đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện sơn dương tỉnh tuyên quang - Pdf 20



1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
 PHẠM VIẾT XUYÊN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP VÀ ĐỀ XUẤT HƢỚNG SỬ DỤNG
HỢP LÝ TẠI HUYỆN SƠN DƢƠNG –
TỈNH TUYÊN QUANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP


nông nghiệp và đề xuất hướng sử dụng hợp lý tại huyện Sơn Dương - tỉnh
Tuyên Quang" Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn3

2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá đƣợc thực trạng sử dụng đất nông nghiệp làm căn cứ đề xuất loại
hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện tự nhiên, xã hội của địa phƣơng nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng đất trên địa bàn huyện Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang.
3. Yêu cầu của đề tài
- Đề tài nghiên cứu trên cơ sở các thông tin số liệu, tài liệu điều tra phải
trung thực, chính xác đảm bảo độ tin cậy, phản ánh đúng thực trạng sử dụng
đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích, xử lý số liệu khoa học, định lƣợng bằng các phƣơng pháp
nghiên cứu phù hợp và cập nhật.
- Các đề xuất phải có ý nghĩa thực tiễn và có tính khả thi cao.
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo
cho các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền của huyện Sơn Dƣơng trong việc
quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp. Các khuyến cáo về loại hình sử dụng đất sẽ
cung cấp cho nông dân lựa chọn hợp lý để chuyển đổi cơ cấu sản xuất đạt hiệu
quả cao.


Theo quan niệm của các nhà thổ nhƣỡng và quy hoạch Việt Nam cho
rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc đƣợc”
[4] và đất đai đƣợc hiểu theo nghĩa rộng: “Đất đai là một diện tích cụ thể của
bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các yếu tố cấu thành của môi trƣờng sinh thái
ngay trên và dƣới bề mặt bao gồm: khí hậu, thời tiết, thổ nhƣỡng, địa hình,
mặt nƣớc, các lớp trầm tích sát bề mặt cùng với nƣớc ngầm và khoáng sản
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn5
trong lũng đất, động thực vật, trạng thái định cƣ của con ngƣời, những kết quả
của con ngƣời trong quá khứ và hiện tại để lại” [4].
Với ý nghĩa đó, đất nông nghiệp là đất đƣợc sử dụng chủ yếu vào sản
xuất của các ngành nông nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản
hoặc sử dụng vào mục đích nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Khi nói đất
nông nghiệp ngƣời ta nói đất sử dụng chủ yếu vào sản xuất của các ngành nông
nghiệp, bởi vì thực tế có trƣờng hợp đất đai đƣợc sử dụng vào mục đích khác
nhau của các ngành. Trong trƣờng hợp đó, đất đai đƣợc sử dụng chủ yếu cho
hoạt động sản xuất nông nghiệp mới đƣợc coi là đất nông nghiệp, nếu không sẽ
là các loại đất khác (tùy theo việc sử dụng vào mục đích nào là chính).
Luật đất đai năm 2003 nêu rõ: “Đất nông nghiệp là đất sử dụng vào
mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp và
nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng, bao gồm
đất sản xuất nông nghiệp, đất sản xuất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản,
đất làm muối và đất nông nghiệp khác”.
1.1.1.2 Vai trò đất nông nghiệp
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia, đóng vai trò quyết
định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời, nó là cơ sở tự nhiên, là tiền
đề cho mọi quá trình sản xuất nhƣng vai trò của đất đối với mỗi ngành sản
xuất có tầm quan trọng khác nhau. C.Mác đã nhấn mạnh “Lao động chỉ là cha

cho công tác này thực sự có hiệu quả.
- Đất đai có vị trí cố định và chất lƣợng không đồng đều giữa các
vùng, các miền [38]. Mỗi vùng đất luôn gắn với các điều kiện tự nhiên (thổ
nhƣỡng, thời tiết, khí hậu, nƣớc,…) điều kiện kinh tế - xã hội (dân số, lao
động, giao thông, thị trƣờng,…) và có chất lƣợng đất khác nhau. Do vậy,
việc sử dụng đất đai phải gắn liền với việc xác định cơ cấu cây trồng, vật
nuôi cho phù hợp để nhằm đem lại hiệu quả kinh tế cao trên cơ sở nắm chắc
điều kiện của từng vùng lãnh thổ.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn7
- Đất đai đƣợc coi là một loại tài sản, ngƣời chủ sử dụng có quyền nhất
định do pháp luật của mỗi nƣớc qui định: tạo thuận lợi cho việc tập trung, tích
tụ và chuyển hƣớng sử dụng đất từ đó phát huy đƣợc hiệu quả nếu biết sử
dụng đầy đủ và hợp lý.
Nhƣ vậy, đất đai là yếu tố hết sức quan trọng và tích cực của quá trình
sản xuất nông nghiệp. Thực tế cho thấy thông qua quá trình phát triển của xã
hội loài ngƣời, sự hình thành và phát triển của mọi nền văn minh vật chất -
văn minh tinh thần, các thành tựu vật chất, văn hoá khoa học đều đƣợc xây
dựng trên nền tảng cơ bản đó là đất và sử dụng đất, đặc biệt là đất nông lâm
nghiệp. Vì vậy, sử dụng đất hợp lý, có hiệu quả là một trong những điều kiện
quan trọng nhất cho nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững.
1.1.1.3 Nguyên tắc sử dụng đất nông nghiệp
- Đất nông nghiệp phải đƣợc sử dụng đầy đủ, hợp lý. Điều này có
nghĩa là toàn bộ diện tích đất cần đƣợc sử dụng hết vào sản xuất, với việc bố
trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp với đặc điểm của từng loại đất nhằm
nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi đồng thời gìn giữ bảo vệ và nâng cao
độ phì của đất.
- Đất nông nghiệp phải đƣợc sử dụng đạt hiệu quả cao. Đây là kết quả

để, không có biện pháp ổn định độ phì nhiêu của đất. Kết quả là, hàng loạt diện
tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới. Đất bị mất chất dinh dƣỡng, hữu
cơ do bị xói mòn, nhiễm mặn…Ƣớc tính có tới 15% tổng diện tích đất toàn cầu
bị thoái hoá do nhân tác [24]. Theo P.Buringh, diện tích đất có khả năng nông
nghiệp của thế giới khoảng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền), trong
đó, đất đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha . Nhƣ vậy, còn 54% đất có khả năng trồng
trọt chƣa đƣợc khai thác [32].
Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều. Tuy có diện tích
đất nông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhƣng Châu Á lại có tỷ lệ
diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp. Mặt khác,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn9
Châu Á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số
đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia. Ở Châu Á, đất đồi
núi chiếm 35% tổng diện tích. Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nƣớc trời nói
chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang đƣợc
trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của
Đông Nam Á. Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu
ha trƣớc đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhƣng đến nay do bị khai thác
khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại.
Đất canh tác của thế giới có hạn và đƣợc dự đoán là ngày càng tăng do
khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu
cầu về lƣơng thực thực phẩm cho loài ngƣời. Tuy nhiên, do dân số ngày một
tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu ngƣời ngày một giảm.
Đông Nam Á là một khu vực đặc biệt. Từ số liệu của UNDP năm 1995
[14] cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhƣng diện
tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu
ngƣời khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN.

(1000 ha)
Dân số
(1000
ngƣời)
Bình quân diện
tích đất sản xuât
nông nghiệp
m
2
/ngƣời
2000
12.644,3
10.540,3
77.635
1.628
2005
9.415,6
6.370,0
83.120
1.132
2006
9.436,2
6.348,2
84.156
1.121
2007
9.420,3
6.309,6
85.155
1.106

nguồn tài nguyên này có thể đƣợc khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì đƣợc sức
sản xuất của nó trong tƣơng lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính
hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3 lĩnh vực hiệu quả kinh
tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trƣờng trên quan điểm quản lý sử dụng đất
bền vững.
1.2.2 Những nhân tố chủ yếu ảnh hƣởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp
Việc xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến hiệu quả sử dụng đất là hết
sức cần thiết, nó giúp cho việc đƣa ra những đánh giá phù hợp với từng loại
vùng đất để trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử
dụng đất. Các nhân tố ảnh hƣởng có thể chia ra làm 3 nhóm sau đây:
* Điều kiện tự nhiên: Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố nhƣ đất
đai, khí hậu thời tiết, nƣớc, sinh vật có ảnh hƣởng trực tiếp tới sản xuất
nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trƣởng, phát triển và tạo sinh
khối. Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi
phù hợp và định hƣớng đầu tƣ thâm canh đúng.
- Đặc điểm lý, hoá tính của đất: trong sản xuất nông lâm nghịêp, thành
phần cơ giới, kết cấu đất, hàm lƣợng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất,
quyết định đến chất lƣợng đất và sử dụng đất. Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt
hay xấu, có ảnh hƣởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn12
- Nguồn nƣớc và chế độ nƣớc: là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều
kiện quan trọng để cây trồng vận chuyển chất dinh dƣỡng vừa là vật chất giúp
cho sinh vật sinh trƣởng và phát triển.
- Địa hình, độ dốc và thổ nhƣỡng: điều kiện địa hình, độ dốc và thổ
nhƣỡng là yếu tố quyết định lớn đến hiệu quả sản xuất, độ phì đất có ảnh
hƣởng đến sinh trƣởng phát triển và năng suất cây trồng vật nuôi.
- Vị trí địa lý: vị trí địa lý của từng vùng với sự khác biệt về điều kiện

trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng
đất nông nghiệp.
* Nhân tố kinh tế - xã hội: bao gồm rất nhiều nhân tố nhƣ chế độ xã
hội, dân số, cơ sở hạ tầng, môi trƣờng chính sách các yếu tố này có ý nghĩa
quyết định, chủ đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất. Sau đây là một
số nhân tố chủ yếu:
- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông lâm nghiệp. Trong các yếu tố cơ
sở hạ tầng phục vụ sản xuất thì yếu tố giao thông vận tải là quan trọng nhất,
nó góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng nhƣ dịch vụ những yếu
tố đầu vào cho sản xuất. Các yếu tố khác nhƣ thuỷ lợi, điện, thông tin liên lạc,
dịch vụ, nông nghiệp đều có sự ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu quả sử dụng.
Trong đó thuỷ lợi và điện là yếu tố không thể thiếu trong điều kiện sản xuất
hiện nay, giúp cho việc sử dụng đất theo bề rộng và bề sâu. Các yếu tố còn lại
cũng có hỗ trợ trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất.
- Thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm nông lâm sản: là cầu nối giữa ngƣời sản
xuất và tiêu dùng, ở đó ngƣời sản xuất thực hiện việc trao đổi hàng hoá, điều
này giúp cho họ thực hiện đƣợc tốt quá trình tái sản xuất tiếp theo.
- Trình độ kiến thức, khả năng và tập quán sản xuất của chủ sử dụng
đất thể hiện ở khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật, trình độ sản xuất, khả năng
về vốn lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất, kinh nghiệm truyền
thống trong sản xuất và cách xử lý thông tin để ra quyết định trong sản xuất.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn14
Do vậy, muốn nâng cao hiệu quả sử dụng đất thì việc nâng cao trình độ và cập
nhật thông tin khoa học, kỹ thuật là hết sức quan trọng.
- Hệ thống chính sách: Chính sách đất đai, chính sách điều chỉnh cơ cấu
kinh tế nông nghiệp nông thôn, chính sách đầu tƣ xây dựng cơ sở hạ tầng
phục vụ sản xuất, chính sách khuyến nông, chính sách hỗ trợ giá, chính sách

lƣợng vật chất tạo ra do mục đích của con ngƣời, đƣợc biểu hiện bằng những
chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất
đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con ngƣời mà ta phải xem xét
kết quả sử dụng đất đƣợc tạo ra nhƣ thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả
đó là bao nhiêu? Có đƣa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh
giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết
quả mà còn phải đánh giá chất lƣợng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm
đó. Đánh giá chất lƣợng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả.
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu
cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của
hầu hết các nƣớc trên thế giới [33]. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các
nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông
nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những ngƣời trực tiếp tham
gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp.
Căn cứ vào nhu cầu của thị trƣờng, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật
nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ƣu thế ở từng địa phƣơng, từ đó
nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh
tranh cao. Đó là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển
nền nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hoá vừa mang tính ổn định vừa
đảm bảo sự bền vững.
Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản
chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và
những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải đƣợc xem
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn16
xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trƣờng [25].
* Hiệu quả kinh tế:
Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là

tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh
bằng các chỉ tiêu mang tính định tính nhƣ tạo công ăn việc làm cho lao động,
xoá đói giảm nghèo, định canh, định cƣ, công bằng xã hội, nâng cao mức
sống của toàn dân
Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu đƣợc
xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp. Hiện
nay, việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp
là vấn đề đang đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm.
* Hiệu quả môi trƣờng
Hiệu quả môi trƣờng là một vấn đề mang tính toàn cầu, ngày nay đang
đƣợc chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả. Điều này
có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, mọi
giải pháp về quản lý đƣợc coi là có hiệu quả khi chúng không gây tổn hại
hay có những tác động xấu đến môi trƣờng đất, môi trƣờng nƣớc và môi
trƣờng không khí cũng nhƣ không làm ảnh hƣởng xấu đến môi sinh và đa
dạng sinh học. Có đƣợc điều đó mới đảm bảo cho một sự phát triển bền vững
của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia cũng nhƣ cả cộng đồng quốc tế.
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trƣờng là hiệu quả mang tính
lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà không làm ảnh hƣởng xấu đến tƣơng
lai, nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và
môi trƣờng sinh thái.
Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba
hiệu quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, không có hiệu quả kinh
tế thì không có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và môi trƣờng,
ngƣợc lại, không có hiệu quả xã hội và môi trƣờng thì hiệu quả kinh tế sẽ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn18
không bền vững .

có Việt Nam. Việc sử dụng đất bền vững là sử dụng đất với tất cả những đặc
trƣng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hƣởng đến khả năng sử dụng đất. Thuật
ngữ đất đai đƣợc đề cập đến ở đây gồm thổ nhƣỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ
văn, thực vật và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản lý đất đai.
Tổ chức Nông nghiệp và Lƣơng thực Liên hợp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ
“chất lƣợng đất đai” trong sử dụng đất bền vững bao gồm các nhân tố ảnh
hƣởng đến sự bền vững của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất
định, chất lƣợng đất đai có thể khác nhau trên nhiều phƣơng diện nhƣ khả
năng cung cấp nƣớc tƣới, khả năng cung cấp chất dinh dƣỡng cho mục đích
sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất tự nhiên và
phân bố địa hình ảnh hƣởng đến khả năng có giới hoá [30]. Để duy trì đƣợc
sự bền vững của đất đai, Smyth A.J và Julian Dumanski (1993) [34] đã xác
định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là:
- Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất;
- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất;
- Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự
thoái hoá chất lƣợng đất và nƣớc;
- Khả thi về mặt kinh tế;
- Đƣợc xã hội chấp nhận.
Nhƣ vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về
mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trƣờng, lợi ích kinh tế và xã hội. Năm
nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực
tiễn đạt đƣợc cả 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngƣợc lại sẽ
chỉ đạt đƣợc ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện. Tại Việt Nam,
theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998) [24], việc sử dụng
đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc trên và đƣợc thể hiện trong 3
yêu cầu sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

21
và là những mục tiêu cần phải đạt đƣợc, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với
các mục tiêu cần phải đạt đƣợc. Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà
không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận.
Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất đƣợc
xem là bền vững phải đạt 3 yêu cầu sau:
- Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, đƣợc thị
trƣờng chấp nhận.
Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức
bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai. Năng suất sinh học bao gồm các
sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả và tàn dƣ để
lại). Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không
sẽ không cạnh tranh đƣợc trong cơ chế thị trƣờng.
Về chất lƣợng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phƣơng,
trong nƣớc và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng.
Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thƣớc đo quan trọng nhất
của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất. Tổng giá trị trong một
giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dƣới mức đó
thì nguy cơ ngƣời sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tƣ phải lớn
hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng.
- Bền vững về mặt xã hội: thu hút đƣợc lao động, đảm bảo đời sống và
phát triển xã hội.
Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trƣớc, nếu muốn họ
quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trƣờng ). Sản phẩm thu đƣợc
cần thoả mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của ngƣời nông dân.
Nội lực và nguồn lực địa phƣơng phải đƣợc phát huy. Về đất đai, hệ
thống sử dụng đất phải đƣợc tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hƣởng
thụ lâu dài, đất đã đƣợc giao và rừng đã đƣợc khoán với lợi ích các bên cụ thể.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn23
trạng sử dụng đất của mỗi vùng với những phƣơng thức sản xuất và quản lý sản
xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và kỹ thuật đƣợc xác định [24].
* Nội dung chính của đáng giá các loại hình sử dụng đất.
- Lựa chọn và mô tả các loại hình sử dụng đất hiện tại;
- Đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại trên ba mặt:
+ Hiệu quả về kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và đƣợc thị
trƣờng chấp nhận;
+ Hiệu quả về môi trƣờng: Loại hình sử dụng đất bảo vệ đƣợc đất đai,
ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trƣờng tự nhiên;
+ Hiệu quả về xã hội: Thu hút đƣợc nhiều lao động, đảm bảo đời sống
ngƣời dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển.
- Lựa chọn các loại hình sử dụng đất có triển vọng: Lựa chọn các loại
hình sử dụng đất để có thể duy trì và phát triển trong tƣơng lai cần thoả mãn
các điều kiện về tự nhiên, kinh tế, xã hội và môi trƣờng. Nói chung nếu có
hiệu quả kinh tế cao thì phải đƣợc ngƣời dân chấp nhận và môi trƣờng đất,
nƣớc và không khí không bị suy giảm.
1.4 Những nghiên cứu về nâng cao hiệu quả sử dụng đất trên thế giới và
Việt Nam
1.4.1 Những nghiên cứu trên thế giới
Cho tới nay, trên thế giới đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu, đề ra
nhiều phƣơng pháp đánh giá để tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp theo hƣớng phát triển hàng hoá. Nhƣng tuỳ thuộc vào điều kiện,
trình độ và

phƣơng thức sử dụng đất ở mỗi nƣớc mà có sự đánh giá khác nhau.
Hàng năm các viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nƣớc trên thế giới đều

Canada tƣơng ứng là 5,7 tỉ USD (chiếm 39,1%), Otraylia 1,7 tỉ USD (chiếm
14,5%), Nhật Bản là 42,3 tỉ USD (chiếm 68,9%), Cộng đồng Châu Âu 67,2 tỉ
USD (chiếm 40,1%), Áo là 1,6 tỉ USD (chiếm 35,3%) [25].
Các nhà khoa học trên thế giới đều cho rằng: đối với các vùng nhiệt đới
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn25
có thể thực hiện các công thức luân canh cây trồng hàng năm, có thể chuyển
từ chế độ canh tác cũ sang chế độ canh tác mới tiến bộ hơn mang lại hiệu quả
cao hơn. Nghiên cứu bố trí luân canh các cây trồng hợp lý hơn bằng cách đƣa
các giống cây trồng mới vào hệ thống canh tác nhằm tăng sản lƣợng lƣơng
thực, thực phẩm/1đơn vị diện tích đất canh tác trong một năm. Ở Châu Á có
nhiều nƣớc cũng tìm ra giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất canh tác luân
phiên cây lúa với cây trồng cạn đã thu đƣợc hiệu quả cao hơn.
Trong những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nƣớc đã
gắn phƣơng thức sử dụng đất truyền thống với phƣơng thức hiện đại và
chuyển dịch theo hƣớng công nghiệp hoá nông nghiệp. Các nƣớc Châu Á
trong quá trình sử dụng đất canh tác đã rất chú trọng đẩy mạnh công tác thuỷ
lợi, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật về giống, phân bón, các công thức luân
canh tiến bộ để ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Nhƣng
để đạt đƣợc hiệu quả thì một phần phải nhờ vào công nghiệp chế biến, gắn sự
phát triển công nghiệp với bảo vệ môi sinh - môi trƣờng.
Xuất phát từ những vấn đề này, nhiều nƣớc trong khu vực đã có sự
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hƣớng kết hợp hiệu quả kinh tế, hiệu
quả xã hội với việc bảo vệ môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng sinh thái, tiến tới
xây dựng nền nông nghiệp sinh thái bền vững.
1.4.2 Những nghiên cứu trong nƣớc
Trong những năm qua, ở Việt Nam nhiều tác giả đã có những công trình
nghiên cứu về sử dụng đất, vì đây là một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status