn của cơ quan chuyên ngành như dùng
thuốc quá liều lượng cho phép, dùng thuốc trong danh mục hạn chế sử dụng, sử dụng
hỗn hợp nhiều loại thuốc cho 1 lần phun, phun thuốc không đúng thời điểm gây lãng
phí, nguy cơ ô nhiễm môi trường sinh thái. Lượng thuốc bảo vệ thực vật đang được sử
dụng tương đối nhiều, thậm chí nhiều nơi lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật để thay thế


số công lao động. Hầu hết các loại cây trồng đều được phun thuốc bảo vệ thực vật ít
nhất 1-2 lần/vụ, có một số loại rau màu trồng đan xen vào vụ đông phun đến 5-6
lần/vụ như: cà chua, bắp cải, rau cải xanh, dưa chuột….. Do số lượng thuốc và số lần
phun nhiều, thậm chí phun trước thời điểm tiến hành thu hoạch vài ngày nên còn
lượng tàn dư thuốc bảo vệ thực vật trong đất và sản phẩm nông nghiệp, gây ảnh hưởng

trồng lúa
nước

- Hiệu quả kinh tế mang lại thấp
- Cung cấp nguồn lương thực chủ yếu cho nhân dân địa phương và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status