BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN ĐĂNG BÌNH
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP
VÀ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT TRIỂN
THEO HƯỚNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP VEN ĐÔ
Ở HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Chuyên ngành: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
Mã số: 60.85.01.03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. HOÀNG XUÂN PHƯƠNG
HÀ NỘI – 2014
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page i
LỜI CAM ĐOAN
thầy cô giáo trong Khoa Quản lý đất đai. Nhân dịp này cho phép tôi được
bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới TS. Hoàng Xuân Phương và
những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo trong Khoa Quản lý
đất đai - Học viện Nông nghiệp Việt Nam.
Tôi xin chân thành cảm ơn cán bộ UBND huyện, phòng nông
nghiệp, phòng Tài nguyên và Môi trường, phòng Thống kê, chính quyền
các xã trong huyện Hoài Đức đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá
trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình và các bạn đồng nghiệp động
viên, giúp đỡ trong quá trình thực hiện luận văn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Nguyễn Đăng Bình
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
3. Yêu cầu 2
2.2.3 Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp 32
2.2.4 Định hướng sử dụng đất nông nghiệp huyện Hoài Đức theo hướng
sản xuất nông nghiệp ven đô 34
2.3 . Phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 34
2.3.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin thứ cấp 34
2.3.3 Phương pháp điều tra thu thập thông tin sơ cấp 34
2.3.4 Phương pháp thống kê, xử lý số liệu 35
2.3.5 Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo 35
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 36
3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội huyện Hoài Đức – Thành phố Hà Nội 36
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 36
3.1.2. Các nguồn tài nguyên 38
3.1.3. Cảnh quan môi trường 39
3.1.4. Thực trạng phát triển kinh tế - xã hội 40
3.2. Thực trạng dân số, lao động 42
3.2.1. Dân số 42
3.2.2. Lao động và việc làm 43
3.3. Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Hoài Đức 43
3.3.1 Đất nông nghiệp 44
3.3.2. Đất phi nông nghiệp 46
3.3.3. Đất chưa sử dụng 47
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page v
3.3.4. Biến động về đất đai của huyện Hoài Đức trong những năm qua 47
3.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 49
3.4.1 Thuận lợi 49
3.4.2 Khó khăn 49
3.5 Đánh giá hiệu quả một số loại sử dụng đất nông nghiệp trên địa
động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 1 (tính trên 1 ha) 73
Bảng 3.12: Mức đầu tư lao động và thu nhâp bình quân trên ngày công lao
động của các kiểu sử dụng đất tiểu vùng 2 (tính trên 1 ha) 74
Bảng 3.13: Tổng hợp mức đầu tư lao động và thu nhâp bình quân trên ngày
công lao động của các loại hình sử dụng đất 76
Bảng 3.14: So sánh mức đầu tư phân bón thực tế tại địa phương với tiêu
chuẩn bón phân cân đối và hợp lý 78
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
STT TÊN BIỂU ĐỒ TRANG
Biểu đồ 3.1. Cơ cấu kinh tế các ngành huyện Hoài Đức năm 2013 41
Biểu đồ 3.2: Hiện trạng sử dụng đất năm 2013 44
Biểu đồ 3.3: Hiện trạng sử dụng đất theo đối tượng sử dụng đất năm 2013 44
Biểu đồ 3.4: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2013 45
Biểu đồ 3.5: Hiện trạng sử dụng đất phi nông nghiệp năm 2013 47
Biểu đồ 3.6: So sánh các LUT của hai tiểu vùng trong huyện 71
DANH MỤC HÌNH
STT TÊN HÌNH TRANG
Hình 3.1: Đất trồng cây hàng năm ở xã Song Phương 46
Hình 3.2: Ảnh LUT chuyên lúa xã Đức Thượng 59
Hình 3.3: Cánh đồng ngô trong LUT lúa - màu 60
Hình 3.4: LUT chuyên rau màu tại xã Song Phương 60
Hình 3.5: LUT chuyên trồng cây ăn quả tại xã Đắc sở 61
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
quả cao về kinh tế đồng thời tạo ra tính đột phá cho phát triển nông nghiệp của từng địa
phương cũng như cả nước.
Hoài Đức nằm cách trung tâm Hà Nội 16 km về phía Tây, có diện tích là
82,4 km
2
, dân số là 190.612 người. Sau khi Hoài Đức sát nhập vào Hà Nội, tốc độ
đô thị hóa diễn ra ngày càng nhanh, nhu cầu quỹ đất để thực hiện công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, đô thị hoá đã gây áp lực lớn lên nguồn tài nguyên đất đai. Đặc biệt là
đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ bị giảm mạnh về số lượng và chất lượng.
Vì vậy, việc sử dụng đất đai ở ngoại thành một cách hiệu quả, bền vững đang là vấn
đề mang tính cấp thiết cao.
Từ thực tế trên, cho thấy việc đánh giá và đưa ra hướng sử dụng đất hợp lý,
hiệu quả nhằm phát triển nông nghiệp ven đô cho huyện Hoài Đức là rất cần thiết.
Trên cơ sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp và đề xuất các giải pháp nhằm phát triển theo hướng sản xuất
nông nghiệp ven đô ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội”.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
2. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả của một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu trên địa
bàn huyện Hoài Đức. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển theo hướng sản xuất
nông nghiệp ven đô ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
3. Yêu cầu
+ Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp với những chỉ tiêu phù hợp với
điều kiện cụ thể của huyện Hoài Đức.
sử dụng đất. Đất theo nghĩa đất đai bao gồm: khí hậu, dáng đất, địa hình địa mạo,
thổ nhưỡng, thuỷ văn, thảm thực vật tự nhiên bao gồm cả rừng, cỏ dại trên đồng
ruộng, động vật tự nhiên, những biến đổi của đất do các hoạt động của con người
(Đào Châu Thu, Nguyễn Khang, 1998).
Theo Luật đất đai mới nhất của Việt Nam năm 2003 đã phân đất đai thành 3
loại sau: Đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Trong đó đất
nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất
lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
Hiện nay tổng diện tích đất trên thế giới 14.777 triệu ha, với 1.527 triệu ha
đất đóng băng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng. Trong đó, 12% tổng diện tích
là đất canh tác, 24% là đồng cỏ, 32% là đất rừng và 32% là đất cư trú, đầm lầy.
Diện tích đất có khả năng canh tác là 3.200 triệu ha, hiện mới khai thác hơn 1.500
triệu ha. Tỷ lệ đất có khả năng canh tác ở các nước phát triển là 70% tổng diện tích
đất tự nhiên; ở các nước đang phát triển là 36% tổng diện tích đất tự nhiên. Trong
đó, những loại đất tốt, thích hợp cho sản xuất nông nghiệp như đất phù sa, đất đen,
đất nâu chỉ chiếm 12,6%; những loại đất quá xấu như đất vùng tuyết, băng, hoang
mạc, đất núi, đất cao nguyên chiếm đến 40,5%; còn lại là các loại đất không phù
hợp với việc trồng trọt như đất dốc, tầng đất mỏng (Vũ Năng Dũng, 2009).
Với diện tích đất có thể canh tác ấy của thế giới so với nhu cầu ngày càng tăng về
lương thực thực phẩm của con người thì chưa đủ. Dựa vào báo cáo của World Bank
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
trong năm 1995, hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực, thực phẩm
vẫn thiếu hụt từ 150 – 200 triệu tấn (Sam fusiska, 1996). Hơn nữa theo nguồn tin từ hai
tổ chức OCED và FAO, thì tiêu dùng lương thực tính theo đầu người sẽ tăng trong vòng
10 năm tới nhờ việc tăng thu nhập và giao thương phát triển.
Đất đai có vị trí cố định trong không gian và có chất lượng không đồng nhất
giữa các vùng, miền. Mỗi vùng đất luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ
nhưỡng, khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao động,
; Malaysia 2700 m
2
; Philipin 1300 m
2
; Thái Lan
4200 m
2
; Việt Nam 1000 m
2
(Ngô Thế Dân, 2001).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
1.1.3 Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
Hiện tượng suy thoái đất có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi
trường. Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và
tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng. Trong điều
kiện hầu hết đất canh tác đều bị nghèo về độ phì, để tăng vụ và năng suất cây trồng
đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử
dụng phân bón.
Báo cáo của Viện Tài nguyên thế giới (ESCAP/FAO/UNIDO, 1993), cho
thấy gần 20% diện tích đất đai châu Á bị suy thoái do những hoạt động của con
người. Trong đó hoạt động sản xuất nông nghiệp là một nguyên nhân không nhỏ
làm suy thoái đất. Quá trình thâm canh tăng vụ trong nông nghiệp đã làm phá huỷ
cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng.
Dự án điều tra, đánh giá tốc độ thoái hoá đất ở một số nước vùng nhiệt đới châu
Á cho phát triển nông nghiệp bền vững trong chương trình môi trường của Trung tâm
Đông Tây và khối các trường đại học Đông Nam Châu Á đã tập trung nghiên cứu
những thay đổi dinh dưỡng trong hệ sinh thái nông nghiệp. Kết quả nghiên cứu đã chỉ
tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha.
Hiện nay những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được
phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện
đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên. Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng
một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên,
buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng sử dụng tài
nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng
không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây
dựng và phát triển nông nghiệp bền vững và đó cũng là lối đi trong tương lai.
1.1.4 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp
1.1.4.1 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
Mỗi quốc gia có một quỹ đất khác nhau, và quỹ đất này có hạn do vậy khi sử
dụng đất phải đảm bảo tính hiệu quả, bền vững và phải tuân thủ các nguyên tắc nhất
định. Tại điều 11 Luật Đất đai 2003 có 3 nguyên tắc phải đảm bảo khi sử dụng đất:
(1) Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; (2) Tiết
kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng
của người sử dụng đất xung quanh; (3) Người sử dụng đất thực hiện các quyền,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật này và các
quy định khác của pháp luật có liên quan.
Đối với đất nông nghiệp ngoài 3 nguyên tắc trên khi sử dụng đất cần thêm
nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý, hiệu quả và bền vững”, và phải có các quan điểm đúng
đắn theo xu hướng tiến bộ, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, của từng địa
phương để làm cơ sở cho việc sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả về cả mặt kinh
tế, xã hội, môi trường.
Sở dĩ, chúng ta cần sử dụng đất nông nghiệp một cách “đầy đủ, hợp lý, hiệu
quả và bền vững” vì lý do sau:
- Nó sẽ làm tăng nhanh khối lượng nông sản trên 1 đơn vị diện tích, xây
- Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp gắn liền với chuyển dịch cơ
cấu sử dụng đất và quá trình tập trung ruộng đất nhằm giải phóng bớt lao động sang
các hoạt động phi nông nghiệp khác (Vũ Năng Dũng, 2009).
1.2 Hiệu quả và xu hướng sử dụng đất nông nghiệp ven đô
1.2.1 Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.1.1 Khái quát về hiệu quả
Hiệu quả là một thuật ngữ mà con người thường dùng để chỉ mục tiêu cho
mọi hành động có chủ đích. Và sau này trong ngôn ngữ học phát triển, cụm từ “hiệu
quả” được hiểu như một phạm trù triết học. Quan niệm khá “nguyên thuỷ” của một
nhà kinh tế học người Mỹ, Piter F. Drucker, giáo sư về quản lý tại New York
University, cho rằng: xét cho cùng mang lại hiệu quả “effect” là cái mà mỗi người
khi làm bổn phận của mình, dù trong môi trường nào đều mong đợi công việc được
hoàn tất đúng. Thật vậy, trước kia khi nhận thức còn hạn chế, người ta thường quan
niệm kết quả và hiệu quả là một. Về sau xã hội càng văn minh, nhận thức của con
người phát triển lên thì dần đi đến sự phân biệt kết quả và hiệu quả.
Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Trước đây, người ta thường
quan niệm kết quả chính là hiệu quả. Sau này, người ta nhận thấy rõ sự khác nhau
giữa hiệu quả và kết quả. Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như
yêu cầu của công việc mang lại.
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi
hướng tới, nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là
hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao
động nói chung, hiệu quả là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 9
gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm
được sản xuất ra trong một đơn vị thời gia (Bách khoa toàn thư Việt Nam).
1.2.1.2 Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Từ những khái niệm chung về hiệu quả, ta xem xét trong lĩnh vực sử dụng
đánh giá hiệu quả sử dụng đất cũng có nhiều quan điểm khác nhau:
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo các
ngành sản xuất khác nhau. Theo nhà kinh tế Samuel – Nordhuas thì “Hiệu quả là
không lãng phí”. Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau, Rusteruyer,
Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một
đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất
trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã hội (Đỗ Thị Tám, 2001).
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản
xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau. Vì thế, hiệu
quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề:
- Một là mọi hoạt động của con người đều phải quan tâm và tuân theo quy
luật “tiết kiệm thời gian”;
- Hai là hiệu quả kinh tế phải được xem xét trên quan điểm của lý thuyết
hệ thống;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các lợi
ích của con người.
Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt
được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là
phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của nguồn
lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối
cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó.
Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: bản chất của phạm trù kinh tế sử
dụng đất là “với một diện tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật
chất nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu
cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội” (Đỗ Thị Tám, 2001).
* Hiệu quả xã hội
Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất bên cạnh việc đánh giá hiệu quả kinh tế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại nhằm giảm thiểu việc sử dụng
hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dụng tốt nhất tài
nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt
được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
1.2.2 Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
1.2.2.1 Đặc điểm
Nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là rất cần thiết, có thể xem xét ở
các mặt (Đỗ Thị Tám, 2001):
+ Quá trình sản xuất trên đất nông nghiệp phải sử dụng nhiều yếu tố đầu vào
kinh tế. Vì thế, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước tiên phải được
xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể (thường là 1 ha),
tính trên 1 đồng chi phí, trên 1 công lao động.
+ Trên đất nông nghiệp có thể bố trí các cây trồng, các hệ thống luân canh, do
đó cần phải đánh giá hiệu quả từng loại cây trồng, từng công thức luân canh.
+ Thâm canh là biện pháp sử dụng đất nông nghiệp theo chiều sâu, tác động
đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước mắt và lâu dài. Vì thế, cần phải nghiên
cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu ảnh hưởng của
việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất.
+ Phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết làm
cho môi trường cùng phát triển. Do đó, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp cần quan tâm đến những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi
trường xung quanh.
+ Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc. Vì vậy, khi
đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những tác động của
sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội khác như: giải quyết việc làm, tăng thu
nhập, nâng cao trình độ dân trí nông thôn…
- H: Hiệu quả
- K: Kết quả
- C: Chi phí
- 1, 0 là chỉ số về thời gian (năm)
* Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).
+ Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất thường
xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử
dụng trong quá trình sản xuất.
+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung
gian, là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.
GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG,
GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử dụng
các chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ,
GTGT/LĐ. Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng
đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao động.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội được phân tích bởi các chỉ tiêu sau (Hội khoa học đất,
2000):
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
nghiệp, mở rộng giao dịch, phát triển lối sống và văn hóa đô thị. Bên cạnh những
mặt tích cực mà đô thị hóa đã mang lại thì nó cũng để lại nhiều mặt bất cập, đang
phát sinh những vấn đề bức xúc liên quan đến nông nghiệp, nông thôn.
Hàng chục vạn ha “đất cấu tượng”, đất “bờ xôi, ruộng mật” – bao đời nay là
tư liệu sản xuất quan trọng và quý giá nhất của người nông dân, nền tảng bảo đảm
an ninh lương thực quốc gia – đã bị sử dụng phí phạm, tác động mạnh đến công ăn
việc làm, thu nhập và đời sống của hàng vạn chục hộ gia đình nông thôn với hàng
triệu lao động nông nghiệp (Phùng Hữu Phú, 2008).
Quy mô thành phố ngày càng lớn, dân số ngày càng đông, mật độ dân số ngày
càng cao và trình độ kinh tế – văn hóa ngày càng phát triển một mặt làm cho đất đai
nông nghiệp ven đô bị thu hẹp nhiều, môi trường bị ô nhiễm trầm trọng, hiệu ứng về
cuộc sống tù túng trong 4 bức tường bê tông cốt thép tăng lên (Phạm Văn Khôi, 2004).
Nông nghiệp ven đô thường có các đặc điểm sau:
- Nông nghiệp ven đô có sự gia tăng mạnh về dân số, đặc biệt là sự gia tăng
cơ học. Dân số ven đô luôn được bổ xung bởi sự di cư từ nội thành ra và từ các nơi
khác đến. Kết quả là tồn tại một xã hội nông thôn ven đô đa dạng cả về dân số và
nghề nghiệp….Rất nhiều người sống ở nông thôn ven đô bị tách biệt giữa nơi ở và
nơi làm việc, các hoạt động phi nông nghiệp cạnh tranh về lao động khá lớn với
nông nghiệp và nó thu hút đặc biệt là lực lượng lao động trẻ. Cơ sở hạ tầng nông
thôn khá tốt, nhưng đôi khi không gian nông thôn bị chia cắt, gây khó khăn cho sinh
hoạt và lao động của người dân.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 16
- Tình trạng sản xuất nông nghiệp không ổn định do ngày càng có sự mở rộng các
vành đai đô thị ra bên ngoài. Tốc độ đô thị hóa, khả năng quy hoạch đô thị, chính sách và
khả năng kiểm soát sự phát triển đô thị ảnh hưởng mạnh đến tính ổn định của nông
nghiệp ven đô. Đất đai nông nghiệp có xu thế giảm mạnh. Nông nghiệp ảnh hưởng nhiều
của sự ô nhiễm đô thị. Các thành phố càng phát triển càng tồn tại nhiều các hộ nông dân
sản xuất quy mô nhỏ, do đất đai ngày một đắt và bị mất đất vì đô thị hóa.