Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng đất hiệu quả trên địa bàn huyện lý nhân, tỉnh hà nam - Pdf 28


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN THỊ THANH THỦY

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG SỬ DỤNG ĐẤT HIỆU QUẢ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

Chuyên ngành : QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số : 60.85.01.03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHẠM NGỌC THỤY

HÀ NỘI, 2014

hiện đề tài này.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Thanh Thủy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii

MỤC LỤC Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục hình viii
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 2
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp 3
1.1.1 Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp 3
1.1.2 Hệ thống sử dụng đất và các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp 4
1.1.3 Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp 6
1.2 Hiệu quả sử dụng đất 7
1.2.1 Khái quát về hiệu quả 7
1.2.2 Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất 14

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 33
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
3.2 Hiện trạng sử dụng đất đai của huyện Lý Nhân 40
3.2.1 Tình hình sử dụng quỹ đất 40
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của huyện 41
3.2.3 Thực trạng sản xuất nông nghiệp 45
3.3 Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện 48
3.3.1 Phân vùng nông nghiệp huyện Lý Nhân 48
3.3.2 Mô tả các loại hình sử dụng đất chính 49
3.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp 51
3.4.1 Hiệu quả kinh tế 51
3.4.2 Hiệu quả xã hội 62
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v

3.4.3 Hiệu quả môi trường 66
3.4.4 Đánh giá chung hiệu quả sử dụng đất huyện Lý Nhân 71
3.5 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp cho huyện 72
3.6 Một số giải pháp thực hiện hiệu quả định hướng sử dụng đất sản xuất
nông nghiệp của huyện Lý Nhân 75
3.6.1 Giải pháp về bảo vệ tài nguyên đất và môi trường 75
3.6.2 Giải pháp về thị trường 76
3.6.3 Một số giải pháp kỹ thuật 76
3.6.4 Giải pháp về chính sách, hỗ trợ 76
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 78
1 Kết luận 78
2 Đề nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 83


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii

DANH MỤC BẢNG STT Tên bảng Trang

3.1 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp huyện Lý Nhân năm 2013 42

3.2 Biến động SDĐ nông nghiệp giai đoạn 2010- 2013 44

3.3 Diễn biến kết quả thâm canh một số cây trồng chính huyện Lý Nhân
giai đoạn 2010 – 2013 46

3.4 Hiện trạng các loại hình sử dụng đất nông nghiệp huyện Lý Nhân 49

3.5 Hiệu quả kinh tế một số cây trồng chính tiểu vùng 1 52

3.6 Hiệu quả kinh tế một số loại cây trồng chính tiểu vùng 2 53

3.7 Hiệu quả kinh tế một số cây trồng chính tiểu vùng 3 54

3.8 Hiệu quả kinh tế một số LUT chính tiểu vùng 1 55

DANH MỤC HÌNH STT Tên hình Trang1.1 Cấu trúc hệ thống sử dụng đất 4
1.2 Mối quan hệ HQKT, HQXH và HQMT 10
3.1 Sơ đồ các đơn vị hành chính huyện Lý Nhân 33 Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1

MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho
con người. Đất đai là nền tảng để định cư và tổ chức các hoạt động kinh tế xã hội,
nó không chỉ là đối tượng lao động mà cón là tư liệu sản xuất không thể thay thế
được, đặc biệt là đối với sản xuất nông nghiệp. Đất là cơ sở của sản xuất nông
nghiệp, là yếu tố đầu vào có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp,
đồng thời cũng là môi trường duy nhất sản xuất ra lương thực thực phẩm nuôi sống
con người. Việc sử dụng đất có hiệu quả và bền vững đang trở thành vấn đề cấp
thiết với mỗi quốc gia, nhằm duy trì sức sản xuất của đất đai cho hiện tại và cho
tương lai. Xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng
tăng về lương thực thực phẩm, chỗ ở cũng như các nhu cầu về văn hóa, xã hội.
Con người đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu
cầu ngày càng tăng. Đất đai, đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích nhưng
lại có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và khai thác không hợp lí

- Góp phần bổ sung cơ sở lí luận, thực tiễn về sử dụng hiệu quả đất nông
nghiệp khu vực chiêm trũng đồng bằng Bắc bộ phục vụ cho công tác đánh giá và
quy hoạch sử dụng đất.
- Cung cấp thông tin về những loại hình sử dụng đất hiệu quả nhằm nâng cao
hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Lý Nhân tỉnh Hà Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3

Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở lý luận về đất nông nghiệp
1.1.1. Khái niệm và phân loại đất nông nghiệp
1.1.1.1. Khái niệm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp (ký hiệu là NNP) là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên
cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục
đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất
lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
1.1.1.2. Phân loại đất nông nghiệp
Đất sản xuất nông nghiệp (SXN): là đất nông nghiệp sử dụng vào mục
đích sản xuất nông nghiệp; bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm.
Đất trồng cây hàng năm (CHN): là đất chuyên trồng các loại cây có thời
gian sinh trưởng từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch không quá một (01) năm, kể
cả đất sử dụng theo chế độ canh tác không thường xuyên, đất cỏ tự nhiên có cải tạo
sử dụng vào mục đích chăn nuôi. Loại này bao gồm đất trồng lúa, đất cỏ dùng vào
chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác.
Đất trồng cây lâu năm (CLN): là đất trồng các loại cây có thời gian
sinh trưởng trên một năm từ khi gieo trồng tới khi thu hoạch kể cả cây có thời
gian sinh trưởng như cây hàng năm nhưng cho thu hoạch trong nhiều năm như
Thanh long, Chuối, Dứa, Nho, v.v.; bao gồm đất trồng cây công nghiệp lâu năm,
đất trồng cây ăn quả lâu năm và đất trồng cây lâu năm khác.
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc hệ thống sử dụng đất
HỆ THỐNG SỬ DỤNG ĐẤT
(LAND USE SYSTEM)
Loại hình sử dụng đất
(Land Utilization Type)
Đơn vị bản đồ đất đai
(Land Mapping Unit)
Cải tạo đất đai (Land Improvement)
Đầu tư (Inputs)
Yêu cầu sử dụng đất
(Land Use Requirements)
Ch
ất l
ư
ợng đất đai

(Land Qualities)
Năng su
ất, thu nhập

(Outputs)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6

một khả năng sản xuất và cải tạo đất. Mỗi đơn vị đất đai có chất lượng (đặc
tính và tính chất) riêng và nó thích hợp với mỗi LUT nhất định. Tập hợp các
đơn vị bản đồ đất đai trong khu vực hay vùng đánh giá đất được thể hiện bằng
bản đồ đơn vị đất đai.
Như vậy, một hệ thống sử dụng đất nông nghiệp (LUS) được hiểu là sự
kết hợp giữa một đơn vị bản đồ đất đai (LMU) với một loại hình sử dụng đất
cụ thể (LUT) được bố trí trên LMU đó.
Hệ thống sử dụng đất nông nghiệp trong thực tế bao gồm: hệ thống sử
dụng đất trồng trọt (các LUT cây trồng trên các LMU hay vùng đất cụ thể), hệ
thống sử dụng đất chăn nuôi (các LUT vật nuôi trên vùng đất hay các LMU cụ
thể) và hệ thống sử dụng đất lâm nghiệp (các LUT cây lâm nghiệp trên các
LMU hay vùng đất). Nói cách khác hệ thống sử dụng đất nông nghiệp bao hàm
hệ thống cây trồng và hệ thống vật nuôi. Vấn đề đặt ra là chúng ta tiến hành tìm
hiểu, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, các đặc trưng của các loại hình sử dụng
đất (LUT) và chất lượng đất (LMU) để từ đó xác định được khả năng thích hợp
và tính hiệu quả, bền vững của các hệ thống sử dụng đất nông nghiệp hiện tại
để làm căn cứ đề xuất hướng sử dụng đất hợp lý cho quy hoạch.
1.1.3. Vai trò và ý nghĩa của đất đai trong sản xuất nông nghiệp
Như ta đã biết đất đai có nguồn gốc từ tự nhiên, cùng với vòng quay của
bánh xe thời gian thì con người xuất hiện và tác động vào đất đai, cải tạo đất đai và
biến đất đai từ sản phẩm của tự nhiên lại mang trong mình sức lao động của con
người, tức cũng là sản phẩm của của xã hội.
Đất đai là điều kiện vật chất cần thiết cho sự tồn tại của bất kỳ ngành sản
xuất nào. Đất cần cho nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải…vv, nhưng
trong mỗi ngành, đất có vai trò không giống nhau. Trong các ngành công nghiệp
chế tạo, đất chỉ đóng vai trò thụ động là cơ sở không gian, là nền tảng, là vị trí để
thực hiện quá trình sản xuất. Ở đây, quá trình sản xuất và hình thành sản phẩm

các thế hệ mai sau.
1.2. Hiệu quả sử dụng đất
1.2.1. Khái quát về hiệu quả
Khái niệm: Hiệu quả là một phạm trù khoa học phản ánh quan hệ so sánh
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8

giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó trong một thời kỳ nhất định.
Phân loại hiệu quả: Các nhà kinh tế thường phân loại hiệu quả theo các
tiêu
thức sau đây:
Theo lĩnh vực hoạt động của xã hội, hiệu quả bao gồm: hiệu quả kinh tế,
hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả xã hội, hiệu quả quốc phòng.
Theo phạm vi lợi ích, hiệu quả bao gồm hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh
tế
xã hội.
Theo mức độ phát sinh, hiệu quả bao gồm: hiệu quả trực tiếp và hiệu quả
gián tiếp
Theo cách tính toán, hiệu quả bao gồm: hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương
đối. Hiệu quả tuyệt đối được tính bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí. Hiệu quả
tương đối được tính bằng tỷ số giữa kết quả và chi phí.
Hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp đã được nhiều học giả nghiên cứu, nổi
bật nhất là Theodore W. Schultz (1964), Rizzo (1979) và Ellis (1993). Các học
giả này đều cho rằng cần phân biệt 3 khái niệm cơ bản về hiệu quả là: hiệu quả kỹ
thuật (technical efficiency), hiệu quả phân bổ (allocative efficiency) và hiệu quả
kinh tế (economic efficiency)(Bùi Nữ Hoàng Anh,2013).
-Hiệu quả kỹ thuật (TE): là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên một
đơn vị đầu vào hay nguồn lực sử dụng vào sản xuất trong những điều kiện cụ thể
về kỹ thuật hay công nghệ áp dụng vào nông nghiệp. Hiệu quả kỹ thuật được áp
dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn lực cụ

kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị
đều được tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu
đạt được một trong hai hiệu quả, hoặc là hiệu quả kỹ thuật, hoặc là hiệu quả phân
bổ thì mới chỉ thỏa mãn điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho hiệu quả
kinh tế. Chỉ khi nào việc sử dụng nguồn lực đạt cả chỉ tiêu về hiệu quả kỹ thuật và
hiệu quả phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt được hiệu quả kinh tế. Như vậy,
để đạt được hiệu quả kinh tế trong sử dụng đất nông nghiệp cũng cần phải đạt
được cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ.
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện pháp
tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi thế, khắc
phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những hoàn cảnh cụ
thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế quốc dân, gắn
sản xuất trong nước với thị trường quốc tế.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10

Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng, vấn đề đánh giá hiệu quả sử dụng
đất không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem
xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả
môi trường (Khổng Ngọc Thuận, 2009).
Sơ đồ 1.2 Mối quan hệ HQKT, HQXH và HQMT

Page 11

vấn đề rất quan trọng không những cho phép chúng ta biết được kết quả đầu tư mà
còn giúp chúng ta xem xét trước khi ra quyết định có nên tiếp tục đầu tư hay
không và nên đầu tư bao nhiêu, đến mức độ nào. Trên phương diện này, quan
điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ. Thứ hai, quan điểm truyền thống
không tính yếu tố thời gian khi tính toán thu và chi cho một hoạt động sản xuất
kinh doanh. Do đó, thu và chi trong tính toán hiệu quả kinh tế là chưa đầy đủ và
chính xác. Thứ ba, hiệu quả kinh tế chỉ bao gồm hai phạm trù cơ bản là thu và
chi. Hai phạm trù này chủ yếu liên quan đến yếu tố tài chính đơn thuần như chi phí
về vốn, lao động, thu về sản phẩm và giá cả. Trong khi đó, các hoạt động đầu tư và
phát triển lại có những tác động không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà còn trên cả
các phương diện khác nữa. Bên cạnh đó, có những phần thu lợi hoặc những khoản
chi phí mà lúc đầu khó hoặc không lượng hoá được nhưng lại đáng kể thì lại không
được phản ánh ở cách tính theo quan điểm truyền thống này (Hoàng Hùng, 2001).
Quan điểm hiện đại
Các nhà kinh tế đã đưa ra quan niệm hiện đại về hiệu quả kinh tế nhằm
khắc phục những hạn chế của quan điểm truyền thống. Theo quan điểm hiện đại,
khi tính hiệu quả kinh tế phải căn cứ vào tổ hợp các yếu tố. Cụ thể là:
-

Trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Về mối quan
hệ

này,
cần phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các
nguồn lực và hiệu quả kinh tế. Hiệu quả kỹ thuật là số sản phẩm (O) thu thêm trên
một đơn vị đầu vào (I) đầu tư thêm. Tỷ số ∂O/∂I được gọi là sản phẩm biên. Hiệu
quả phân bổ nguồn lực là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư
thêm. Thực chất nó là hiệu quả kỹ thuật có tính đến các yếu tố giá đầu vào và giá

-

Xác định các yếu tố đầu vào: đó là chi phí trung gian, chi phí sản xuất,
chi

phí
lao động và dịch vụ, chi phí vốn đầu tư và đất đai, v.v
-

Xác định các yếu tố đầu ra (mục tiêu đạt được): trước hết hiệu quả kinh
tế


các mục tiêu đạt được của từng hộ gia đình, từng cơ sở sản xuất phải phù hợp
với mục tiêu chung của nền kinh tế quốc dân, hàng hóa sản xuất ra phải trao đổi
được trên thị trường, các kết quả đạt được là: khối lượng sản phẩm, giá trị sản
xuất, giá trị gia tăng, lợi nhuận, v.v
Bản chất hiệu quả kinh tế, về mặt định lượng là xem xét, so sánh kết quả thu
được và chi phí bỏ ra, người ta chỉ thu được hiệu quả kinh tế khi kết quả thu được lớn
hơn chi phí bỏ ra, chênh lệch này càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại.
Về mặt định tính, mức độ hiệu quả kinh tế cao là phản ánh nỗ lực của từng khâu, của
mỗi cấp trong hệ thống sản xuất phản ánh trình độ năng lực quản lý sản xuất kinh
doanh. Sự gắn bó của việc giải quyết những yêu cầu và mục tiêu kinh tế với những yêu
cầu và mục tiêu chính trị xã hội. Hai mặt định tính và định lượng là cặp phạm trù của
hiệu quả kinh tế có quan hệ mật thiết với nhau (Phạm Ngọc Dũng, 2007).
Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là hiệu quả phản ánh mối quan hệ lợi ích giữa con người với
con người , có tác động tới mục tiêu kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ
tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu
dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hưởng xấu đến tương lai, nó gắn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14

chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh
thái. Cụ thể là : loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn
chặn sự thoái hóa đất bảo vệ môi trường sinh thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt
ngưỡng an toàn sinh thái (35%), đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (Đỗ
Thị Tám, 2001).
Hiệu quả môi trường được thể hiện qua hiệu quả hóa học môi trường, hiệu
quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường (Đỗ Nguyên Hải, 1999).
Hiệu quả hóa học môi trường được đánh giá thông qua mức độ hóa học trong
nông nghiệp. Đó là việc sử dụng phân bón và chất bảo vệ thực vật trong quá trình
sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi
trường
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa
cây trồng với đất, với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm
thiểu sử dụng hóa chất trong nông nghiệp nhưng vẫn đạt được mục tiêu đề ra
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện qua việc lợi dụng tốt nhất tài
nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa…của các kiểu sử dụng đất để đạt
được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
Sự thay đổi hệ thống, cơ cấu cây trồng phù hợp là nhân tố quan trọng để bảo
vệ môi trường đất nông nghiệp. Lựa chọn hệ thống và cơ cấu cây trồng tối ưu giúp
giảm thiểu lượng chất hóa học phải sử dụng trên đất, hạn chế các loại dịch hại cũng
như tiết kiệm chi phí đầu vào sản xuất. Việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào canh tác
giúp tăng tối đa hiệu quả sản xuất, mang lại lợi nhuận cao cho người dân mà vẫn
đảm bảo vấn đề môi trường.
Sử dụng đất hợp lí, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu
quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh tế thì không

- Thực hiện phân bổ sử dụng đất hợp lý cho các mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội của đất nước.
1.3. Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững, hiệu quả
1.3.1. Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Suy thoái đất nông nghiệp đang là xu thế phổ biến đối với nhiều vùng rộng
lớn ở nước ta, nhất là vùng đồi núi, nơi tập trung hơn 3/4 quỹ đất. Các dạng thoái
hóa đất chủ yếu là: Xói mòn, rửa trôi, đất có độ phì nhiêu thấp và mất cân bằng dinh
dưỡng, đất chua hóa, mặn hóa, phèn hóa, bạc màu, khô hạn và sa mạc hóa. Trên
50% diện tích đất (3,2 triệu ha) ở vùng đồng bằng và trên 60% diện tích đất (13
triệu ha) ở vùng đồi núi có những vấn đề liên quan đến suy thoái đất. Ở đồng bằng,
thách thức về môi trường đất là nạn ngập úng, lũ, phèn hóa, mặn hóa, xói mòn và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16

sạt lở bờ sông, bờ biển, ô nhiễm đất, vắt kiệt độ phì của đất để thu được lợi ích ngắn
hạn. Ở vùng miền núi, suy thoái môi trường đất do phương thức canh tác nương rẫy
còn thô sơ, lạc hậu của đồng bào các dân tộc; tình trạng chặt phá, đốt rừng bừa bãi.
Suy thoái môi trường đất kéo theo sự suy thoái các quần thể động thực vật và chiều
hướng giảm diện tích đất nông nghiệp trên đầu người đến mức báo động (Lê Thái
Bạt, 1995).
Theo tài liệu của FAO (1993), trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện
tích đất bị suy thoái vì lý do tác động con người, trong đó suy thoái vì xói mòn do
nước chiếm khoảng 55,7%, do gió 28%, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện
tích. Ở Trung Quốc, diện tích đất bị suy thoái là 280 triệu ha chiếm 30% lãnh thổ,
trong đó có 36,67% triệu ha đất đồi bị xói mòn nặng, 6,67 triệu ha bị chua mặn, 4
triệu ha đất bị úng, lầy. Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương có khoảng 860 triệu ha
đất đã bị hoang mạc hóa làm ảnh hưởng đến đời sống của 150 triệu người.
Theo kết quả điều tra của FAO (1993), do chế độ canh tác không tốt đã gây
xói mòn đất nghiêm trọng dẫn đến suy thoái đất, đặc biệt ở vùng nhiệt đới và vùng
đất dốc. Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu úc, Châu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status