ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG ĐẤT ĐAI VÀ ĐỊNH HƯỚNG SỬ
DỤNG ĐẤT SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP CỦA XÃ ĐÔNG QUÝ
HUYỆN TIỀN HẢI – TỈNH THÁI BÌNH” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Quản lý Đất đai
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khóa học : 2010 – 2014
Thái Nguyên, năm 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ PHƯƠNG
nghiệp, UBND xã Đông Qúy cũng như toàn thể bà con ở xã đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập tại cơ sở.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình bạn bè những người
đã trực tiếp động viên, giúp đỡ tôi cả về tinh thần vật chất, để tôi nghiên cứu và
hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này.
Do điều kiện thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế nên đề tài chắc hẳn
không tránh khỏi những thiếu xót. Vì vậy , tôi rất mong nhận được những đóng góp
của thầy cô giáo và cùng toàn thể bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực tập Nguyễn Thị Phương
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 4.1: Tình hình nhân khẩu và lao động xã Đông Qúy qua 3 năm(2011-2013) 32
Bảng 4.2: Cơ cấu kinh tế các ngành sản xuất xã Đông Qúy năm 2013 33
Bảng 4.3: Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật qua 3 năm 2011- 2013 của xã Đông Qúy 34
Bảng 4.4: Hiện trạng sử dụng đất xã Đông Qúy tính đến ngày 1/1/2013 38
Bảng 4.5: Biến động diện tích sử dụng đất theo mục đích sử dụng 40
năm 2013 so với năm 2012 40
Bảng 4.6: Diện tích , năng suất, sản lượng một số cây trồng năm 2013 43
MỤC LỤC
Trang
PHẦN 1. MỞ ĐẦU
1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2. Mục đích 3
1.3. Yêu cầu 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 4
PHẦN 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
5
2.1. Vấn đề hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất 5
3.2.2. Hiện trạng sử dụng đất 26
3.2.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 26LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi
còn nhận được sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè và rất nhiều cá nhân, tập thể
trong và ngoài trường. Qua đây tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành:
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn tập thể các thầy cô giáo trường Đại Học
Nông Lâm Thái Nguyên, đã hết lòng giúp đỡ và truyền đạt cho tôi những kiến thức
quý báu trong quá trình học tập tại trường. Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu
sắc tới thầy giáo: Thạc sỹ Nguyễn Văn Hiểu đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình
thực tập và hoàn thiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cô, các chú phòng hợp tác xã dịch vụ nông
nghiệp, UBND xã Đông Qúy cũng như toàn thể bà con ở xã đã giúp đỡ và tạo điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thực tập tại cơ sở.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình bạn bè những người
đã trực tiếp động viên, giúp đỡ tôi cả về tinh thần vật chất, để tôi nghiên cứu và
hoàn thành tốt báo cáo tốt nghiệp này.
Do điều kiện thời gian và kiến thức còn nhiều hạn chế nên đề tài chắc hẳn
không tránh khỏi những thiếu xót. Vì vậy , tôi rất mong nhận được những đóng góp
của thầy cô giáo và cùng toàn thể bạn đọc để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 5 năm 2014
Sinh viên thực tập Nguyễn Thị Phương
61
5.1. Kết luận 61
5.2. Kiến nghị 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
63
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là cơ sở của sản xuất nông nghiệp, là
đối tượng lao động độc đáo đồng thời cũng là môi trường sản xuất ra lương
thực , thực phẩm với giá thành thấp nhất , là một nhân tố quan trọng của môi
trường sống và trong nhiều trường hợp lại chi phối sự phát triển hay hủy diệt
các nhân tố khác của môi trường.Vì vậy ,chiến lược sử dụng đất hợp lý là một
phần của chiến lược nông nghiệp sinh thái bền vững của tất cả các nước trên
thế giới cũng như của nước ta hiện nay.[13] Nông nghiệp là hoạt động sản
xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người. Hầu hết các nước trên thế giới đều
phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát triển nông nghiệp dựa vào khai
thác tiềm năng của đất , lấy đó làm bàn đạp cho việc phát triển các ngành
khác. Vì vậy , tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất hợp lý, có hiệu quả cao
theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang
tính toàn cầu. Mục đích của việc sử dụng đất là làm thế nào để bắt nguồn tư
liệu có hạn này mang lại hiệu quả kinh tế , hiệu quả sinh thái , hiệu quả xã hội
cao nhất , đảm bảo lợi ích trước mắt và lâu dài [10]. Nói cách khác , mục tiêu
hiện nay của loàingười là phấn đấu xây dựng một nền nông nghiệp toàn diện
về kinh tế , xã hội , môi trường một các bền vững. Để thực hiện mục tiêu này
học , nâng cao hiệu quả sử dụng đất là nhiệm vụ cấp bách , lâu dài của Đảng
và Nhà nước ta.
Thực tế , trong những năm qua , đã có nhiều biện pháp nhằm nâng
cao hiệu quả như tiến hành giao quyền sử dụng đất lâu dài, ổn định cho
người sử dụng đất , hoàn thiện hệ thống thủy lợi, chuyển đổi cơ cấu cây
trồng, đa dạng hóa các giống cây tốt, năng suất cao vào sản suất , nhờ đó
mà tăng năng suất cây trồng, hiệu quả sử dụng đất tăng lên rõ rệt. Trong đó
, việc thay đổi cơ cấu cây trồng , sử dụng giống mới với năng suất và chất
lượng cao, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật có biểu hiện ảnh hưởng
rõ rệt đến hiệu quả sử dụng đất.
Khai thác tiềm năng đất đai sao cho đạt hiệu quả cao nhất là việc làm
hết sức quan trọng và cần thiết, đảm bảo cho sự phát triển của sản suất nông
nghiệp cũng như sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Cần phải có
các công trình nghiên cứu khoa học, đánh giá thực trạng hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp , nhằm phát hiện ra các yếu tố tích cực và hạn chế , từ đó làm cơ
sở để định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp, thiết lập các giải pháp
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
3
Đông Qúy là một xã thuần nông nên nông nghiệp vẫn là nền sản xuất
chính tuy nhiên hiện nay trên địa bàn xã quá trình công nghiệp hóa , hiện đại
hóa đang diễn ra mạnh mẽ , quá trình này đang gây áp lực mạnh tới việc sử
dụng đất đai, chuyển đổi cơ cấu đất đai và cơ cấu lao động đặc biệt là việc
chuyển diện tích đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác đòi hỏi xã
Đông Qúy cần phải phát huy được thế mạnh về tiềm năng đất đai cũng như
lao động của mình.
Đồng thời để đáp ứng được yêu cầu phát triển chung của đất nước, xã
cần có những định hướng lớn trong chiến lược phát triển kinh tế- xã hội một
cách toàn diện đặc biệt phải quan tâm đến vấn đề sản xuất nông nghiệp. Đánh
giá tiềm năng đất đai để biết được quỹ đất và khả năng hiện có từ đó chỉ ra
phương hướng sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là việc làm cần thiết.
PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Vấn đề hiệu quả sử dụng đất và đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Sử dụng các nguồn tài nguyên có hiệu quả cao trong sản xuất để đảm
bảo phát triển một nền nông nghiệp bền vững là xu thế tất yếu đối với các
nước trên thế giới.
Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn của mình, đất đai đã
trở thành cơ sở cần thiết cho sự sống và sự phát triển tương lai của con người.
Khi dân số còn ít để đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm của mình thì
con người đã khai thác từ đất khá dễ dàng và không gây ra ảnh hưởng đến đất
đai. “ Nhưng ngày nay mật độ dân số ngày càng tăng, đặc biệt là ở các nước
đang phát triển thì vấn đề đảm bảo lương thực cho sự gia tăng dân số đã trở
thành sức ép ngày càng mạnh mẽ lên đất đai. Diện tích đất đai thích hợp cho
sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, con người đã phải mở mang thêm
diện tích đất nông nghiệp trên những vùng đất không thích hợp cho sản xuất,
hậu quả đã gây ra quá trình thoái hóa đất diễn ra một cách nghiêm trọng”
(Smyth & julian Dumaski 1993 ). Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao
thông qua việc bố trí cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức súc
hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm
của các nhà khoa học mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người
trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.[15] Sử dụng đất đai có
hiệu quả là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ người – đất
trong tổ hợp với các nguồn tài nguyên khác và môi trường. Căn cứ vào nhu
cầu của thị trường , thực hiện đa dạng hóa cây trồng, vật nuôi trên cơ sở lưạ
chọn các sản phẩm có yêu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng
công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, đó là một
trong những điều kiện tiên quyết để phát triển được nền nông nghiệp hướng
về xuất khẩu có tính ổn định và bền vững, đồng thời phát huy tôi đa công
dụng của đất nhằm đạt tới hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cao nhất.
chi phí, tuy nhiên trong thực tế đã có trường hợp không thực hiện được phép
trừ hoặc phép trừ không có ý nghĩa. Do vậy, nói một cách linh hoạt hơn nên
hiệu quả là một kết quả tốt phù hợp mong muốn và hiệu quả có nghĩa là
7
không lãng phí.[12] Tóm lại, có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh
tế nhưng thống nhất nhau ở bản chất của nó. Người sản xuất muốn thu được
kết quả phải bỏ ra những chi phí nhất định, những chi phí đó là nhân lực, vật
lực, vốn… So sánh kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
sẽ có hiệu quả kinh tế. Tiêu chuẩn của hiệu quả là sự tối đa hóa kết quả với
một một chi phí định trước hoặc tối thiểu hóa chi phí để đạt được một kết quả
nhất định.
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất , nó liên quan trực tiếp đến sản
xuất nông nghiệp và tới tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác. Vì
vậy, hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được ba vấn đề:
Một là , mọi hoạt động của con người đều tuân theo quy luật “ tiết
kiệm thời gian” nó là động lực phát triển của lực lượng sản xuất , là điều kiện
quyết định phát triển văn minh xã hội và nâng cao đời sống con người qua
mọi thời đại.
Hai là, hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống. Quan điểm của lý thuyết hệ thống cho rằng nền sản xuất xã hội là
một hệ thống các yếu tố sản xuất và các quan hệ vật chất hình thành giữa con
người với con người trong quá trình sản xuất.Hệ thống là một tập hợp các
phần tử có quan hệ với nhau tạo nên một chỉnh thể thống nhất và luôn vận
động. Theo nguyên ký đó, khi nhiều phần tử kết hợp thành một hệ thống sẽ
phát sinh nhiều tính chất mới mà từng phần tử đều không có , tạo ra hiệu quả
lớn hơn tổng hiệu quả các phần tử riêng lẻ. Do vậy, việc tận dụng khai thác
các điều kiện sẵn có hay giả quyết các mối quan hệ phù hợp giữa các bộ phận
của một hệ thống với yếu tố môi trường bên ngoài để đạt được khối lượng sản
phẩm tối đa là mục tiêu của từng hệ thống. Đó chính là mục tiêu đặt ra đối với
mỗi vùng kinh tế, mỗi chủ thể sản xuất trong mọi xã hội.
tính lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh xấu đến tương lai,
nó gắn bó chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và
môi trường sinh thái. Cụ thể là: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ
màu mỡ của đất đai, ngăn chặn sự thoái hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái.
Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái(>35%), đa dạng sinh
học biểu hiệ qua thành phần loài.
Hiệu quả môi trường được phân theo nguyên nhân gây nên gồm:
Hiệu quả hóa học môi trường , hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh
học môi trường.
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 4.1: Tình hình nhân khẩu và lao động xã Đông Qúy qua 3 năm(2011-2013) 32
Bảng 4.2: Cơ cấu kinh tế các ngành sản xuất xã Đông Qúy năm 2013 33
Bảng 4.3: Tình hình cơ sở vật chất kỹ thuật qua 3 năm 2011- 2013 của xã Đông Qúy 34
Bảng 4.4: Hiện trạng sử dụng đất xã Đông Qúy tính đến ngày 1/1/2013 38
Bảng 4.5: Biến động diện tích sử dụng đất theo mục đích sử dụng 40
năm 2013 so với năm 2012 40
Bảng 4.6: Diện tích , năng suất, sản lượng một số cây trồng năm 2013 43
Bảng 4.7: Các loại hình sử dụng đất chính của xã Đông Qúy năm 2013 44
Bảng 4.8: Hiệu quả kinh tế của một số cây trồng chính của xã 47
tượng suy thoái khá trầm trọng. Hiện tượng này có liên quan chặt chẽ đến
chất lượng đất và môi tường. Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho
con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng
năng suất cây trồng trong điều kiện hầu hết đất canh tác trong khu vực đều bị
nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết
qua con đường sử dụng phân bón.
Theo báo cáo của Worl Bank(1995) [22], hàng năm mức sản xuất so
với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150-200 triệu tấn , trong khi
đó vẫn có từ 6-7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn. Trong 1200
triệu ha đất bị thoái hóa có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản
xuất do sử dụng không hợp lý.
11
Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân chủ yếu tập
trung vào trồng cây lương thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất.
Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng
phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều , ảnh
hưởng tới môi trường. Tadon H.L.S chỉ ra rằng : “ Sự suy kiệt đất và các chất
dự trữ trong đất cũng là biểu hiện sự thoái hóa về môi trường, do vậy việc cải
tạo độ phì của đất là đóng góp cho cải thiện cơ sở tài nguyên thiên nhiên và
còn hơn nữa cho chính môi trường”.
Hiện nay những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và
được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hóa và kỹ thuật
hiện đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên. Hệ sinh thái nhiệt đới vốn
cân bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác
phản tự nhiên , buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo
hướng sử dụng tài nguyên bảo vệ môi trường, thỏa mãn các yêu cầu của thế
hệ hiện tại nhưng không làm hại đến nhu cầu của thế hệ tương lai, đó là mục
tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và cũng là lối đi
trong tương lai.
2.2.1.2. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
nghiệp ổn định.
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển
dịch cơ cấu sử dụng đất và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng
bớt lao động sang các hoạt động phi nông nghiệp khác.[8]
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên cơ sở thực hiện “
đa dạng hóa” hình thức sở hữu , tổ chức sử dụng đất nông nghiệp, đa dạng
hóa cây trồng vật nuôi , chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với
sinh thái và bảo vệ môi trường. [1]
- Các quan điểm sử dụng đất nông nghiệp cụ thể là:
+ Khai thác triệt để ,hợp lý, có hiệu quả quỹ đất nông nghiệp
+ Chuyển mục đích sử dụng phù hợp
+ Duy trì và bảo vệ đất nông nghiệp
+ Tiết kiệm và làm giàu đất nông nghiệp
+ Bảo vệ môi trường đất để sử dụng lâu dài
13
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên
Điều kiện tự nhiên (đất , nước, khí hậu, thời tiết, địa hình, thổ
nhưỡng, ) có ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp, các yếu tố này
là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối. Vì vậy, khi xác định vùng nông
nghiệp hóa cần đánh giá đúng điều kiện tự nhiên, trên cơ sở đó xác định cây
trồng , vật nuôi chủ lực phù hợp, định hướng đầu tư thâm canh đúng.
Theo Mác, điều kiện tự nhiên là cơ sở hình thành địa tô chênh lệch I.
Theo N.Borlang , người được giải nobel về giải quyết lương thực tại các nước
phát triển cho rằng yếu tố duy nhất , quan trọng nhất, hạn chế năng suất cây
trồng ở tầm cỡ thế giới trong các nước đang phát triển, đặc biệt đối với nông
dân thiếu vốn là độ phì đất.
* Nhóm các yếu tố kinh tế, kỹ thuật canh tác
Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai ,
cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hòa giữa các yếu tố của các quá trình
TNHH Thu nhập hỗn hợp
UBND Uỷ ban nhân dân 15
bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể, thường là 1 ha, tính
trên 1 đồng chi phí, 1 công lao động đầu tư.
- Thâm canh là một biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu,
tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài. Vì thế,
cần phải nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu,
nghiên cứu ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng
đất(môi trường , đất, nước).
- Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân
canh, do đó cần phải đánh giá hiệu quả của từng cây trồng, từng hệ thống luân
canh trên mỗi vùng đất. [6]
- Đối với sản xuất nông nghiệp, môi trường vừa là tài nguyên vừa là đối
tượng lao động, vừa là điều kiện tồn tại và phát triển của toàn bộ nền nông
nghiệp.
- Lịch sử nông nghiệp là một quãng đường dài thể hiên sự phát triển
mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên. Hoạt động sản xuất nông nghiệp
mang tính xã hội rất sâu sắc. Nói đến nông nghiệp không thể không nói đến
sản khi có một lượng nhất định đất nông nghiệp và các yếu tố đầu vào khác.
+ Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất
ngành nông nghiệp, đến hệ thống môi trường sinh thái nông nghiệp, đến những
người sống bằng nông nghiệp. Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo
quan điểm sử dụng đất bền vững hướng vào 3 tiêu chuẩn chung như sau:
* Bền vững về mặt kinh tế
Loại cây trồng nào cho hiệu quả kinh tế cao, phát triển ổn định thì được
thị trường chấp nhận. Do đó, phát triển sản xuất nông nghiệp là thực hiện tập
trung, chuyên canh kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm.
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức
bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai. Năng suất sinh học bao gồm các
sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, củi, hạt , củ, quả,… và tàn dư
để lại). Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình
quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường. Mặt
khác, chất lượng sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong
nước và hướng tới xuất khẩu tùy theo mục tiêu của từng vùng.
17
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất
của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất. Tổng giá trị trong một
giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức của
vùng thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải
lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng.
* Bảo vệ môi trường
Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ phì đất, ngăn ngừa sự thoái
hóa đất, bảo vệ môi trường sinh thái.
Độ phì nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý
và sử dụng đất nông nghiệp bền vững. Độ che phủ phải đạt ngưỡng an toàn
sinh thái (>35%). Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh
bền vững hơn độc canh ).
* Bền vững về mặt xã hội