PHỤ LỤC MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2
4. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2
5. CẤU TRÚC LUẬN VĂN 3
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa 4
1.1.1. Khái niệm về đất nông nghiệp, nông nghiệp đô thị sinh thái 4
1.1.2 Đặc điểm nông nghiệp khu vực đô thị hóa 6
1.1.3 Nông nghiệp đô thị sinh thái và nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp theo hướng
nông nghiệp đô thị sinh thái 8
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng đất theo hƣớng nông
nghiệp đô thị sinh thái 12
1.2.1. Sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái nói
chung 12
1.2.2. Sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị theo hướng phát triển nông nghiệp đô
thị sinh thái – kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và thực tiễn ở nước ta
14
1.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đô thị sinh thái 21
1.3.1 Các tiêu chí kinh tế đánh giá hiệu quả sử dụng đất 21
1.3.2 Các tiêu chí xã hội đánh giá hiệu quả sử dụng đất 22
1.3.3 Các tiêu chí về môi trường trong đánh giá hiệu quả sử dụng đất 22
CHƢƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP HUYỆN THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 24
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 24
3.2.2 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu đến 2020 74
3.3 Đề xuất định hƣớng sử dụng đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu theo
hƣớng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái đến 2020 75
3.4 Đề xuất các giải pháp để phát triển nông nghiệp đô thị theo hƣớng nông
nghiệp đô thị sinh thái 85
DANH MỤC BẢNG, BIỂU, HÌNH
Bảng 2. 1:Giá trị, cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm (theo giá hiện hành) 28
Bảng 2. 2:Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Thanh Oai qua một số năm 29
Bảng 2. 3: Giá trị sản xuất và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp 30
Bảng 2. 4: Thống kê diện tích một số cây trồng chính 31
Bảng 2. 5: Tình hình phát triển ngành công nghiệp - xây dựng 32
Bảng 2. 6: Hiện trạng diện tích, dân số, mật độ dân số huyện Thanh Oai 35
Bảng 2. 7: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 huyện Thanh Oai- Tp Hà Nội 43
Bảng 2. 8: Biến động diện tích đất nông nghiệp 2005-2013 44
Bảng 2. 9: Tổng hợp các loại hình sử dụng đất, kiểu sử dụng đất phổ biến 46
Bảng 2. 10: Năng suất một số cây trồng, vật nuôi chính năm 2010 50
Bảng 2. 11: Hiệu quả kinh tế một số cây trồng, vật nuôi chính các huyện Thanh Oai, Hà Nội 50
Bảng 2. 12: Hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất chính huyện Thanh Oai, Hà Nội 52
Bảng 2. 13: Hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất chính huyện Thanh Oai, Hà Nội 53
Bảng 2. 14: Tổng hợp mức độ bón phân của một số cây trồng chính 57
Bảng 2. 15: Tình hình sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cho một số cây trồng 58
Bảng 2. 16: Tiêu chí kinh tế - xã hội - môi trƣờng 60
Bảng 2. 17: Xác định các chỉ tiêu phân cấp và thang điểm đánh giá sử dụng đất bền vững 63
Bảng 2. 18: Kết quả đánh giá tính bền vững về kinh tế và thang điểm đối với các LUT 66
Bảng 2. 19: Kết quả đánh giá bền vững về xã hội và thang điểm đối với các LUT 67
trong huyện chủ yếu sinh sống bằng việc sản xuất nông nghiệp. Năm 2010, giá trị sản
xuất nông nghiệp của huyện là 508,5 tỷ đồng, đạt 59,3 triệu đồng/ha/năm. Nhờ các
chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp nhƣ đầu tƣ giống mới, xây dựng các
mô hình trình diễn, hỗ trợ vốn vay chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nên giá trị
sản xuất nông nghiệp của khu vực năm 2013 tăng lên 571 tỷ đồng, đạt 67,9 triệu
đồng/ha/năm, tăng 8,6 triệu đồng/ha so với năm 2010.
Theo quy hoạch phát triển không gian của thành phố đến 2030 khu vực huyện
Thanh Oai của Hà Nội sẽ phát triển theo hƣớng đô thị sinh thái, trong đó đất nông
nghiệp cần đƣợc sử dụng có hiệu quả cao gắn với bảo vệ môi trƣờng. Vì vậy cần có
những nghiên cứu cụ thể về thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đƣa ra
định hƣớng, giải pháp cho sử dụng bền vững đất nông nghiệp khu vực nghiên cứu.
2
Xuất phát từ những vấn đề trên, học viên chọn đề tài “Đánh giá hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp và đề xuất một số giải pháp phát triển nông nghiệp đô thị sinh
thái ở huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội”.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Làm rõ thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và đánh giá hiệu quả kinh tế, xã
hội, môi trƣờng của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp chính tại huyện Thanh Oai,
Hà Nội.
- Đề xuất một số định hƣớng, giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo
hƣớng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái tại khu vực nghiên cứu đến 2020.
3. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Tìm hiểu, nghiên cứu tổng quan về cơ sở lý luận sử dụng bền vững đất nông
nghiệp khu vực đô thị, lý luận về nông nghiệp đô thị sinh thái.
- Điều tra, thu thập tài liệu, số liệu, bản đồ có liên quan đến địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích hiện trạng sử dụng đất của huyện Thanh Oai, Hà Nội năm 2013 và
biến động sử dụng đất nông nghiệp của huyện giai đoạn 2005 – 2013.
- Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp (hiệu quả kinh tế, xã hội, môi
Chƣơng 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Chƣơng 2: Đánh giá hiện trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp huyện
Thanh Oai, thành phố Hà Nội
Chƣơng 3: Đề xuất định hướng, giải pháp sử dụng bền vững đất nông nghiệp
khu vực nghiên cứu theo hướng phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái.
Kết luận
Cuối cùng là tài liệu tham khảo, phần phụ lục.
4
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận về sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị hóa
1.1.1. Khái niệm về đất nông nghiệp, nông nghiệp đô thị sinh thái
Khái niệm về Đất:
Đất theo nghĩa thổ nhƣỡng là vật thể thiên nhiên có cấu tạo độc lập lâu đời,
hình thành do kết quả của nhiều yếu tố: đá mẹ, động thực vật, khí hậu, địa hình,
thời gian. Giá trị tài nguyên đất đƣợc đánh giá bằng số lƣợng diện tích (ha, km
2
)
và độ phì nhiêu, màu mỡ.
Đất đai đƣợc nhìn nhận là một nhân tố sinh thái, với khái niệm này đất đai
bao gồm tất cả các thuộc tính sinh học và tự nhiên của bề mặt trái đất có ảnh
hƣởng nhất định đến tiềm năng và hiện trạng sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai
bao gồm: yếu tố khí hậu, địa hình, địa mạo, tính chất thổ nhƣỡng, thủy văn, thảm
thực vật tự nhiên, động vật và những biết đổi của đất do các hoạt động của con
ngƣời.
Về mặt đời sống – xã hội, đất đai là nguồn tài nguyên quốc gia vô cùng quý
giá, là tƣ liệu sản xuất không gì thay thế đƣợc của ngành sản xuất nông nghiệp,
lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trƣờng sống, là địa bàn
sinh vật tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp. Chính sự phù hợp đó làm cho cây trồng vật
nuôi phát huy mọi ƣu thế và tác động lẫn nhau để tồn tại và phát triển, đó là một nền
nông nghiệp sinh thái. Nhiều học giả cho rằng nông nghiệp sinh thái cũng chính là
nông nghiệp bền vững, một nền nông nghiệp sinh thái hay bền vững đều mang lại hiệu
quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Nhƣng ngƣợc lại, một nền sản xuất nông nghiệp mang
lại hiệu quả kinh tế cao, chƣa chắc đã là một nền nông nghiệp sinh thái và bền vững
nếu nhƣ nó không có tác động đến bảo vệ môi trƣờng sinh thái.
“ Nông nghiệp đô thị: nông nghiệp đô thị là một ngành công nghiệp mà sản
xuất, chế biến và buôn bán thực phẩm và chất đốt thực hiện trên các vùng đất và mặt
nƣớc xen kẽ, rải rác trong các đô thị và vùng ngoại ô” (UNDP). Nông nghiệp đô thị nói
một cách đơn giản bao gồm toàn bộ hoạt động sản xuất nông nghiệp từ sản xuất
nguyên liệu, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp nằm xen kẽ trong đô thị và các
vùng ven đô. Khái niệm này có thể gói gọn trong phạm vi lãnh thổ và phi lãnh thổ của
một đô thị.
Sản xuất nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy
sản) diễn ra trong các quận gọi là nông nghiệp nội đô, diễn ra ở ngoại thành thì gọi là
nông nghiệp ngoại đô. Điều này dẫn đến đặc điểm sự khác biệt giữa nông nghiệp nội
đô, nông nghiệp giáp ranh, nông nghiệp ngoại đô hay ngoại thành.
6
Nông nghiêp đô thị sẽ đƣợc phân chia theo các vành đại khác nhau do tính chất
và đặc thù của nó. Có thể phân chia theo khu vực dƣới đây:
+ Nông nghiệp nội đô.
+ Nông nghiệp vùng vành đai nhạy cảm.
+ Nông nghiệp ngoại đô (ngoại thành).
Do đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội và môi trƣờng của mỗi vùng khác nhau,
cho nên sản xuất nông nghiệp ở mỗi vùng cũng khác nhau, chính điều đó hình thành
tính đa dạng của nông nghiệp đô thị. Kế thừa các công trình nghiên cứu của học giả Lê
Quý Đôn nêu ra khái niệm nông nghiệp đô thị sinh thái nhƣ sau: “ Nông nghiệp đô thị
đang diễn ra, đó là diện tích đất sản xuất nông nghiệp ở vùng ven đô ngày càng giảm
để dành quỹ đất xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị mới.
Nông nghiệp khu vực đô thị hóa góp phần giảm chi phí đóng gói, lƣu trữ và vận
chuyển sản phẩm để cung ứng cho khu vực đô thị hóa và khu vực nội thành. Sản xuất
nông nghiệp đáp ứng một phần quan trọng nhu cầu về lƣơng thực, rau quả và các loại
sản phẩm nông nghiệp khác một cách trực tiếp cho dân cƣ tại khu vực đô thị hóa thay
vì phải vận chuyển từ nơi khác đến. Các chi phí đóng gói, lƣu trữ và vận chuyển nông
sản phẩm nhờ đó giảm chi phí đáng kể, tạo điều kiện tiết kiệm trong tiêu dùng ở khu
vực đô thị hóa.
Sản phẩm nông nghiệp khu vực đô thị hóa khi cung cấp cho khu vực nội đô sẽ
chênh lệch khá nhiều so với bán ngay tại khu vực trồng vì sẽ chịu nhiều loại phí tăng
thêm nhƣ phí vận chuyển, công sức lao động, và tiền lãi tăng thêm do bán trong khu
vực đô thị. Ngƣợc lại, khi bán tại khu vực nuôi trồng, giá cả sẽ đƣợc giảm đi đáng kể
do sản phẩm không gánh nhiều loại chi phí tăng thêm. Nhờ vậy, ngƣời nghèo có nhiều
cơ hội để có thể sử dụng các sản phẩm nông nghiệp khu vực đô thị hóa.
Nông nghiệp khu vực đô thị hóa có khả năng cung ứng các sản phẩm tƣơi sống
cho khu vực ven đô và đô thị. Khoảng cách từ khu vực nội đô với khu vực đô thị hóa
không lớn nên ngƣời dân đô thị có khả năng tiếp cận với nguồn thực phẩm tƣơi sống,
an toàn, góp phần to lớn vào việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cƣ đô thị. Trong
quá trình đó, do việc phải vận chuyển mà không đóng gói làm cho sản phẩm dễ bị ảnh
hƣởng, hƣ hỏng. Ngƣời tiêu thụ sản phẩm nên xem xét kỹ trƣớc khi sử dụng sản phẩm.
Trồng trọt và chăn nuôi trong khu vực đô thị hóa ảnh hƣởng lớn tới môi trƣờng
và sức khỏe của con ngƣời do các quá trình thực hiện không đúng quy trình, kỹ thuật
và không đảm bảo an toàn về các tiêu chuẩn nuôi trồng. Quá trình tích trữ thuốc bảo vệ
thực vật tăng dần qua mỗi năm trên cùng đơn vị diện tích làm nồng độ chất hóa học
gây ảnh hƣởng tới môi trƣờng, nguy hại tới sức khỏe con ngƣời. Trong chăn nuôi, phân
và nƣớc thải của gia súc, gia cầm, thủy sản gây ô nhiễm không khí và môi trƣờng sống
dân cƣ khu vực đô thị hóa.
8
trọng sản phẩm ăn uống nhƣ lƣơng thực, thực phẩm, nhƣng nông nghiệp sinh thái với
mục tiêu duy trì sự phát triển bền vững của hệ thống lại nhấn mạnh cả cảnh quan môi
trƣờng tƣơi đẹp và không khí trong lành. Tất cả các sản phẩm này phải đảm bảo sạch,
9
trong đó các sản phẩm ăn uống phải an toàn, không bị nhiễm độc tố, phải có đầy đủ
hàm lƣợng các chất dinh dƣỡng, vitamin và khoáng chất cần thiết cho sự phát triển thể
lực của ocn ngƣời. Sản phẩm phi ăn uống bao gồm môi trƣờng tự nhiên hài hòa, trong
sạch, những khu vui chơi giải trí trong lành, tƣơi đẹp để đáp ứng nhu cầu tinh thần cho
con ngƣời (Đào Thế Tuấn 2003). Khu vực vành đai xanh quanh thành phố hay đô thi
sinh thái có nhiều khu vƣờn sinh thái, hồ câu sinh thái… nên có nhiều tiềm năng phát
triển du lịch sinh thái, thỏa mãn nhu cầu nghỉ ngơi của dân cƣ đô thị sau một tuần làm
việc mệt mỏi. Đồng thời, khu vực này tạo ra hệ thống hồ và cây xanh nhằm điều hòa
khí hậu và bảo vệ các nguồn lực sản xuất.
Công nghệ sản xuất của nông nghiệp sinh thái là sự thống nhất giữa kinh
nghiệm truyền thống với công nghệ hiện đại: để bảo vệ môi trƣờng trong khi vẫn đảm
bảo an ninh lƣơng thực, nông nghiệp sinh thái có xu hƣớng giảm sử dụng các yếu tố
hóa học, tăng cƣờng áp dụng công nghệ cao, công nghệ sạch, công nghệ sinh học kết
hợp với kinh nghiệm truyền thống, tái tạo nguồn lực. Công nghệ sinh học (sự lai ghép,
nuôi cấy mô tế bào, công nghệ gen) ngày nay đƣợc coi là động lực của sự phát triển.
Các giống mới sẽ cho phép cây trồng, vật nuôi tự chống chịu sâu bệnh, từ đó loại trừ
việc sử dụng các hóa chất. Công nghệ sử dụng phân hữu cơ (phân chuồng, phân xanh),
phân vi sinh, các loại cây họ đậu hay kỹ thuật trồng cây che phủ đất, chống xói mòn
vẫn đang là những phƣơng pháp thích hợp trên thế giới (chiếm 5 – 10% diện tích đất
canh tác của châu Âu) (Đào Thế Tuấn 2003). Nhƣ vậy, nông nghiệp đô thị sinh thái sử
dụng những hạn chế về quỹ đất eo hẹp để phát triển chăn nuôi và trồng trọt theo hƣớng
tự nhiên, giảm tối thiểu sự tác động từ con ngƣời về sử dụng các loại hóa chất giúp
tăng trƣởng nhanh. Áp dụng các công nghệ sinh học, nhằm thay tăng cƣờng khả năng
thích nghi của cây trồng, vật nuôi…với điều kiện khu vực và phát triển tốt trong những
nay.
b. Nhu cầu sử dụng đất nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị sinh thái
- Nhu cầu nông nghiệp đô thị sinh thái góp phần cung ứng nguồn lƣơng thực,
thực phẩm sạch, sản phẩm chất lƣợng cao cho các đô thị.
Quy mô dân số đô thị không ngừng gia tăng trong quá trình đô thị hóa. Chính vì
điều đó cũng đồng thời đẩy các hộ dân nghèo ở ven đô thị, ngoại đô vào tình thế mất tƣ
liệu sản xuất. Trong điều kiện này, khái niệm nghèo đói không chỉ dành riêng cho các
khu vực miền núi, vùng sâu vùng xa mà có mặt ngay tại các vùng ven đô thị, đây là
vấn đề chung, khách quan trong tiến trình đô thị hóa. Để đảm bảo chất lƣợng cuộc sống
của ngƣời dân trong đô thị về lƣơng thực, thực phẩm thì phát triển đất nông nghiệp
theo hƣớng nông nghiệp đô thị sinh thái là một giải pháp có chiều sâu khắc phục đƣợc
nhiều hạn chế về khu vực đô thị hóa nhƣ hiện nay. Nếu nông nghiệp đô thị sinh thái
11
đƣợc quy hoạch hợp lý, có thể tạo ra nguồn lƣơng thực, thực phẩm sạch và an toàn đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cƣ đô thị.
- Nông nghiệp đô thị sinh thái tạo việc làm và thu nhập cho một bộ phân dân cƣ
khu vực ven đô thị (Trần Trọng Phƣơng 2012).
Trong tiến trình đô thị hóa, vì các mục tiêu chung của các đô thị mà vấn đề thu
hẹp diện tích đất nông nghiệp của nông dân ven đô thị diễn ra phổ biến. Ngƣời dân mất
tự liệu sản xuất, buộc phải chuyển đổi nghề nghiệp trong điều kiện không có trình độ,
vốn hạn chế, kinh nghiệm thích ứng với lối sống và tác phong công nghiệp rất thấp. Vì
vậy vấn đề việc làm cho ngƣời lao động, nhất là những gia đình ven đô thị càng trở nên
cấp thiết. Những ngƣời đàn ông có thể làm các nghề tạm để kiếm sống nhƣng trong gia
đình phụ nữ, ngƣời già và trẻ em sẽ khó tìm đƣợc một công việc phù hợp. Bên cạnh đó,
làn sóng di chuyển dân cƣ từ nông thôn về thành thị để tìm kiếm việc làm cũng gia
tăng nhanh chóng. Trong vấn đề này với việc quan tâm, phát triển nông nghiệp đô thi
sinh thái theo quy hoạch, chiến lƣợc phù hợp sẽ tận dụng đƣợc những lao động không
có trình độ, không đủ sức khỏe và những ngƣời chƣa tìm kiếm đƣợc công việc phù
các tiêu chuẩn tốt cho sức khỏe cộng đồng. Đối với mục tiêu này trong tiến trình đô thị
hóa và phát triển của các đô thị, phát triển nông nghiệp đô thị sinh thái thực sự là một
giải pháp hiệu quả nhất. Ngoài các ý nghĩa nhƣ trên, nông nghiệp đô thị sinh thái sẽ tạo
ra hệ thống cảnh quan, các vành đai xanh rất ý nghĩa cho các đô thị. Sản xuất nông
nghiệp đô thị sinh thái một mặt vừa đảm bảo các nhu cầu về dinh dƣỡng, mặt khác nó
cũng chính là một hình thức lao động, giải trí góp phần nâng cao thể lực, trí lực cho cƣ
dân đô thị (Trần Trọng Phƣơng 2012).
1.2. Tổng quan các công trình nghiên cứu về sử dụng đất theo hƣớng nông
nghiệp đô thị sinh thái
1.2.1. Sử dụng bền vững đất nông nghiệp theo hƣớng nông nghiệp đô thị sinh thái
nói chung
Là một hệ sinh thái, một phần do con ngƣời tạo ra nhằm mục đích phục vục con
ngƣời, hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động mạnh mẽ nhất từ chính con
ngƣời. Các tác động của con ngƣời, nhiều khi, đã làm cho hệ sinh thái biến đổi vƣợt
quá khả năng tự điều chỉnh của đất. Con ngƣời đã không chỉ tác động vào đất đai mà
còn tác động cả vào khí quyển, nguồn nƣớc để tạo ra một lƣợng lƣơng thực, thực phẩm
ngày càng nhiều trong khi các hoạt động cải tạo đất chƣa đƣợc quan tâm đúng mức và
hậu quả là đất đai cũng nhƣ nhân tố tự nhiên khác bị thay đổi theo chiều hƣớng ngày
một xấu đi. Ngày nay, nhiều vùng đất đai màu mỡ đã bị thoái hóa nghiêm trọng, kéo
theo sự xói mòn đất và suy giảm nguồn nƣớc đi kèm với hạn hán, lũ lụt, …Vì vậy, để
đảm bảo cho cuộc sống của con ngƣời trong hiện tại và tƣơng lai cần phải có những
chiến lƣợc về sử dụng đất để không những duy trì những khả năng hiện có của đất mà
13
còn khôi phục những khả năng đã mất. Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” ra đời trên
cơ sở của những mong muốn trên (Bùi Nữ Hoàng Anh 2013).
Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là
mong muốn của con ngƣời trong mọi thời đại. Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc
tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng của thế
dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều cần
quan tâm trƣớc nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài. Sản phẩm thu đƣợc cần thỏa
mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của ngƣời nông dân.
Nội lực và nguồn lực địa phƣơng phải đƣợc phát huy. Hệ thống sử dụng đất phải
đƣợc tổ chức trên đất mà nông dân có quyển hƣởng thụ lâu dài, đất đã đƣợc giao và
rừng đã đƣợc khoán với lợi ích các bên cụ thể. Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp
với nền văn hóa dân tộc và tập quán địa phƣơng, nếu ngƣợc lại sẽ không đƣợc cộng
đồng ủng hộ.
- Bền vững về mặt môi trƣờng: loại hình sử dụng đất bảo vệ đƣợc độ màu mỡ của
đất, ngăn chặn sự thoái hóa đất và bảo vệ môi trƣờng sinh thái. Giữ đất đƣợc thể hiện
bằng giảm thiểu lƣợng đất mất hàng năm dƣới mức cho phép.
+ Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững.
+ Độ che phủ tối thiểu phạt đạt ngƣỡng an toàn sinh thái (>35%)
+ Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài.
Ba yêu cầu bền vững trên là tiêu chuẩn để xem xét là đánh giá các loại hình sử
dụng đất hiện tại. Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho
việc định hƣớng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái (Bùi Nữ Hoàng Anh 2013).
1.2.2. Sử dụng đất nông nghiệp khu vực đô thị theo hướng phát triển nông nghiệp
đô thị sinh thái – kinh nghiệm của một số nước trên thế giới và thực tiễn ở nước ta
1.2.2.1. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
a. Thái Lan
Thái Lan là nƣớc phát triển mạnh mẽ về nông nghiệp, cách đây 40 năm Thái
Lan có xuất phát điểm tƣơng đối thấp, chỉ gần bằng hoặc thấp hơn miền Nam Việt
Nam. Những năm quá, kinh tế nông nghiệp Thái Lan phát triển mạnh. Tốc độ tăng
trƣởng GDP nông nghiệp tăng bình quân hàng năm là 3,1%/ năm. (Đào Thế Tuấn
2003).
Sự phát triển bùng nổ của kinh tế Thái Lan trong các thập kỷ 70 và 80 đƣợc thể
hiện rõ nét qua quá trình đô thị hóa và phát triển nông nghiệp ven đô thị ở Bangkok.
Quá trình đô thị hóa đã làm dân số Bangkok tăng lên 41% (Đào Thế Tuấn 2003). Các
hoạt động công nghiệp và dịch vụ phát triển mạnh và tập trung ở vùng bangkok và
thu mua nên tình trạng ô nhiễm môi trƣờng xảy ra. Trƣớc thực tế này, Chính phủ Thái
Lan đã thực hiện một chƣơng trình có tên gọi: “Quản lý các trang trại chăn nuôi”, trong
đó trập trung vào giải quyết các vấn đề về môi trƣờng nhƣ xử lý chất thải để sản xuất
biogas và phân bón. Trong chƣơng trình này, Chính phủ rất quan tâm đến trợ giúp tài
chính, kỹ thuật cũng nhƣ sự hỗ trợ về thể chế nhằm đảm bảo mức thu nhập tối thiểu
cho những hộ nông dân tham gia chƣơng trình này.
16
Nhƣ vậy sản xuất nông nghiệp Thái Lan nói chung và thủ đô Bangkok nói riêng
đã đạt đƣợc đƣợc những thành quả to lớn không chỉ về tốc độ tăng trƣởng sản xuất
nông nghiệp mà còn về chất lƣợng sản phẩm và mức độ đáp ứng nhu cầu của ngƣời
dân cả về vật chất lẫn cảnh quan môi trƣờng. Thành công của Thái Lan là đã giải quyết
tốt quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hƣớng xuất khẩu, kết hợp
với thúc đẩy, đa dạng hóa sản phẩm, nhằm giải quyết những vấn đề của nông nghiệp
ven đô thị. Các yếu tố quan trong nhất góp phần đạt đƣợc các kết quả trên là sự phát
triển của cơ sở hạ tầng, sự tiếp cận dễ dàng về tín dụng đối với các hộ nông dân, chính
sách khuyến nông cho phép dễ dàng tiếp cận các tiến bộ kỹ thuật mới và chính sách
phát triển quan hệ cộng đồng giữa các công ty chế biến và nông dân nhằm tạo đầu ra
cho nông sản. Vai trò của Nhà Nƣớc cũng rất quan trọng trong việc xây dựng và thực
hiện chính sánh quy hoạch đất đai, điều tiết giá cả, giải quyết các vấn đề môi trƣờng và
tƣ vấn tạo khung pháp lý cho phát triển nông nghiệp (Đào Thế Tuấn 2003), (Martin L
Van Brakel and Emesto J Mrales 2001).
b. Trung Quốc
Trung Quốc là nƣớc có sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp mạnh mẽ gắn
liền với cải cách kinh tế. Trung Quốc thực hiện các chính sách cải cách trong nông
nghiệp nhƣ chính sách khoán hộ, tách quyển sở hữu ruộng đất với quyển kinh doanh,
xóa bỏ chế độ nhà nƣớc độc quyển thu mua nông sản, thực hiện chính sách hai giá,
khuyến khích các doanh nghiệp tăng sản lƣợng bán ra thị trƣờng, cải cách chế độ thuế
chia sẻ thu nhập giữa trung ƣơng và địa phƣơng, cải cách pháp lý để tạo điều kiện cho
nhƣ lƣu vực sông Changjang, Pearl và Yangtze. Nông dân tận dụng trồng cỏ trên
những mảnh đất nhỏ, ven chân đê, ven hệ thống kênh mƣơng và sử dụng nguồn nƣớc
sẵn có từ ao, hồ, mƣơng.
c. Mỹ
Là một siêu cƣờng quốc trên thế giới về phát triển kinh tế nhƣng Mỹ đang gặp
phải những vấn đề của đô thị hóa. Khoảng 100 năm trƣớc có 50% dân số Mỹ còn sống
ở các trang trại nông thôn nhỏ và sử dụng thức ăn tự sản xuất tại địa phƣơng. Hiện nay,
dân số đô thị ở Mỹ chiếm khoảng 80%. Khi dân số đô thị tăng lên cùng với quá trình
đô thị hóa, sản xuất nông nghiệp gặp phải những thách thức của an ninh lƣơng thực,
chi phí môi trƣờng và sức khỏe cộng đồng. An ninh lƣơng thực đòi hỏi phải thỏa mãn
đầy đủ kịp thời về số lƣợng lƣơng thực, có chất lƣợng và thành phần dinh dƣỡng cho
nhu cầu của 80% dân số đô thị. Chi phí môi trƣờng bao gồm chi phí của ô nhiễm không
khí, nhiễm độc nguồn nƣớc ngầm và nƣớc bề mặt, xói mòn đất đai, suy giảm đa dạng
sinh học đã ảnh hƣởng lớn đến sức khỏe cộng động. Một trong các vấn đề nông nghiệp
Mỹ phải giải quyến là đảm bảo cung cấp đủ lƣơng thực để giải quyết nạn đói cho
12,4% dân số vào năm 2020 (Harison. J and P. Grant 1976).
18
Nông nghiệp sinh thái đô thị ở Mỹ có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết
vấn đề an ninh lƣơng thực và môi trƣờng. Chính phủ Mỹ rất quan tâm việc khuyến
khích tận dụng các nguồn lực để phát triển nông nghiệp đô thị, nhƣ tận dụng diện tích
đất trống để phát triển sản xuất rau, quả trong từng hộ gia đình, thậm chí sử dụng đất ở
các sân sau trƣờng học, bệnh viện hoặc công viên quốc gia. Theo số liệu của Ủy ban
Nông nghiệp đô thị Bắc Mỹ năm 2003, dự án “vƣờn cho ngƣời nghèo” ở Santa Cruz,
California đã đóng góp 55% sản lƣợng các sản phẩm nông nghiệp đô thị và quản lý
thành công chƣơng trình sản xuất hoa tƣời bằng phƣơng pháp hữu cơ. Chất thải đô thị
đƣợc tái sinh thành phân bón cho các vƣờn đô thị, vùng ven đô và thức ăn cho chăn
nuôi. Các vƣờn cây ăn quả và hệ thống cây xanh tạo thành vành đai xanh điều hòa khí
hậu cho thành phố. Các sản phẩm chính đƣợc sản xuất ở đô thị và ven đô thị các thành
động nghiên cứu khoa học và giáo dục nhận thức về nông nghiệp đô thị, coi nó nhƣ
một bộ phận quan trọng của kế hoạch phát triển đô vùng đô thị.
1.2.2.2 Những kinh nghiệm rút ra từ quá trình phát triển nông nghiệp theo hƣớng
nông nghiệp đô thị sinh thái của một số nƣớc (Lê Quý Đôn 2005)
- Hầu hết thủ đô và thành phố lớn của các nƣớc nông nghiệp cũng nhƣ các nƣớc
đang phát triển đều hình thành các vùng vành đai phát triển nông nghiệp nằm xen kẽ
hoặc tạo thành vành đai bao quanh vùng đô thị, các vùng này phần lớn bị chia cắt, quy
mô nhỏ, sản xuất ra các sản phẩm tự nuôi mình và cung cấp cho thị trƣờng đô thị. Hình
thành vành đại nông nghiệp, vành đai môi trƣờng sinh thái cho đô thị vùng.
- Vùng nông nghiệp nội đô, hay ngoại vi đều bị ảnh hƣởng ô nhiễm môi trƣờng:
nƣớc, đất, không khí và rác thải từ vùng đô thị. Điều này gây không ít khó khăn cho
vùng nông nghiệp. Áp lực rất lớn đặt ra cho vùng nông nghiệp đô thị là vừa phải tiến
hành sản xuất, vừa phải tạo ra hệ sinh thái và môi trƣờng cảnh quan cho đô thị.
- Các nƣớc công nghiệp đều đầu tƣ rất lớn cho sản xuất nông nghiệp và đặc biệt
quan tâm đầu tƣ cho nông nghiệp ngoại thành nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất nông
nghiệp, phát triển nông thôn, khăc phục hậu quả về môi trƣờng vũng chính là làm cho
các đô thị phát triển bền vững hơn.
- Định hƣớng cho vùng nông nghiệp ở đô thị cũng có ý tƣởng rõ ràng.
Đối với vùng đô thị: Diện tích đất nông nghiệp vẫn dùng trồng hoa, cây cảnh,
cây ăn quả và nuôi trồng thủy sản, nhƣng không chỉ để lấy sản phẩm tiêu dùng mà còn
để tạo cảnh quan, môi trƣờng sinh thái cho đô thị.
Đối với vùng ngoại ô sát đô thị: tiến hành sản xuất nông nghiệp sạch, dựa vào tự
nhiên, tạo ra sản phẩm chất lƣợng cao nhƣng không yêu cầu phải có năng suất cao vì
Nhà nƣớc sẽ trợ giá để tồn tại. Mục đích của việc này là nhằm tạo ra một vùng đệm về
cảnh quan sinh thái cho khu đô thị.
20
Đối với vùng ngoại ô xa, hoặc các tỉnh lân cận: tiến hành sản xuất nông nghiệp
quy mô lớn để đáp ứng các yêu cầu của đô thị về nông sản và môi trƣờng.
Ngày 13/11/2010, Khoa Sinh - Môi trƣờng, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Đà Nẵng
(Đại học Đà Nẵng) đã phối hợp với Công ty Tầm nhìn Sinh thái tổ chức Hội thảo
“Nông nghiệp sinh thái đô thị - giải pháp của tƣơng lai”.
Tại Hội thảo, các nhà khoa học đã đƣa ra các giải pháp cho nông nghiệp sinh
thái đô thị nhƣ: “Kỹ thuật thủy canh tĩnh - ƣu điểm và sự thích hợp với các hộ gia đình
nội thành thành phố Đà Nẵng” của Thạc sĩ Đỗ Thị Trƣờng; “Thủy canh hồi lƣu & Khí
canh - giải pháp của nền nông nghiệp sinh thái đô thị” của Tiến sĩ Võ Văn Minh; “Cây
xanh trong kiến trúc đô thị hiện đại” của Thạc sĩ Nguyễn Văn Khánh; “Cây cảnh thủy
canh - sự lựa chọn của các hộ gia đình, phòng khách và trƣờng học thân thiện”; “Nuôi
cấy mô tế bào thực vật - giải pháp cung ứng giống cho nền nông nghiệp sinh thái đô
thị” của Kỹ sƣ Trần Quang Dần,…
Đây là một trong những kỹ thuật sản xuất nông nghiệp mới do các nhà khoa học
nghiên cứu trong nhiều năm qua để giải quyết những bức xúc của ngành nông nghiệp
bị thu hẹp do tốc độ đô thị hóa quá nhanh. Ngoài ra, nông nghiệp đô thị không chỉ là
nguồn tạo nên GDP (giá trị kinh tế thuần tuý) mà còn tạo ra nhiều giá trị khác: sinh
thái, môi trƣờng, giáo dục, nghỉ dƣỡng, tận dụng thời gian rỗi
Sự kết hợp giữa nông nghiệp với du lịch, nghỉ dƣỡng (còn gọi là loại hình nông
nghiệp du lịch và nông nghiệp nghỉ dƣỡng) cũng là một hƣớng phát triển đang đƣợc sử
dụng, tuy nhiên vẫn mang tính cá thể tại các khu vực ven đô.
Theo thực tiễn cho thấy, sản xuất nông nghiệp theo hƣớng nông nghiệp sinh thái
ở nƣớc ta cũng đã có những bƣớc đi đầu tiên, phù hợp với điều kiện tự nhiên – xã hội
của một số vùng trong cả nƣớc. Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi nông nghiệp đô thị
sinh thái trên các đô thị ở Việt Nam thì vẫn còn nhiều hạn chế do chƣa nhận đƣợc sự
quan tâm từ các hộ nông dân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và các cơ quan quản lý
chuyên ngành. Hơn nữa, quá trình tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp sạch, sản phẩm
chất lƣợng cao cũng gặp phải nhiều vấn đề do chƣa có sự thống nhất quản lý giá các
loại sản phẩm sạch và các sản phẩm nông nghiệp truyền thống.
1.3 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp đô thị sinh thái
1.3.1 Các tiêu chí kinh tế đánh giá hiệu quả sử dụng đất
áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất.
Để nghiên cứu hiệu quả về mặt xã hội của quá trình sử dụng đất nông nghiệp
thông qua các loại hình sử dụng đất, cần nghiên cứu và so sánh mức độ đầu tƣ lao dộng
và hiệu quả kinh tế bình quân trên một công lao động của mỗi kiểu sử dụng đất trên
mỗi vùng đặc trƣng.
1.3.3 Các tiêu chí về môi trường trong đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Đánh giá mức độ ảnh hƣởng của việc sử dụng đất và hệ thống cây trồng hiện tại
tới môi trƣờng là một vấn đề lớn, đòi hỏi phải có số liệu phân tích các mẫu đất, nƣớc và